Avastin

Avastin Cảnh báo

bevacizumab

Nhà sản xuất:

Roche
Thông tin kê toa chi tiết tiếng Việt
Cảnh báo
Để cải thiện khả năng truy nguyên nguồn gốc của các sản phẩm thuốc sinh học, tên thương mại và số lô của các sản phẩm nên được lưu lại rõ ràng (hoặc ghi chú) trong hồ sơ bệnh án.
Thủng và rò đường tiêu hóa
Bệnh nhân có thể tăng nguy cơ thủng đường tiêu hóa (xem phần ''Các thử nghiệm lâm sàng'' - Tác dụng không mong muốn) và thủng túi mật (xem phần Tác dụng không mong muốn, ''Sau khi thuốc lưu hành trên thị trường'') khi được điều trị Avastin. Nên ngừng hẳn Avastin trên những bệnh nhân bị thủng đường tiêu hóa.
Bệnh nhân bị ung thư cổ tử cung dai dẳng, tái phát hoặc di căn điều trị với Avastin có thể làm tăng nguy cơ bị rò âm đạo với bất cứ vị trí nào của đường tiêu hóa (lỗ rò đường tiêu hóa-âm đạo) (xem phần Tác dụng không mong muốn, ''Kinh nghiệm từ các thử nghiệm lâm sàng'' - Thủng và rò đường tiêu hóa).
Nghiêm trọng và đôi khi tử vong do thủng đường tiêu hóa xảy ra với một tỷ lệ cao hơn ở những bệnh nhân được điều trị Avastin so với đối chứng. Tỷ lệ thủng đường tiêu hóa dao động 0,3-3,2% trong các nghiên cứu lâm sàng (xem phần ''Kinh nghiệm sau khi thuốc lưu hành trên thị trường'' - Tác dụng không mong muốn). Từ một thử nghiệm lâm sàng ở bệnh nhân bị ung thư cổ tử cung dai dẳng, tái phát hoặc di căn (Nghiên cứu 9), thủng đường tiêu hóa đã được báo cáo trong 3,2% bệnh nhân điều trị Avastin, và tất cả bệnh nhân đó đều có một tiền sử chiếu xạ vùng chậu trước đó.
Tử vong đã được báo cáo với tỷ lệ <1% trong số bệnh nhân điều trị Avastin. Trong một thử nghiệm ung thư buồng trứng kháng platinum (Nghiên cứu 10), tỷ lệ bị thủng đường tiêu hóa là 1,7% (3/179). Trong thử nghiệm này, đã loại trừ bệnh nhân có triệu chứng liên quan đến đại tràng sigma-trực tràng qua khám vùng chậu hoặc triệu chứng liên quan đến ruột qua CT scan hoặc các triệu chứng lâm sàng của tắc ruột.
Các biểu hiện điển hình có thể bao gồm đau bụng, buồn nôn, nôn, táo bón và sốt.
Thủng ruột có thể do biến chứng của áp xe trong ổ bụng, hình thành lỗ rò và cần thiết phải phẫu thuật nối ruột. Đa số các trường hợp xảy ra trong vòng 50 ngày đầu bắt đầu điều trị Avastin.
Tránh dùng Avastin cho bệnh nhân ung thư buồng trứng có triệu chứng liên quan đến đại tràng sigma-trực tràng qua khám vùng chậu hoặc triệu chứng liên quan đến ruột qua CT scan hoặc các triệu chứng lâm sàng của tắc ruột.
Dừng Avastin vĩnh viễn ở bệnh nhân bị thủng đường tiêu hóa.
Trong các thử nghiệm lâm sàng của Avastin, rò đường tiêu hóa đã được báo cáo với tỷ lệ lên đến 2% ở những bệnh nhân bị ung thư đại trực tràng di căn và ung thư buồng trứng. Trong một thử nghiệm ung thư cổ tử cung (Nghiên cứu 9), tỷ lệ bị rò đường tiêu hóa-âm đạo là 8,3% ở bệnh nhân đã điều trị Avastin và 0,9% ở bệnh nhân đối chứng, tất cả đều có tiền sử chiếu xạ vùng chậu trước đó. Bệnh nhân có lỗ rò đường tiêu hóa-âm đạo cũng có thể bị tắc ruột và cần can thiệp phẫu thuật cũng như nối ruột.
