Aricept Evess

Aricept Evess Dược lý

donepezil

Nhà sản xuất:

Eisai

Nhà phân phối:

DKSH
Thông tin kê toa chi tiết tiếng Việt
Dược lý
Các đặc tính dược lực học
Nhóm dược điều trị: Thuốc điều trị sa sút trí tuệ
Mã ATC: N06DA02
Donepezil hydrochloride là chất ức chế chuyên biệt và có hồi phục acetylcholinesterase là một cholinesterase chiếm ưu thế trong não. Trong thử nghiệm in vitro, donepezil hydrochloride ức chế enzyme này mạnh hơn 1.000 lần so với butyrylcholinesterase, một enzyme hiện diện chủ yếu bên ngoài hệ thần kinh trung ương.
Sa sút trí tuệ trong bệnh Alzheimer
Bệnh Alzheimer mức độ nhẹ đến trung bình: Ở những bệnh nhân bị chứng sa sút trí tuệ trong bệnh Alzheimer tham gia vào thử nghiệm sàng, việc dùng ARICEPT liều duy nhất mỗi ngày 5mg hoặc 10mg tạo ra sự ức chế hoạt tính men acetylcholinesterase ở trạng thái ổn định (đo ở màng hồng cầu) là 63,6% và 77,3% tương ứng khi được đo theo liều. Sự ức chế acetylcholinesterase (AChE) của donepezil hydrochloride ở tế bào hồng cầu có liên quan đến những thay đổi thang điểm ADAS-cog, một thang điểm nhạy để kiểm tra phương diện nhận thức có chọn lọc. Khả năng của donepezil hydrochloride trong việc làm thay đổi quá trình bệnh lý thần kinh tiềm ẩn chưa được nghiên cứu. Vì vậy ARICEPT không được xem là có bất kỳ tác động nào trên tiến triển của bệnh.
Hiệu quả của việc điều trị chứng sa sút trí tuệ trong bệnh Alzheimer bằng ARICEPT đã được nghiên cứu trong 4 thử nghiệm lâm sàng có kiểm chứng bằng giả dược, 2 thử nghiệm kéo dài 6 tháng và 2 thử nghiệm kéo dài 1 năm.
Trong thử nghiệm lâm sàng kéo dài 6 tháng, việc phân tích hiệu quả của việc điều trị bằng donepezil dựa trên sự kết hợp của 3 tiêu chuẩn: thang điểm ADAS-cog (đánh giá khả năng nhận thức), cảm tưởng dựa trên phỏng vấn lâm sàng của thầy thuốc về sự thay đổi với các dữ liệu của người chăm sóc (đánh giá toàn thể chức năng - CIBIC) và thang điểm đánh giá các hoạt động sống hàng ngày trong thang điểm đánh giá sa sút trí tuệ trên lâm sàng (đánh giá khả năng hòa nhập cộng đồng, gia đình, sở thích và chăm sóc cá nhân).
Những bệnh nhân đáp ứng tiêu chuẩn liệt kê dưới đây được xem là có đáp ứng điều trị.
Đáp ứng = Cải thiện thang điểm ADAS-cog ít nhất 4 điểm
                  Không xấu đi bảng đánh giá CIBIC+
                  Không xấu đi thang điểm đánh giá các hoạt động sống hàng ngày trong thang điểm đánh giá sự sa sút trí tuệ trên lâm sàng.

