Belara

Belara

Nhà sản xuất:

Gedeon Richter
Thông tin kê toa chi tiết tiếng Việt
Thành phần
Mỗi viên: Ethinylestradiol 0,03 mg, chlormadinon acetat 2 mg (tương đương chlormadinon 1,71 mg).
Mô tả
Tá dược: Magnesi stearate, povidon K-30, tinh bột ngô, lactose monohydrat, đỏ oxid sắt III, propylen glycol, macrogol 6000, talc, titani dioxid E 171, hypromellose 6 mPa.s.
Dạng bào chế:
Viên nén bao phim. Viên nén bao phim hình tròn, màu hồng nhạt, hai mặt lồi.
Dược lý
Đặc tính dược lực học
Nhóm dược lý điều trị: Nội tiết tố sinh dục và các chất điều biến hệ sinh dục; các progestogen và estrogen, dạng kết hợp cố định, mã ATC: G03AA15.
Cơ chế tác dụng
Dùng Belara liên tục trong 21 ngày làm ức chế sự bài tiết FSH và LH của tuyến yên và do đó ức chế sự rụng trứng. Niêm mạc tử cung tăng sinh và có sự thay đổi về bài tiết. Tính đồng nhất của chất nhầy cổ tử cung bị thay đổi. Điều này ngăn cản sự di chuyển của tinh trùng qua ống cổ tử cung và làm thay đổi tính di động của tinh trùng.
Liều thấp nhất hàng ngày của chlormadinon acetat để có tác dụng ức chế hoàn toàn sự rụng trứng là 1,7 mg. Liều cần thiết để biến đổi hoàn toàn nội mạc tử cung là 25 mg cho mỗi chu kỳ.
Chlormadinon acetat là một progestogen kháng androgen. Tác dụng của thuốc là do khả năng thay thế androgen trên các thụ thể của nó.
Hiệu quả lâm sàng
Trong các nghiên cứu lâm sàng sử dụng viên nén bao phim chứa 0,03 mg ethinylestradiol và 2 mg chlormadinon acetat kéo dài lên đến tối đa 2 năm, trên 1.655 phụ nữ và hơn 22.000 chu kỳ kinh nguyệt, đã có 12 trường hợp mang thai. Trong đó, có 7 phụ nữ có các yếu tố kèm theo sau đây xảy ra trong thời gian tránh thai: dùng thuốc không đúng cách, có các bệnh mắc kèm gây buồn nôn hoặc nôn, hoặc dùng cùng các thuốc đã biết làm giảm tác dụng của thuốc tránh thai nội tiết.
- xem Bảng 1.

Image from Drug Label Content

Đặc tính dược động học
Chlormadinon acetat (CMA)
Hấp thu: Sau khi uống, CMA được hấp thu nhanh và gần như hoàn toàn. Sinh khả dụng toàn thân của CMA cao do thuốc không qua chuyển hóa lần đầu. Nồng độ đỉnh huyết tương đạt được sau 1-2 giờ.
Phân bố: CMA gắn kết với protein huyết tương người, chủ yếu là albumin với tỷ lệ trên 95%. CMA không có ái lực gắn kết với SHBG hoặc CBG. CMA được tích trữ chủ yếu trong mô mỡ.
Chuyển hóa: Quá trình khử hóa, oxy hóa và liên hợp glucuronid và sulphat hóa tạo ra nhiều chất chuyển hóa khác nhau. Các chất chuyển hóa chủ yếu trong huyết tương người là 3α- và 3β-hydroxy-CMA có nửa đời sinh học không khác biệt nhiều so với CMA không được chuyển hóa. Chất chuyển hóa 3-hydroxy có hoạt tính kháng androgen tương tự CMA. Trong nước tiểu, các chất chuyển hóa xuất hiện chủ yếu dưới dạng liên hợp. Dưới tác dụng của enzym, chất chuyển hóa chính là 2α-hydroxy-CMA bên cạnh các chất chuyển hóa 3-hydroxy- và dihydroxy.
Thải trừ: CMA bị thải trừ khỏi huyết tương với thời gian bán thải trung bình khoảng 34 giờ (sau một liều đơn) và khoảng 36-39 giờ (sau nhiều liều lặp lại). Sau khi uống, CMA và các chất chuyển hóa được thải trừ qua cả thận và phân với lượng tương đương nhau.
Ethinylestradiol (EE)
Hấp thu: EE được hấp thu nhanh và gần như hoàn toàn sau khi uống và nồng độ đỉnh trung bình huyết tương đạt được sau 1,5 giờ. Vì có liên hợp tiền hệ thống và chuyển hóa lần đầu tại gan, sinh khả dụng tuyệt đối của thuốc chỉ khoảng 40%, cho thấy có sự biến thiên đáng kể giữa các cá thể (20-65%).
Phân bố: Nồng độ EE huyết tương được báo cáo trong y văn có sự khác nhau đáng kể. Khoảng 98% EE gắn kết với protein huyết tương, chủ yếu với albumin.
Chuyển hóa: Tương tự các estrogen tự nhiên, EE được chuyển hóa sinh học theo con đường hydroxyl hóa vòng thơm (qua trung gian cytochrom P-450). Chất chuyển hóa chính là 2-hydroxy-EE, chất này được tiếp tục chuyển hóa và liên hợp. EE trải qua liên hợp tiền hệ thống tại niêm mạc ruột non và tại gan. Thuốc được tìm thấy chủ yếu dưới dạng liên hợp glucuronid trong nước tiểu và chủ yếu dưới dạng sulphat trong dịch mật và huyết tương.
Thải trừ: Nửa đời trung bình trong huyết tương của EE là khoảng 12-14 giờ. EE được bài tiết qua thận và phân với tỷ lệ 2:3. Dạng sulphat của EE được bài xuất vào dịch mật sau khi bị thủy phân bởi hệ vi khuẩn đường ruột sẽ đi vào chu kỳ gan ruột.