Rò ngoài đường tiêu hóa (xem thêm phần ''Các thử nghiệm lâm sàng'' - Tác dụng không mong muốn)
Bệnh nhân có thể bị tăng nguy cơ xuất hiện đường rò khi được điều trị Avastin (xem phần ''Các thử nghiệm lâm sàng'' - Tác dụng không mong muốn).
Nên ngừng hẳn Avastin trên những bệnh nhân bị rò khí-thực quản hoặc bất kỳ đường rò độ 4 nào. Có rất ít thông tin về việc tiếp tục dùng Avastin cho những bệnh nhân bị các đường rò khác. Trong trường hợp đường rò nội tạng không xuất phát từ đường tiêu hóa, nên ngưng dùng Avastin.
Xuất huyết (xem thêm phần ''Các thử nghiệm lâm sàng'' - Tác dụng không mong muốn)
Bệnh nhân được điều trị với Avastin sẽ tăng nguy cơ bị xuất huyết, đặc biệt là xuất huyết liên quan khối u (xem phần Tác dụng không mong muốn, ''Kinh nghiệm từ các thử nghiệm lâm sàng'' - Xuất huyết). Nên ngưng hẳn Avastin trên bệnh nhân có chảy máu độ 3 hoặc 4 trong quá trình điều trị với Avastin.
Những bệnh nhân có tình trạng di căn hệ thần kinh trung ương không được điều trị thường bị loại khỏi các thử nghiệm lâm sàng với Avastin, dựa trên chẩn đoán hình ảnh hoặc các dấu hiệu và các triệu chứng. Vì vậy, nguy cơ xuất huyết não ở những bệnh nhân này không được đánh giá tiền cứu trong các nghiên cứu lâm sàng ngẫu nhiên (xem phần Tác dụng không mong muốn, ''Kinh nghiệm từ các thử nghiệm lâm sàng'' - Xuất huyết).
Bệnh nhân cần được theo dõi các dấu hiệu và triệu chứng của xuất huyết thần kinh trung ương và nên dừng điều trị Avastin nếu có xuất huyết nội sọ.
Không có thông tin về tính an toàn của Avastin trên những bệnh nhân có cơ địa dễ chảy máu bẩm sinh, bệnh đông máu mắc phải hoặc trên những bệnh nhân đang sử dụng đủ liều thuốc chống đông để điều trị thuyên tắc huyết khối trước khi khởi trị Avastin, vì những bệnh nhân như vậy đã bị loại khỏi các thử nghiệm lâm sàng. Vì vậy, nên thận trọng trước khi bắt đầu điều trị Avastin ở những bệnh nhân này. Tuy nhiên, những bệnh nhân bị huyết khối tĩnh mạch trong khi điều trị Avastin không bị tăng tỉ lệ xuất huyết độ 3 hoặc cao hơn độ 3 khi điều trị đủ liều warfarin phối hợp với Avastin.
Nhiễm trùng mắt nghiêm trọng sau khi sử dụng qua đường tiêm nội nhãn là chỉ định chưa được chấp thuận (xem phần Tác dụng không mong muốn - ''Sau khi thuốc lưu hành trên thị trường'')
Các trường hợp riêng lẻ và nhóm các biến cố bất lợi đã được báo cáo (bao gồm viêm nội nhãn nhiễm trùng và những tình trạng viêm các bộ phận khác của mắt) sau khi tiêm vào nội nhãn, là đường dùng chưa được chấp thuận, hỗn hợp Avastin từ lọ dùng cho truyền tĩnh mạch ở bệnh nhân ung thư. Một số các biến cố đã dẫn đến mất thị trường ở các mức độ khác nhau, bao gồm mù vĩnh viễn.