Image from Drug Label Content

ARICEPT đã tạo ra sự tăng đáng kể có ý nghĩa thống kê phụ thuộc vào liều với số phần trăm các bệnh nhân được đánh giá là đáp ứng điều trị.
Bệnh Alzheimer nặng: Hiệu quả của điều trị ARICEPT ở bệnh Alzheimer nặng đã được khảo sát ở 3 thử nghiệm có kiểm chứng bằng giả dược trong thời gian 6 tháng.
Trong mỗi thử nghiệm lâm sàng này, người ta tiến hành 1 phân tích để kết luận điều trị donepezil đưa đến cả 3 tiêu chuẩn hiệu quả: Suy giảm test chức năng nặng (SIB - đánh giá khả năng nhận thức trong cả 3 thử nghiệm), Cảm tưởng dựa trên phỏng vấn của thầy thuốc về sự thay đổi với các dữ liệu của người chăm sóc (CIBIC+ - đánh giá toàn thể chức năng trong 2 thử nghiệm) và Ấn tượng lâm sàng chung về thay đổi (CGI-I đánh giá toàn thể chức năng trong 1 thử nghiệm) và Nghiên cứu phối hợp bệnh Alzheimer có thay đổi - tóm tắt hoạt động sống hàng ngày ở bệnh Alzheimer nặng (ADCS-ADL-sev - đánh giá chức năng trong cả 3 thử nghiệm).
Những bệnh nhân đáp ứng các tiêu chuẩn liệt kê dưới đây được xem là đáp ứng điều trị.
Đáp ứng = Cải thiện thang điểm SIB ít nhất 4 điểm
                  Không xấu đi bảng đánh giá CIBIC+ hay CGI-I
                  Không xấu đi thang điểm ADCS-ADL-sev

Image from Drug Label Content

Sa sút trí tuệ do mạch máu: Hiệu quả của ARICEPT trong điều trị sa sút trí tuệ do mạch máu đã được nghiên cứu trong 3 thử nghiệm có kiểm chứng bằng giả dược kéo dài 6 tháng, trong đó tiêu chuẩn chẩn đoán sa sút trí tuệ do mạch theo nhóm NINDS-AIREN (Viện Quốc Gia về Rối Loạn Thần Kinh và Đột Quỵ - Hiệp Hội Quốc Tế phục vụ nghiên cứu và giảng dạy về Khoa Học Thần kinh) được dùng để xác định nhóm bệnh nhân nghiên cứu.
Một phân tích toàn thể dùng kết hợp cả 3 tiêu chuẩn đánh giá hiệu quả đã được tiến hành để kết luận về trị liệu donepezil.
Những bệnh nhân đáp ứng tiêu chuẩn liệt kê dưới đây được xem là có đáp ứng điều trị.
Đáp ứng = Cải thiện thang điểm ADAS-Cog ít nhất 4 điểm
                 
Cải thiện hoặc không xấu đi bảng đánh giá CIBIC và
                  Cải thiện hoặc không xấu đi thang điểm đánh giá sự sa sút trí tuệ trên lâm sàng về chức năng