Dữ liệu an toàn tiền lâm sàng
Độc tính cấp của estrogen là thấp. Bởi vì có các khác biệt rõ rệt giữa các loài động vật thí nghiệm và con người, các kết quả nghiên cứu trên động vật với estrogen chỉ có thể cho các giá trị dự đoán hạn chế trên người. Ethinylestradiol, một estrogen tổng hợp thường được sử dụng trong các thuốc tránh thai nội tiết, gây chết bào thai trên động vật thí nghiệm thậm chí ở liều tương đối thấp; các bất thường đường niệu sinh dục và nữ hóa bào thai nam đã được quan sát thấy. Các ảnh hưởng này được coi là đặc hiệu theo loài.
Chlormadinon acetat gây chết bào thai trên thỏ, chuột cống và chuột nhắt. Hơn nữa, tính gây quái thai đã được quan sát thấy trên thỏ ở liều gây độc với bào thai, và trên chuột nhắt thậm chí ở mức liều thử nghiệm thấp nhất (1 mg/kg/ngày). Ý nghĩa của các kết quả này đối với việc dùng thuốc trên người là chưa rõ ràng.
Dữ liệu tiền lâm sàng từ các nghiên cứu quy ước về độc tính mạn, độc tính trên di truyền và khả năng gây ung thư cho thấy thuốc không gây nguy cơ đặc biệt trên người ngoại trừ những vấn đề đã được mô tả trong các mục khác của tờ tóm tắt đặc tính thuốc.
Chỉ định/Công dụng
Thuốc tránh thai nội tiết.
Khi sử dụng Belara nên cân nhắc các yếu tố nguy cơ hiện có trên từng phụ nữ, đặc biệt là nguy cơ huyết khối tĩnh mạch (VTE) và so sánh nguy cơ huyết khối tĩnh mạch khi dùng Belara với nguy cơ của các thuốc tránh thai nội tiết phối hợp khác (xem mục Chống chỉ định Cảnh báo và thận trọng).
Liều dùng/Hướng dẫn sử dụng
Liều dùng
Phải dùng thuốc hàng ngày vào cùng một thời điểm (nên dùng vào buổi tối) trong 21 ngày liên tiếp, sau đó ngưng 7 ngày không dùng thuốc; sự xuất huyết âm đạo giống như hành kinh thường xuất hiện trong 2-4 ngày sau khi dùng viên thuốc cuối cùng. Sau 7 ngày ngưng thuốc, dùng vỉ Belara tiếp theo cho dù xuất huyết đã ngừng hay không.
Lấy viên thuốc tại vị trí đánh dấu ngày tương ứng trong tuần khỏi vỉ và nuốt nguyên viên thuốc, nếu cần với một ít nước. Dùng thuốc hàng ngày theo hướng mũi tên.
Bắt đầu dùng thuốc
Trước đó không dùng thuốc tránh thai nội tiết (trong chu kỳ kinh nguyệt cuối):
Nên uống viên thuốc đầu tiên vào ngày 1 của chu kỳ kinh nguyệt tự nhiên, ví dụ vào ngày đầu tiên của chu kỳ kinh nguyệt sắp tới. Nếu dùng viên thuốc đầu tiên vào ngày đầu tiên hành kinh, tác dụng tránh thai bắt đầu vào ngày đầu tiên uống thuốc và tiếp tục duy trì trong cả 7 ngày ngưng thuốc.
Cũng có thể dùng viên đầu tiên vào ngày thứ 2 đến ngày thứ 5 của kỳ hành kinh cho dù có còn xuất huyết hay không. Trong trường hợp này, cần dùng thêm biện pháp tránh thai cơ học trong 7 ngày đầu dùng thuốc.
Nếu chu kỳ kinh nguyệt đã bắt đầu hơn 5 ngày trước đó, người phụ nữ nên được hướng dẫn đợi đến lần hành kinh tiếp theo mới bắt đầu dùng Belara.
Chuyển đổi từ thuốc tránh thai nội tiết khác sang Belara:
- Chuyển đổi từ một thuốc tránh thai nội tiết phối hợp khác: Người phụ nữ nên bắt đầu dùng Belara vào ngày tiếp theo sau khoảng thời gian ngưng thuốc thông thường hoặc sau khoảng thời gian dùng viên giả dược của vỉ thuốc tránh thai nội tiết phối hợp trước đó.
- Chuyển đổi từ viên tránh thai chỉ chứa progestogen ("POP"): Nên dùng viên Belara đầu tiên vào ngay sau ngày ngừng dùng viên tránh thai chỉ chứa progestogen. Phải dùng thêm biện pháp tránh thai cơ học trong 7 ngày đầu tiên dùng thuốc.
- Chuyển đổi từ thuốc tránh thai nội tiết dạng tiêm hoặc cấy dưới da: Có thể bắt đầu dùng Belara vào ngày tháo que cấy dưới da hoặc vào ngày tiêm thuốc dự kiến. Phải dùng thêm biện pháp tránh thai cơ học trong 7 ngày đầu dùng thuốc.
Sau sảy thai hoặc phá thai vào ba tháng đầu của thai kỳ:
Có thể bắt đầu dùng Belara ngay lập tức sau khi sảy thai hoặc phá thai trong ba tháng đầu của thai kỳ, trong trường hợp này không cần dùng thêm biện pháp tránh thai khác.
Sau sinh con hoặc sau sảy thai hoặc phá thai vào ba tháng giữa của thai kỳ:
Sau khi sinh con 21-28 ngày, người phụ nữ không cho con bú có thể bắt đầu dùng thuốc, trong trường hợp này không cần dùng thêm biện pháp tránh thai khác.
Nếu bắt đầu dùng thuốc từ sau 28 ngày sau sinh, cần phải sử dụng thêm biện pháp tránh thai cơ học trong 7 ngày đầu.
Tuy nhiên, nếu người phụ nữ đã có quan hệ tình dục, cần loại trừ khả năng mang thai hoặc phải đợi đến kỳ hành kinh tiếp theo trước khi bắt đầu dùng thuốc.