Xuất huyết phổi/ Ho ra máu (xem phần Tác dụng không mong muốn)
Những bệnh nhân ung thư phổi không phải tế bào nhỏ được điều trị với Avastin có thể có nguy cơ bị xuất huyết phổi/ ho ra máu nghiêm trọng, và một số trường hợp đã tử vong (xem phần Tác dụng không mong muốn, ''Kinh nghiệm từ các thử nghiệm lâm sàng'' - Xuất huyết). Không nên dùng Avastin cho những bệnh nhân vừa mới bị xuất huyết phổi/ ho ra máu (>1/2 thìa cà-phê máu tươi).
Tăng huyết áp
Ghi nhận tăng tỉ lệ tăng huyết áp trên bệnh nhân được điều trị với Avastin. Các dữ liệu an toàn lâm sàng gợi ý tỉ lệ tăng huyết áp có thể phụ thuộc vào liều. Tăng huyết áp đã có từ trước phải được kiểm soát đầy đủ trước khi bắt đầu điều trị với Avastin. Không có thông tin về tác động của Avastin trên bệnh nhân tăng huyết áp không được kiểm soát lúc bắt đầu điều trị Avastin. Nên theo dõi huyết áp trong suốt quá trình điều trị với Avastin (xem thêm phần ''Kinh nghiệm từ các thử nghiệm lâm sàng'', Các thử nghiệm lâm sàng - Tác dụng không mong muốn).
Trong phần lớn các trường hợp, tăng huyết áp đều có thể được kiểm soát thỏa đáng bằng cách dùng thuốc hạ huyết áp thông thường một cách phù hợp cho từng bệnh nhân. Nếu tăng huyết áp nặng không thể kiểm soát được với các thuốc hạ huyết áp; hoặc nếu bệnh nhân lên cơn tăng huyết áp hoặc bị bệnh não do tăng huyết áp, nên ngưng sử dụng Avastin (xem phần ''Kinh nghiệm từ các thử nghiệm lâm sàng'' và ''Kinh nghiệm sau khi thuốc lưu hành trên thị trường'').
Hội chứng bệnh lý chất trắng não sau có thể hồi phục được (RPLS)
Đã có một số trường hợp hiếm gặp những bệnh nhân đang được điều trị với Avastin bị các dấu hiệu và triệu chứng phù hợp với hội chứng bệnh lý chất trắng não sau có thể hồi phục được (RPLS). Đây là một rối loạn thần kinh hiếm gặp, thể hiện bằng các dấu hiệu và triệu chứng sau: co giật, đau đầu, trạng thái tâm thần thay đổi, rối loạn thị giác, hoặc mù vỏ não, có hoặc không kèm cao huyết áp. Cần phải có hình ảnh não để xác định chẩn đoán RPLS. Đối với những bệnh nhân bị RPLS, việc điều trị các triệu chứng đặc hiệu bao gồm kiểm soát huyết áp được khuyến cáo cùng với việc ngừng Avastin. Tính an toàn của việc tái điều trị Avastin ở những bệnh nhân đã bị RPLS chưa được biết (xem phần ''Kinh nghiệm sau khi thuốc lưu hành trên thị trường'').
Thuyên tắc huyết khối động mạch
Trong những thử nghiệm lâm sàng, tỉ lệ biến cố thuyên tắc huyết khối động mạch bao gồm tai biến mạch máu não, cơn thoáng thiếu máu não (TIA) và nhồi máu cơ tim trên những bệnh nhân sử dụng Avastin phối hợp với hóa trị cao so với những bệnh nhân sử dụng hóa trị đơn thuần.
Nên ngưng Avastin vĩnh viễn ở những bệnh nhân bị biến cố thuyên tắc huyết khối động mạch.
Bệnh nhân sử dụng Avastin phối hợp với hóa trị có tiền sử bị thuyên tắc huyết khối động mạch hoặc tuổi trên 65 sẽ tăng nguy cơ bị biến cố thuyên tắc huyết khối động mạch trong quá trình điều trị với Avastin. Nên thận trọng khi điều trị Avastin trên những bệnh nhân này.