Image from Drug Label Content

ARICEPT chứng tỏ tăng tỷ lệ đáng kể có ý nghĩa thống kê với số phần trăm các bệnh nhân được đánh giá là đáp ứng điều trị.
Các đặc tính dược động học - Các đặc điểm chung
Hấp thu: Nồng độ cao nhất trong huyết tương đạt được khoảng 3 đến 4 giờ sau khi uống. Nồng độ trong huyết tương và diện tích dưới đường cong tăng tỷ lệ với liều dùng. Thời gian bán hủy ở giai đoạn cuối khoảng 70 giờ, như vậy việc dùng liều duy nhất hàng ngày nhiều sẽ đưa đến sự tiếp cận dần trạng thái ổn định. Trạng thái gần như ổn định đạt được trong vòng 3 tuần sau khi bắt đầu trị liệu. Một khi đạt được trạng thái ổn định, nồng độ donepezil hydrochloride trong huyết tương và hoạt tính về dược lực học liên quan cho thấy có rất ít biến đổi suốt quá trình trong ngày.
Thức ăn không ảnh hưởng đến sự hấp thu của donepezil hydrochloride.
Phân bố: Khoảng 95% donepezil hydrochloride gắn với protein huyết tương người. Sự gắn kết với protein huyết tương của 6-O-desmethyl donepezil dạng chuyển hóa hoạt động chưa được biết rõ. Sự phân bố donepezil hydrochloride ở các mô khác nhau chưa được nghiên cứu rõ ràng. Tuy nhiên, trong một nghiên cứu trên quy mô lớn tiến hành trên những người nam tình nguyện khỏe mạnh, 240 giờ sau khi dùng liều duy nhất 5mg donepezil hydrochloride được đánh dấu 14C, khoảng 28% chất đồng vị đánh dấu vẫn chưa thu hồi được. Điều này cho thấy rằng donepezil hydrochloride và/hoặc các chất chuyển hóa của nó có thể tồn tại trong cơ thể hơn 10 ngày.
Chuyển hóa/Thải trừ: Donepezil hydrochloride được đào thải trong nước tiểu ở cả hai dạng không thay đổi và dạng chuyển hóa bởi hệ thống cytochrome P450 thành nhiều chất chuyển hóa, không phải tất cả các chất chuyển hóa này đều được xác định. Sau khi dùng liều duy nhất 5mg donepezil hydrochloride được đánh dấu bằng 14C, mức phóng xạ trong huyết tương, được thể hiện bằng tỷ lệ phần trăm liều dùng, hiện diện chủ yếu ở dạng donepezil hydrochloride không thay đổi (30%), 6-O-desmethyl donepezil (11% - chất chuyển hóa duy nhất thể hiện hoạt tính tương tự với donepezil hydrochloride), donepezil-cis-N-oxide (9%), 5-O-desmethyl donepezil (7%) và dạng liên hợp glucuronide của 5-O-desmethyl donepezil (3%). Khoảng 57% tổng lượng phóng xạ đã dùng được thu hồi lại từ nước tiểu (17% ở dạng donepezil không đổi), và 14,5% được thu hồi lại từ phân, cho thấy sự biến đổi sinh học và sự đào thải qua nước tiểu là đường thải trừ chủ yếu. Không có dấu hiệu nào cho thấy donepezil hydrochloride và/hoặc bất kỳ chất chuyển hóa nào của nó tham gia chu trình gan ruột.
Nồng độ donepezil trong huyết tương giảm theo thời gian bán hủy khoảng 70 giờ.
Giới tính, chủng tộc và tiền sử hút thuốc lá không có ảnh hưởng đáng kể về mặt lâm sàng đối với nồng độ donepezil hydrochloride trong huyết tương. Dược động học của donepezil chưa được nghiên cứu một cách chính thức ở những người cao tuổi khỏe mạnh hoặc ở những bệnh nhân bị sa sút trí tuệ trong bệnh Alzheimer hoặc bệnh nhân bị sa sút trí tuệ do mạch máu. Tuy nhiên nồng độ trung bình trong huyết tương của những bệnh nhân gần như tương đương với những người tình nguyện khỏe mạnh.
Những bệnh nhân suy gan ở mức độ nhẹ đến trung bình có tăng nồng độ donepezil ở trạng thái ổn định, diện tích dưới đường cong nồng độ-thời gian trung bình khoảng 48% và nồng độ cao nhất trong huyết tương (Cmax) trung bình khoảng 39% (xem phần Liều lượng và Cách dùng).
Dữ liệu an toàn tiền lâm sàng: Thử nghiệm trên quy mô rộng ở động vật thí nghiệm cho thấy hợp chất này gây ra ít tác dụng phụ hơn so với những tác dụng dược lý đã biết do tác dụng của nó là một chất kích thích cholinergic (xem phần Quá liều). Donepezil hydrochloride không gây đột biến trong các thí nghiệm về đột biến ở vi khuẩn và tế bào động vật có vú. Một số tác dụng gây gãy nhiễm sắc thể đã được quan sát in vitro ở nồng độ độc cao đối với tế bào và gấp hơn 3.000 lần nồng độ trong huyết tương ở trạng thái ổn định. Không quan sát thấy tác dụng gây gãy nhiễm sắc thể hoặc độc gen nào khác trong mô hình nhân nhỏ ở chuột nhắt in vivo.
Không có bằng chứng nào về khả năng gây ung thư khi điều trị lâu dài trong các nghiên cứu ung thư học ở cả chuột cống hoặc chuột nhắt.
Donepezil hydrochloride không có ảnh hưởng nào trên khả năng sinh sản của chuột cống và không gây quái thai ở chuột cống hay thỏ, nhưng có ảnh hưởng nhẹ trên số tử sản và số chuột con sống sót sau sinh khi cho chuột mang thai dùng liều gấp 50 lần liều dùng cho người (xem phần Sử dụng ở phụ nữ có thai và cho con bú).
Register or sign in to continue
Asia's one-stop resource for medical news, clinical reference and education
Sign up for free
Already a member? Sign in