Thời kỳ cho con bú (xem mục Sử dụng ở phụ nữ mang thai và cho con bú): Phụ nữ đang cho con bú không nên dùng Belara.
Sau khi ngừng dùng Belara: Sau khi ngừng dùng Belara, chu kỳ hiện tại có thể bị trễ khoảng 1 tuần.
Dùng thuốc không thường xuyên
Nếu người dùng quên không uống một viên thuốc nhưng đã uống lại trong vòng 12 giờ thì không cần thiết phải sử dụng thêm biện pháp tránh thai khác. Người dùng nên tiếp tục dùng thuốc như thường lệ.
Nếu quên thuốc quá 12 giờ mới dùng lại, tác dụng tránh thai có thể giảm. Kiểm soát việc dùng thiếu thuốc được hướng dẫn theo 2 nguyên tắc sau:
1. Không được ngưng thuốc quá 7 ngày;
2. Yêu cầu 7 ngày dùng thuốc liên tục để đạt được tác dụng ức chế hoàn toàn trục vùng dưới đồi - tuyến yên - buồng trứng.
Nên uống lại ngay viên thuốc cuối cùng bị quên, thậm chí trường hợp này có thể dẫn đến phải uống hai viên cùng lúc. Các viên thuốc tiếp theo nên được dùng như thường lệ. Ngoài ra, các biện pháp tránh thai cơ học khác như bao cao su cũng được sử dụng trong 7 ngày tiếp theo. Cần cân nhắc khả năng có thai nếu quên thuốc trong tuần thứ nhất của chu kỳ và đã có giao hợp trong vòng 7 ngày trước khi quên thuốc (bao gồm cả khoảng thời gian ngưng thuốc). Nguy cơ mang thai càng cao nếu số viên thuốc bị quên càng nhiều và càng gần với khoảng thời gian ngưng thuốc thường lệ.
Nếu vỉ thuốc đang dùng còn ít hơn 7 viên, nên bắt đầu dùng vỉ Belara tiếp theo ngay khi hết vỉ thuốc đang dùng, nghĩa là không nên có khoảng thời gian ngưng thuốc giữa hai vỉ. Có thể không xuất huyết cuối kỳ như thường lệ cho đến khi vỉ thuốc thứ hai được sử dụng; tuy nhiên, thỉnh thoảng có thể thấy xuất huyết lấm tấm hoặc xuất huyết giữa chu kỳ trong quá trình dùng thuốc. Nếu không thấy xuất huyết cuối kỳ sau khi dùng hết vỉ thuốc thứ hai, nên kiểm tra khả năng mang thai.
Hướng dẫn trong trường hợp nôn hoặc tiêu chảy
Nếu nôn xuất hiện trong vòng 4 giờ sau khi dùng thuốc hoặc tiêu chảy nặng tiến triển, thuốc có thể không được hấp thu hoàn toàn và hiệu quả tránh thai không còn được đảm bảo. Trong trường hợp này, nên thực hiện theo chỉ dẫn trong mục “dùng thuốc không thường xuyên” (xem phần trên). Nên tiếp tục dùng Belara.
Làm thế nào để trì hoãn kỳ hành kinh
Để làm chậm một kỳ kinh, sau khi uống hết vỉ thuốc người phụ nữ nên tiếp tục dùng ngay vỉ Belara khác, bỏ qua giai đoạn ngưng thuốc. Có thể dùng như vậy theo ý muốn cho đến khi uống viên cuối cùng của vỉ thuốc thứ hai. Trong thời gian này người phụ nữ có thể gặp xuất huyết lấm tấm hoặc xuất huyết giữa kỳ. Sau 7 ngày ngưng thuốc như thường lệ, dùng Belara trở lại như bình thường.
Để dời kỳ hành kinh sang một ngày khác trong tuần so với chu kỳ thường có, người phụ nữ có thể được tư vấn rút ngắn lại khoảng thời gian ngưng thuốc sắp tới với số ngày như mong muốn. Khoảng thời gian này càng ngắn, nguy cơ không thấy xuất huyết càng cao và người phụ nữ sẽ gặp xuất huyết lấm tấm hoặc xuất huyết giữa kỳ trong khi dùng vỉ thuốc tiếp theo (giống như khi trì hoãn một kỳ hành kinh).
Chống chỉ định
Không được dùng thuốc tránh thai nội tiết phối hợp trong các trường hợp dưới đây. Nên ngừng dùng Belara ngay lập tức nếu một trong các biến cố dưới đây xuất hiện trong quá trình dùng thuốc:
- Đái tháo đường mất kiểm soát;
- Tăng huyết áp không được kiểm soát hoặc huyết áp tăng cao (huyết áp thường xuyên trên 140/90 mmHg);
- Đang bị hoặc có nguy cơ huyết khối tĩnh mạch (VTE)
+ Huyết khối tĩnh mạch - đang bị huyết khối tĩnh mạch (đang dùng thuốc chống đông máu) hoặc có tiền sử huyết khối tĩnh mạch (như huyết khối tĩnh mạch sâu hoặc nghẽn mạch phổi);
+ Huyết khối tĩnh mạch do di truyền hoặc mắc phải như đề kháng protein C hoạt hóa, (bao gồm yếu tố V Leiden), thiếu hụt yếu tố kháng thrombin III, thiếu hụt protein C, thiếu hụt protein S;
+ Đại phẫu có thời gian bất động kéo dài (xem mục Cảnh báo và thận trọng).
+ Nguy cơ cao huyết khối tĩnh mạch do có nhiều yếu tố nguy cơ (xem mục Cảnh báo và thận trọng).