Nghiêm trọng, đôi khi gây tử vong do thuyên tắc huyết khối động mạch (ATE) bao gồm nhồi máu não, cơn thiếu máu não thoáng qua, nhồi máu cơ tim, đau thắt ngực và nhiều loại ATE khác xảy ra với một tỷ lệ cao hơn ở bệnh nhân dùng Avastin so với bệnh nhân trong nhóm đối chứng. Đối với các chỉ định, tỷ lệ bị ATE mức độ 3 trong nhóm dùng Avastin là 2,6% so với 0,8% trong nhóm đối chứng. Trong số những bệnh nhân dùng Avastin kết hợp với hóa trị, nguy cơ phát triển ATE trong khi điều trị bị tăng lên ở những bệnh nhân có tiền sử thuyên tắc huyết khối động mạch, tiểu đường hoặc tuổi lớn hơn 65 tuổi (xem mục ''Sử dụng ở những đối tượng đặc biệt'').
Sự an toàn của việc tiếp tục điều trị Avastin sau khi giải quyết được một ATE chưa được nghiên cứu.
Ngừng Avastin ở những bệnh nhân đã trải qua một ATE nghiêm trọng.
Thuyên tắc huyết khối tĩnh mạch (xem phần Tác dụng không mong muốn)
Bệnh nhân có nguy cơ bị biến cố thuyên tắc huyết khối tĩnh mạch kể cả thuyên tắc phổi trong quá trình điều trị với Avastin.
Bệnh nhân ung thư cổ tử cung dai dẳng, tái phát hoặc di căn được điều trị bằng Avastin có thể tăng nguy cơ các biến cố huyết khối tĩnh mạch (xem mục ''Kinh nghiệm từ các thử nghiệm lâm sàng'' - Huyết khối tĩnh mạch).
Nên ngưng Avastin ở những bệnh nhân bị thuyên tắc phổi nặng dọa tử vong (độ 4). Những bệnh nhân bị độ 3 trở xuống cần phải được theo dõi kỹ.
Suy tim sung huyết (xem phần Tác dụng không mong muốn)
Những biến cố phù hợp với suy tim sung huyết đã được báo cáo trong các thử nghiệm lâm sàng. Những triệu chứng thay đổi từ giảm phân suất tống máu thất trái không có triệu chứng đến suy tim sung huyết có triệu chứng, cần phải được điều trị hoặc nhập viện.
Cần thận trọng khi điều trị bằng Avastin ở những bệnh nhân có bệnh tim mạch có biểu hiện lâm sàng như bệnh mạch vành từ trước hoặc suy tim sung huyết.
Phần lớn bệnh nhân bị suy tim sung huyết đều có ung thư vú di căn và được điều trị trước đó với anthracyclines, được xạ trị thành ngực trái trước đó hoặc có những yếu tố nguy cơ dễ bị suy tim sung huyết khác.
Ở những bệnh nhân trong nghiên cứu AVF3694g được điều trị lần đầu với anthracyclines, sự gia tăng xuất độ suy tim sung huyết ở mọi mức độ không được ghi nhận ở nhóm điều trị anthracyclines phối hợp bevacizumab so với nhóm chỉ sử dụng anthracyclines. Trong cả 2 nghiên cứu AVF3694g và AVF3693g, các biến cố suy tim sung huyết độ 3 hoặc nặng hơn có phần thường xảy ra ở nhóm bệnh nhân điều trị bevacizumab phối hợp với hóa trị hơn so với nhóm bệnh nhân chỉ điều trị bằng hóa trị. Các kết quả này nhất quán với kết quả ở bệnh nhân ung thư vú di căn không được điều trị đồng thời với anthracyclines trong các nghiên cứu khác (xem phần ''Kinh nghiệm từ các thử nghiệm lâm sàng'' - Tác dụng không mong muốn).
Giảm bạch cầu trung tính
So với những bệnh nhân chỉ dùng hóa trị liệu đơn thuần, người ta thấy có sự tăng tỷ lệ giảm bạch cầu trung tính nặng, sốt giảm bạch cầu trung tính hoặc nhiễm trùng có giảm bạch cầu trung tính nặng (kể cả một vài trường hợp tử vong) ở những bệnh nhân được điều trị với một số phác đồ hóa chất gây độc cho tủy cùng với Avastin so với hóa trị đơn thuần.