- Đang bị hoặc có nguy cơ huyết khối động mạch (ATE)
+ Huyết khối động mạch - đang bị huyết khối động mạch, tiền sử huyết khối động mạch (ví dụ: nhồi máu cơ tim) hoặc các dấu hiệu báo trước (ví dụ: đau thắt ngực);
+ Bệnh mạch máu não - đang bị đột quỵ, có tiền sử đột quỵ hoặc có dấu hiệu báo trước (ví dụ: cơn thiếu máu não cục bộ thoáng qua (TIA));
+ Huyết khối động mạch do di truyền hoặc mắc phải như tăng homocystein máu và kháng thể kháng phospholipid (đang dùng kháng thể kháng cardiolipin, thuốc chống đông lupus);
+ Tiền sử đau nửa đầu với các triệu chứng thần kinh khu trú;
+ Nguy cơ cao huyết khối động mạch do có nhiều yếu tố nguy cơ (xem mục Cảnh báo và thận trọng) hoặc khi có một trong các yếu tố nguy cơ nghiêm trọng như:
· Đái tháo đường có các triệu chứng trên mạch máu
· Tăng huyết áp nặng
· Rối loạn lipoprotein máu nặng.
- Viêm gan, vàng da, rối loạn chức năng gan cho đến khi chức năng gan trở về bình thường;
- Ngứa toàn thân, ứ mật, đặc biệt trong lần mang thai hoặc điều trị bằng estrogen trước đó;
- Hội chứng Dubin-Johnson, hội chứng Rotor, rối loạn tiết mật;
- Có tiền sử hoặc đang có khối u ở gan;
- Đau dữ dội vùng thượng vị, phì đại gan hoặc có các triệu chứng xuất huyết ổ bụng (xem mục Tác dụng không mong muốn);
- Xuất hiện lần đầu tiên hoặc tái phát cơn rối loạn chuyển hóa porphyrin (cả ba thể, đặc biệt là rối loạn chuyển hóa porphyrin mắc phải);
- Đang có hoặc có tiền sử khối u ác tính nhạy cảm với nội tiết tố như ung thư vú hoặc ung thư tử cung;
- Rối loạn chuyển hóa lipid nặng;
- Viêm tụy hoặc có tiền sử viêm tụy, nếu có kết hợp với tăng triglycerid máu;
- Xuất hiện lần đầu tiên các triệu chứng đau nửa đầu, hoặc tăng tần suất xuất hiện cơn đau đầu dữ dội bất thường;
- Tiền sử đau nửa đầu với các triệu chứng thần kinh khu trú;
- Rối loạn giác quan cấp tính như rối loạn thị giác hoặc thính giác;
- Rối loạn vận động (đặc biệt là liệt);
- Tăng tần suất cơn động kinh;
- Trầm cảm nặng;
- Xốp xơ tai thoái hóa trong những lần mang thai trước đó;
- Vô kinh không rõ nguyên nhân;
- Tăng sản nội mạc tử cung;
- Chảy máu bộ phận sinh dục không rõ nguyên nhân;
- Mẫn cảm với hoạt chất hoặc bất cứ thành phần nào của thuốc.
Chống chỉ định nếu có một yếu tố nguy cơ nghiêm trọng hoặc nhiều yếu tố nguy cơ huyết khối tĩnh mạch hoặc động mạch (xem mục Cảnh báo và thận trọng).
Chống chỉ định sử dụng chung Belara với các thuốc chứa ombitasvir, paritaprevir, ritonavir và dasabuvir (xem mục Cảnh báo và thận trọngTương tác).
Cảnh báo và thận trọng
CẢNH BÁO
Hút thuốc làm tăng nguy cơ tác dụng phụ nghiêm trọng trên tim mạch của các thuốc tránh thai nội tiết phối hợp. Nguy cơ này tăng theo tuổi và lượng thuốc hút và thể hiện rõ ở phụ nữ trên 35 tuổi. Phụ nữ trên 35 tuổi có hút thuốc nên sử dụng các biện pháp tránh thai khác.
Sử dụng các thuốc tránh thai nội tiết phối hợp có liên quan với tăng nguy cơ các bệnh nghiêm trọng khác nhau như nhồi máu cơ tim, huyết khối, đột quỵ hoặc khối u ở gan. Các yếu tố nguy cơ khác như tăng huyết áp, tăng lipid máu, béo phì và đái tháo đường làm tăng rõ rệt nguy cơ mắc bệnh và tỷ lệ tử vong.
Nếu có bất kỳ tình trạng hoặc yếu tố nguy cơ nào dưới đây, nên thảo luận với người phụ nữ về tính phù hợp của Belara trước khi dùng.
Trong trường hợp tăng nặng hoặc lần đầu xuất hiện các tình trạng hoặc yếu tố nguy cơ này, người phụ nữ cần được tư vấn đến gặp bác sĩ để xác định xem có nên ngừng thuốc hay không.
Huyết khối thuyên tắc mạch và các bệnh lý mạch máu khác
Các kết quả nghiên cứu dịch tễ học cho thấy có mối liên quan giữa việc dùng thuốc tránh thai nội tiết và tăng nguy cơ huyết khối thuyên tắc tĩnh mạch hoặc động mạch như nhồi máu cơ tim, đột quỵ, huyết khối tĩnh mạch sâu và nghẽn mạch phổi. Hiếm gặp các biến cố này. Rất hiếm khi huyết khối được báo cáo trên người dùng thuốc tránh thai nội tiết phối hợp ở những mạch máu khác, ví dụ: động mạch và tĩnh mạch gan, mạc treo ruột, mạch thận hoặc võng mạc.
Nguy cơ huyết khối tĩnh mạch (VTE)
Việc sử dụng các thuốc tránh thai nội tiết phối hợp làm tăng nguy cơ huyết khối tĩnh mạch so với không sử dụng. Các thuốc chứa levonorgestrel, norgestimat hoặc norethisteron có liên quan đến nguy cơ huyết khối tĩnh mạch thấp nhất. Hiện chưa biết nguy cơ huyết khối tĩnh mạch của Belara so với các thuốc tránh thai có nguy cơ thấp hơn này là như thế nào. Quyết định sử dụng bất kỳ thuốc tránh thai khác những loại thuốc có nguy cơ huyết khối tĩnh mạch thấp nhất chỉ nên đưa ra sau khi đã thảo luận với người dùng thuốc để đảm bảo họ hiểu nguy cơ huyết khối tĩnh mạch của Belara, ảnh hưởng của các yếu tố nguy cơ mà người dùng hiện đang có lên nguy cơ này, và rằng nguy cơ huyết khối tĩnh mạch là cao nhất trong năm đầu tiên sử dụng. Cũng có một số bằng chứng cho thấy nguy cơ này tăng lên khi thuốc tránh thai nội tiết phối hợp được bắt đầu dùng lại sau khi ngừng dùng 4 tuần hoặc lâu hơn.