Phẫu thuật và biến chứng lành vết thương
Avastin có thể có tác động ngoại ý trên quá trình lành vết thương. Biến chứng nặng trong quá trình lành vết thương dẫn đến tử vong đã được báo cáo. Nên chờ ít nhất 28 ngày sau khi đại phẫu hoặc cho đến khi vết thương phẫu thuật đã lành hoàn toàn mới bắt đầu điều trị Avastin. Đối với bệnh nhân có biến chứng trong quá trình lành vết thương khi điều trị Avastin, nên ngưng sử dụng Avastin cho đến khi vết thương lành hoàn toàn. Liệu pháp Avastin nên được dừng để thực hiện mổ chương trình (xem phần ''Các thử nghiệm lâm sàng'' - Tác dụng không mong muốn).
Khoảng thời gian hợp lý giữa liều Avastin cuối cùng và phẫu thuật chương trình không rõ. Tuy nhiên, thời gian bán thải của Avastin được ước tính là 20 ngày. Tạm ngừng Avastin trong ít nhất 28 ngày trước mổ chương trình. Không dùng Avastin cho đến khi vết thương lành hoàn toàn.
Việc cân mạc hoại tử bao gồm cả các trường hợp tử vong, hiếm khi được báo cáo ở các bệnh nhân được điều trị với Avastin; thường thứ phát sau các biến chứng trong việc lành vết thương, thủng hoặc tạo đường rò đường tiêu hóa. Cần ngưng điều trị Avastin ở các bệnh nhân bị viêm cân cơ hoại tử và các trị liệu thích hợp phải được tiến hành ngay lập tức (xem phần Tác dụng không mong muốn - ''Sau khi thuốc lưu hành trên thị trường'').
Protein niệu (xem phần Tác dụng không mong muốn)
Trong những thử nghiệm lâm sàng, tỷ lệ xuất hiện protein niệu ở những bệnh nhân dùng Avastin phối hợp với hóa trị liệu cao hơn so với những bệnh nhân chỉ dùng hóa trị liệu đơn thuần. Protein niệu độ 4 (hội chứng thận hư) đã được quan sát thấy ở 1,4% bệnh nhân điều trị bằng Avastin. Nên ngừng vĩnh viễn Avastin trên bệnh nhân bị hội chứng thận hư.
Ngừng Avastin khi protein niệu ≥2g/24 giờ.
Những phản ứng quá mẫn, phản ứng khi truyền (xem phần Tác dụng không mong muốn - ''Những thử nghiệm lâm sàng và sau khi thuốc lưu hành trên thị trường'')
Bệnh nhân có thể có nguy cơ xuất hiện phản ứng khi truyền/ phản ứng quá mẫn. Quan sát kỹ bệnh nhân trong và sau khi tiêm truyền bevacizumab được khuyến cáo, như khi tiêm truyền bất kì một kháng thể đơn dòng nhân hóa nào khác. Nếu xảy ra phản ứng, việc truyền thuốc nên được dừng lại và sử dụng các biện pháp hỗ trợ phù hợp. Việc dùng thuốc phòng ngừa một cách hệ thống là không cần thiết.
Hoại tử xương hàm (ONJ)
Các trường hợp hoại tử xương hàm ở những bệnh nhân ung thư được điều trị bằng Avastin đã được báo cáo, phần lớn trong số đó đã được điều trị trước đó hoặc phối trị với các thuốc bisphosphonate truyền tĩnh mạch, mà hoại tử xương hàm là một nguy cơ đã được xác định. Cần thận trọng khi dùng đồng thời hoặc tuần tự Avastin và bisphosphonate truyền tĩnh mạch. Thủ thuật nha khoa can thiệp cũng là một yếu tố nguy cơ được xác định. Nên khám nha khoa và dự phòng nha khoa phù hợp trước khi bắt đầu điều trị với Avastin. Ở những bệnh nhân trước đó hoặc đang được truyền tĩnh mạch bisphosphonate, nên tránh can thiệp thủ thuật nha khoa nếu có thể.
Dùng trong dịch kính
Avastin không được bào chế để sử dụng cho tiêm vào trong dịch kính.
Rối loạn về thị giác
Các trường hợp riêng lẻ và nhóm các biến cố bất lợi nghiêm trọng ở mắt đã được báo cáo sau khi tiêm vào trong dịch kính, là đường dùng không được chấp thuận với hỗn hợp Avastin từ lọ dùng cho truyền tĩnh mạch ở bệnh nhân ung thư. Những phản ứng này bao gồm nhiễm trùng nội nhãn, viêm nội nhãn cầu như viêm nội nhãn vô trùng, viêm màng bồ đào và viêm dịch kính, bong võng mạc, rách biểu mô sắc tố võng mạc, tăng nhãn áp, xuất huyết nội nhãn như xuất huyết dịch kính hoặc xuất huyết võng mạc và xuất huyết kết mạc. Một số các biến cố đã dẫn đến mất thị trường ở các mức độ khác nhau, bao gồm mù vĩnh viễn.
Các tác dụng ngoại ý toàn thân sau khi dùng trong dịch kính
Giảm nồng độ VEGF trong máu đã được chứng minh sau khi điều trị kháng VEGF qua đường tiêm nội nhãn. Các tác dụng ngoại ý toàn thân bao gồm cả xuất huyết ngoài mắt và các phản ứng huyết khối động mạch đã được báo cáo sau khi tiêm vào dịch kính các chất ức chế VEGF.
Suy giảm chức năng buồng trứng/ khả năng sinh sản (xem phần Sử dụng ở phụ nữ có thai và cho con bú, Tác dụng không mong muốn - ''Các thử nghiệm lâm sàng'')
Avastin có thể làm suy giảm khả năng sinh sản ở nữ. Vì vậy chiến lược bảo tồn chức năng sinh sản nên được thảo luận với những phụ nữ ở độ tuổi sinh đẻ trước khi bắt đầu điều trị Avastin.
Tác động lên khả năng lái xe và vận hành máy móc
Chưa tiến hành nghiên cứu về tác động của thuốc lên khả năng lái xe và vận hành máy móc. Tuy nhiên, không có bằng chứng về việc điều trị Avastin làm tăng biến cố bất lợi có thể dẫn đến giảm khả năng lái xe và vận hành máy móc hoặc suy giảm khả năng trí tuệ.
Sử dụng ở trẻ em
Avastin không được chấp thuận trong việc sử dụng cho bệnh nhân dưới 18 tuổi. Tính an toàn và hiệu quả của Avastin trên bệnh nhân dưới 18 tuổi vẫn chưa được nghiên cứu.
Việc sử dụng thêm Avastin trong điều trị đã không cho thấy lợi ích lâm sàng ở bệnh nhân trẻ em trong hai thử nghiệm lâm sàng giai đoạn II: một ở bệnh nhi u thần kinh đệm có độ biệt hóa cao và một ở bệnh nhi sarcoma cơ vân di căn hoặc sarcoma mô mềm không phải cơ vân. Trong các báo cáo đã công bố, đã ghi nhận các trường hợp hoại tử xương tại những vị trí ngoài xương hàm ở các bệnh nhân dưới 18 tuổi phơi nhiễm với Avastin (xem phần Dược lý, ''Tính an toàn tiền lâm sàng, Khác'' - Phát triển sụn tăng trưởng).
Sử dụng ở người già
Tham khảo phần Cảnh báo và thận trọng ở mục Thuyên tắc huyết khối động mạch.
Bệnh nhân suy thận
Tính an toàn và hiệu quả của Avastin trên bệnh nhân bị suy thận vẫn chưa được nghiên cứu.
Bệnh nhân suy gan
Tính an toàn và hiệu quả của Avastin trên bệnh nhân bị suy gan vẫn chưa được nghiên cứu.
Register or sign in to continue
Asia's one-stop resource for medical news, clinical reference and education
Sign up for free
Already a member? Sign in