Ở phụ nữ không dùng thuốc tránh thai nội tiết phối hợp và không mang thai, có khoảng 2/10.000 người sẽ bị huyết khối tĩnh mạch trong thời gian một năm. Tuy nhiên, bất kỳ phụ nữ nào cũng có thể có nguy cơ cao hơn tùy thuộc vào họ có các yếu tố nguy cơ sẵn có hay không (xem phần nội dung dưới đây).
Nghiên cứu dịch tễ học ở phụ nữ dùng thuốc tránh thai dạng nội tiết phối hợp liều thấp (chứa < 50 μg ethinylestradiol) cho thấy cứ 10.000 phụ nữ thì có khoảng 6-12 người sẽ bị huyết khối tĩnh mạch trong một năm.
Trong 10.000 phụ nữ dùng thuốc tránh thai nội tiết phối hợp chứa levonorgestrel, khoảng 6(*) người sẽ bị huyết khối tĩnh mạch trong một năm.
Chưa biết nguy cơ của thuốc tránh thai nội tiết phối hợp chứa chlormadinon so với nguy cơ của thuốc tránh thai nội tiết phối hợp chứa levonorgestrel như thế nào.
Số ca huyết khối tĩnh mạch mỗi năm khi dùng thuốc tránh thai nội tiết phối hợp liều thấp là ít hơn so với số ca có thể gặp khi mang thai hoặc trong giai đoạn hậu sản.
Huyết khối tĩnh mạch có thể gây tử vong với tỉ lệ 1-2%.
(*) Điểm giữa trong khoảng 5-7/10.000 phụ nữ/năm, dựa trên nguy cơ tương đối của thuốc tránh thai nội tiết phối hợp chứa levonorgestrel so với không sử dụng xấp xỉ khoảng 2,3 đến 3,6.
Các yếu tố nguy cơ huyết khối tĩnh mạch
Nguy cơ các biến chứng huyết khối tĩnh mạch ở người dùng thuốc tránh thai nội tiết phối hợp có thể tăng ở phụ nữ có các yếu tố nguy cơ kèm theo, đặc biệt là khi có nhiều yếu tố nguy cơ cùng lúc (xem Bảng 2).
Chống chỉ định dùng Belara nếu người phụ nữ có nhiều yếu tố nguy cơ, làm tăng nguy cơ huyết khối tĩnh mạch (xem mục Chống chỉ định). Nếu người phụ nữ có nhiều hơn một yếu tố nguy cơ, có thể sẽ tăng nguy cơ nhiều hơn là tổng cộng của các yếu tố nguy cơ đơn lẻ - trong trường hợp này cần xem xét nguy cơ huyết khối tĩnh mạch tổng thể. Nếu nguy cơ của việc dùng thuốc cao hơn lợi ích đem lại thì không nên kê đơn thuốc tránh thai nội tiết phối hợp (xem mục Chống chỉ định)
- xem Bảng 2.

Image from Drug Label Content

Vẫn chưa có sự thống nhất về việc liệu có sự liên quan giữa viêm tắc tĩnh mạch nông và giãn tĩnh mạch trong việc làm khởi phát hoặc tiến triển huyết khối tĩnh mạch hay không.
Phải lưu ý nguy cơ huyết khối tăng ở phụ nữ mang thai, và đặc biệt là trong giai đoạn 6 tuần quanh thời gian sinh con (thông tin về sử dụng thuốc cho phụ nữ có thai và cho con bú xin xem mục Sử dụng ở phụ nữ mang thai và cho con bú).
Các triệu chứng của huyết khối tĩnh mạch (huyết khối tĩnh mạch sâu và nghẽn mạch phổi)
Nếu có các triệu chứng sau, người phụ nữ cần được chăm sóc y tế ngay và thông báo cho bác sỹ nếu đang dùng thuốc tránh thai nội tiết phối hợp.
Các triệu chứng của huyết khối tĩnh mạch sâu có thể bao gồm:
- Sưng một bên chân và/hoặc bàn chân hoặc dọc theo tĩnh mạch chân;
- Đau hoặc căng cứng ở chân chỉ có thể cảm nhận khi đứng hoặc đi bộ;
- Chân bị ảnh hưởng có cảm giác ấm hơn, da chân trở nên đỏ hoặc đổi màu.
Các triệu chứng của nghẽn mạch phổi có thể bao gồm:
- Đột ngột khởi phát thở ngắn không rõ nguyên nhân hoặc thở gấp;
- Đột ngột ho, có thể kèm ho ra máu;
- Đau buốt ở ngực;
- Chóng mặt, choáng váng nặng;
- Nhịp tim nhanh hoặc bất thường.
Một vài trong số các triệu chứng này (ví dụ: “hơi thở ngắn”, “ho”) không đặc hiệu và có thể bị hiểu sai thành những biểu hiện thông thường hoặc không nghiêm trọng (ví dụ: nhiễm khuẩn đường hô hấp).
Các dấu hiệu khác về tắc nghẽn mạch có thể bao gồm: đau đột ngột, chi bị sưng và chuyển sang màu xanh nhạt.
Nếu bị nghẽn mạch ở mắt, triệu chứng có thể thay đổi từ nhìn mờ không đau, sau đó có thể tiến triển thành mất thị lực. Đôi khi có thể không nhìn thấy hầu như ngay lập tức.
Nguy cơ huyết khối động mạch (ATE)
Các nghiên cứu dịch tễ học cho thấy có mối liên quan giữa việc dùng thuốc tránh thai nội tiết phối hợp với tăng nguy cơ huyết khối động mạch hoặc tai biến mạch máu não (ví dụ: cơn thiếu máu cục bộ thoáng qua, đột quỵ). Các biến cố huyết khối động mạch có thể gây tử vong.
Các yếu tố nguy cơ huyết khối động mạch
Nguy cơ biến chứng huyết khối động mạch (nhồi máu cơ tim) hoặc tai biến mạch máu não ở người dùng thuốc tránh thai nội tiết phối hợp tăng lên ở những phụ nữ có yếu tố nguy cơ (xem Bảng 3). Chống chỉ định Belara nếu người phụ nữ có một yếu tố nguy cơ nghiêm trọng hoặc có nhiều yếu tố nguy cơ huyết khối động mạch vì điều này gây nguy cơ cao bị huyết khối động mạch (xem mục Chống chỉ định). Nếu người phụ nữ có nhiều hơn một yếu tố nguy cơ, nguy cơ huyết khối động mạch sẽ có khả năng tăng cao hơn tổng của các yếu tố riêng lẻ - trong trường hợp này cần phải xem xét nguy cơ tổng thể của người đó. Nếu nguy cơ của việc dùng thuốc cao hơn lợi ích đem lại thì không nên dùng thuốc tránh thai nội tiết phối hợp (xem mục Chống chỉ định)
- xem Bảng 3.

Image from Drug Label Content

Các triệu chứng của huyết khối động mạch
Nếu có các triệu chứng sau, người phụ nữ cần được chăm sóc y tế ngay và thông báo cho bác sỹ nếu đang dùng thuốc tránh thai nội tiết phối hợp.
Những triệu chứng của tai biến mạch máu não có thể bao gồm:
- Đột ngột tê hoặc yếu cơ ở mặt, cánh tay hoặc chân, đặc biệt là ở cùng một bên của cơ thể;
- Đột ngột đi lại khó khăn, chóng mặt, mất khả năng giữ thăng bằng hoặc phối hợp động tác;
- Đột ngột bị lẫn lộn, nói hoặc hiểu khó;
- Đột ngột nhìn khó ở một hoặc cả hai mắt;
- Đau đầu đột ngột, đau đầu nặng hoặc kéo dài mà không rõ nguyên nhân;
- Mất nhận thức hoặc bị ngất có hoặc không có động kinh;
- Các triệu chứng tạm thời gợi ý cơn thoáng thiếu máu não (TIA).
Các triệu chứng của nhồi máu cơ tim có thể bao gồm:
- Đau, khó chịu, cảm giác bị chèn ép, tức ngực, cảm giác căng tức ở cánh tay hoặc dưới xương ức;
- Khó chịu lan tỏa ở lưng, hàm, họng, cánh tay và bụng;
- Cảm giác no đầy, khó tiêu, nghẹt thở;
- Toát mồ hôi, buồn nôn, nôn hoặc chóng mặt;
- Mệt mỏi dữ dội, lo lắng, hơi thở ngắn;
- Nhịp tim nhanh hoặc bất thường.
Người dùng thuốc tránh thai nội tiết phối hợp cần phải được thông báo rằng họ cần tham khảo ý kiến của bác sĩ trong trường hợp xuất hiện các triệu chứng có thể có của huyết khối. Nếu có nghi ngờ hoặc khẳng định huyết khối, phải ngừng Belara ngay.
Các khối u
Một vài nghiên cứu dịch tễ học cho thấy sử dụng dài ngày các thuốc tránh thai nội tiết là yếu tố nguy cơ cho sự phát triển ung thư cổ tử cung trên phụ nữ bị nhiễm HPV (human papilloma virus). Tuy nhiên, vẫn còn những tranh cãi về mức độ các kết quả này bị ảnh hưởng bởi các yếu tố gây nhiễu (như sự khác biệt về số lượng bạn tình hoặc việc sử dụng các biện pháp tránh thai cơ học) (xem thêm mục “Khám lâm sàng”).
Một phân tích gộp từ 54 nghiên cứu dịch tễ học đã báo cáo có sự tăng nhẹ nguy cơ tương đối (RR=1,24) mắc ung thư vú được chẩn đoán trên phụ nữ đang sử dụng các thuốc tránh thai nội tiết phối hợp. Nguy cơ gia tăng này chỉ thoáng qua và dần mất đi trong khoảng 10 năm sau khi ngừng dùng thuốc. Các nghiên cứu này không cung cấp bằng chứng về mối quan hệ nhân quả. Mô hình quan sát về nguy cơ gia tăng này có thể do ung thư vú được chẩn đoán sớm hơn trên người dùng thuốc tránh thai nội tiết phối hợp, do tác dụng sinh học của các thuốc này hoặc kết hợp cả hai nguyên nhân.
Trong các trường hợp lành tính hiếm gặp và trong thậm chí ít hơn các trường hợp, u gan ác tính đã được báo cáo trong quá trình sử dụng thuốc tránh thai nội tiết. Trong các trường hợp đơn lẻ, khối u gây xuất huyết ổ bụng đe dọa tính mạng. Trong trường hợp đau bụng dữ dội không tự khỏi, gan to hoặc các dấu hiệu xuất huyết ổ bụng, phải xem xét đến khả năng khối u tại gan và phải ngừng sử dụng Belara.
Các bệnh lý khác
Tâm trạng chán nản và trầm cảm là tác dụng không mong muốn thường gặp của thuốc tránh thai nội tiết (xem mục Tác dụng không mong muốn). Trầm cảm có thể bị nặng và là một yếu tố nguy cơ thường gặp dẫn đến hành vi tự tử và tự tử. Phụ nữ nên được tham vấn liên hệ với nhân viên y tế của họ trong trường hợp có những thay đổi trong tâm trạng và các triệu chứng trầm cảm ngay cả khi mới bắt đầu điều trị.
Nhiều phụ nữ dùng thuốc tránh thai nội tiết có tăng huyết áp nhẹ; tuy nhiên, tăng huyết áp có ý nghĩa lâm sàng hiếm khi xảy ra. Mối liên quan giữa việc dùng thuốc tránh thai nội tiết và tăng huyết áp biểu hiện trên lâm sàng cho tới nay vẫn chưa được khẳng định. Nếu gặp tăng huyết áp có ý nghĩa lâm sàng trong khi dùng Belara, phải ngừng dùng thuốc và điều trị tăng huyết áp. Có thể tiếp tục dùng Belara ngay khi huyết áp trở về bình thường trong khi đang điều trị tăng huyết áp.
Trên phụ nữ có tiền sử herpes sinh dục, bệnh có thể tái phát trong thời gian dùng thuốc tránh thai nội tiết phối hợp. 
Ở phụ nữ có tiền sử hoặc tiền sử gia đình tăng triglycerid máu, nguy cơ viêm tụy gia tăng trong thời gian dùng thuốc tránh thai nội tiết phối hợp. Rối loạn chức năng gan cấp tính hoặc mạn tính có thể cần ngừng dùng thuốc tránh thai phối hợp cho đến khi chức năng gan trở về bình thường. Nếu có tái phát vàng da ứ mật đã xuất hiện trong thời kỳ mang thai hoặc khi sử dụng các nội tiết tố sinh dục trước đây, cần ngừng dùng thuốc tránh thai nội tiết phối hợp.
Các thuốc tránh thai nội tiết phối hợp có thể ảnh hưởng đến sự đề kháng insulin ngoại vi hoặc sự dung nạp glucose. Do đó, bệnh nhân đái tháo đường nên được theo dõi chặt trong khi dùng các thuốc tránh thai nội tiết.
Ít khi xảy ra nám da, đặc biệt trên phụ nữ có tiền sử nám da thai kỳ. Phụ nữ có khuynh hướng bị nám da nên tránh tiếp xúc với ánh nắng mặt trời và tia tử ngoại trong thời gian dùng thuốc tránh thai nội tiết.
THẬN TRỌNG
Sử dụng estrogen hoặc kết hợp estrogen và progestogen có thể ảnh hưởng xấu trên một số bệnh và/hoặc tình trạng. Giám sát y tế đặc biệt cần thiết trong trường hợp:
- động kinh;
- xơ cứng bì rải rác;
- uốn ván;
- đau nửa đầu (xem thêm mục Chống chỉ định);
- hen phế quản;
- suy tim hoặc suy thận;
- múa giật nhẹ;
- đái tháo đường (xem mục Chống chỉ định);
- các bệnh lý gan (xem mục Chống chỉ định);
- rối loạn lipoprotein máu (xem mục Chống chỉ định);
- các bệnh tự miễn (bao gồm lupus ban đỏ hệ thống);
- béo phì;
- tăng huyết áp (xem mục Chống chỉ định);
- lạc nội mạc tử cung;
- giãn tĩnh mạch;
- viêm tĩnh mạch (xem mục Chống chỉ định);
- rối loạn đông máu (xem mục Chống chỉ định);
- bệnh tuyến vú;
- u xơ tử cung;
- herpes sinh dục;
- trầm cảm;
- viêm ruột mạn tính (bệnh Crohn, viêm loét đại tràng; xem mục Tác dụng không mong muốn).
Khám lâm sàng và tư vấn
Trước khi bắt đầu dùng hoặc bắt đầu dùng lại Belara, phải xem xét toàn bộ tiền sử bệnh của người phụ nữ (bao gồm cả tiền sử của gia đình) và loại trừ khả năng mang thai. Cần đo huyết áp và thăm khám lâm sàng theo hướng dẫn ở phần chống chỉ định (xem mục Chống chỉ định) và phần cảnh báo (xem mục Cảnh báo và thận trọng). Nên lặp lại các kiểm tra này hàng năm trong quá trình dùng Belara. Khám lâm sàng thường xuyên cũng cần thiết do các chống chỉ định (như cơn thiếu máu não cục bộ thoáng qua) hoặc các yếu tố nguy cơ (như tiền sử gia đình có huyết khối động mạch hoặc tĩnh mạch) có thể lần đầu tiên xuất hiện hoặc trở nên rõ ràng khi dùng thuốc tránh thai nội tiết. Khám lâm sàng phải bao gồm đo huyết áp, kiểm tra vú, bụng, cơ quan sinh dục trong và cơ quan sinh dục ngoài, xét nghiệm phết cổ tử cung, và các xét nghiệm cần thiết.
Điều quan trọng là lưu ý người phụ nữ các thông tin về huyết khối tĩnh mạch và huyết khối động mạch, bao gồm nguy cơ của Belara so với các thuốc tránh thai nội tiết phối hợp khác, các triệu chứng của huyết khối tĩnh mạch và huyết khối động mạch, các yếu tố nguy cơ đã biết và những việc cần làm khi nghi ngờ có huyết khối.
Người phụ nữ cần được hướng dẫn đọc kỹ tờ hướng dẫn sử dụng và tuân thủ những chỉ dẫn trong đó. Tần suất và nội dung của việc thăm khám nên dựa trên các hướng dẫn thực hành và áp dụng trên từng phụ nữ.
Người phụ nữ cần được tư vấn rằng việc dùng các thuốc tránh thai nội tiết không bảo vệ khỏi lây nhiễm HIV (AIDS) hoặc các bệnh lây truyền qua đường tình dục khác.
Thuốc không đạt hiệu quả
Quên thuốc (xem mục “dùng thuốc không thường xuyên”), nôn hoặc các rối loạn đường tiêu hóa bao gồm tiêu chảy, dùng đồng thời dài ngày với một số thuốc (xem mục Tương tác) hoặc các trường hợp rối loạn chuyển hóa rất hiếm gặp có thể làm giảm hiệu quả tránh thai của thuốc.
Ảnh hưởng đến việc kiểm soát chu kỳ
Xuất huyết lấm tấm hoặc xuất huyết giữa kỳ
Tất cả các thuốc tránh thai nội tiết đều có thể gây chảy máu âm đạo bất thường (xuất huyết lấm tấm hoặc xuất huyết giữa kỳ), đặc biệt trong một vài chu kỳ đầu khi dùng thuốc. Do đó, chỉ nên khám chu kỳ bất thường sau khi đã trải qua giai đoạn điều chỉnh khoảng 3 chu kỳ. Nếu trong quá trình dùng Belara vẫn có xuất huyết giữa kỳ dai dẳng, hoặc xảy ra khi chu kỳ trước đó bình thường, nên thăm khám để loại trừ khả năng mang thai hoặc bệnh lý. Sau khi loại trừ khả năng có thai và bệnh lý, có thể tiếp tục dùng Belara hoặc chuyển sang một thuốc tránh thai khác.
Xuất huyết giữa chu kỳ có thể là dấu hiệu giảm hiệu quả tránh thai (xem mục “dùng thuốc không thường xuyên”, “Hướng dẫn trong trường hợp có nôn” và mục Tương tác).
Không thấy xuất huyết cuối kỳ
Sau 21 ngày dùng thuốc, thường sẽ thấy xuất huyết cuối kỳ. Đôi khi, nhất là trong một vài tháng đầu dùng thuốc, có thể không thấy xuất huyết cuối kỳ. Tuy nhiên, hiện tượng này không phải là dấu hiệu thuốc bị giảm tác dụng tránh thai. Nếu không thấy xuất huyết sau một chu kỳ không bị quên thuốc, giai đoạn ngưng thuốc không kéo dài quá 7 ngày, không có thuốc nào dùng đồng thời và không bị nôn hoặc tiêu chảy, thì không có khả năng thụ thai và vẫn có thể tiếp tục dùng Belara. Nếu Belara không được dùng đúng theo chỉ dẫn trước khi không thấy xuất huyết cuối kỳ lần đầu không thấy xuất huyết cuối kỳ trong 2 chu kỳ liên tiếp, phải loại trừ khả năng mang thai trước khi tiếp tục dùng thuốc.
Không nên dùng các thuốc chứa cỏ thánh John (Hypericum perforatum) cùng với Belara (xem mục Tương tác).
Tăng ALT
Trong các thử nghiệm lâm sàng trên bệnh nhân đang chữa trị viêm gan siêu vi C (HCV) với các thuốc chứa ombitasvir, paritaprevir, ritonavir và dasabuvir kèm theo hoặc không kèm theo ribavirin, nồng độ transaminase (ALT) tăng hơn 5 lần giới hạn trên của mức thông thường (ULN) đã xuất hiện thường xuyên hơn đáng kể ở những phụ nữ sử dụng thuốc chứa ethinylestradiol như các thuốc tránh thai nội tiết phối hợp (xem mục Chống chỉ địnhTương tác).
Thuốc này có chứa lactose (dưới dạng lactose monohydrat).
Bệnh nhân mắc các bệnh di truyền hiếm gặp như không dung nạp galactose, thiếu hụt men lactase hoặc kém hấp thu glucose-galactose không nên dùng thuốc này.
Ảnh hưởng của thuốc lên khả năng lái xe, vận hành máy móc
Chưa biết các thuốc tránh thai nội tiết phối hợp có ảnh hưởng xấu lên khả năng lái xe và vận hành máy hay không.
Sử dụng ở phụ nữ có thai & cho con bú
Thời kỳ mang thai
Belara không được khuyến cáo sử dụng trong thời kỳ mang thai. Trước khi bắt đầu sử dụng thuốc, phải loại trừ khả năng có thai. Nếu mang thai trong thời gian dùng Belara, phải ngừng thuốc ngay. Cho tới nay, hầu hết các nghiên cứu dịch tễ học mở rộng không cho thấy bằng chứng lâm sàng về tác động gây quái thai hoặc độc tính trên bào thai khi vô tình dùng estrogen trong thai kỳ kết hợp với các progestogen khác ở liều tương tự viên Belara. Mặc dù vậy, các thí nghiệm trên động vật đã cho thấy bằng chứng về độc tính trên sinh sản (xem mục Dữ liệu an toàn tiền lâm sàng), các dữ liệu lâm sàng trên hơn 330 phụ nữ có thai phơi nhiễm với thuốc không cho thấy bất cứ ảnh hưởng nào trên bào thai của chlormadinon acetat.
Khi bắt đầu dùng lại Belara cần lưu ý nguy cơ huyết khối tĩnh mạch tăng lên trong thời kỳ sau sinh (xem mục Liều lượng và Cách dùngCảnh báo và thận trọng).
Thời kỳ cho con bú
Sự tiết sữa có thể bị ảnh hưởng bởi estrogen do thuốc có thể làm thay đổi số lượng và thành phần của sữa mẹ. Một lượng nhỏ steroid tránh thai và/hoặc các chất chuyển hóa của nó có thể bài tiết vào sữa mẹ và vì vậy có thể ảnh hưởng đến trẻ bú mẹ. Do đó không nên sử dụng Belara trong thời kỳ cho con bú.
Tương tác
Lưu ý: Thông tin kê đơn của các thuốc dùng đồng thời nên được tham khảo để phát hiện những tương tác có thể xảy ra.
Tương tác dược lực học
Sử dụng đồng thời với các thuốc chứa ombitasvir, paritaprevir, ritonavir và dasabuvir kèm theo hoặc không kèm ribavirin có thể làm tăng nguy cơ tăng ALT (xem mục Chống chỉ định và mục Cảnh báo và thận trọng).
Do đó, người dùng Belara nên chuyển sang các biện pháp tránh thai thay thế (ví dụ thuốc tránh thai chỉ chứa progestogen hoặc phương pháp tránh thai không dùng nội tiết tố) trước khi bắt đầu phác đồ điều trị kết hợp các thuốc nêu trên. Có thể bắt đầu sử dụng lại Belara 2 tuần sau khi hoàn thành liệu trình kết hợp các thuốc nêu trên.
Tương tác dược động học
Ảnh hưởng của các thuốc khác lên viên nén bao phim Belara
Các tương tác có thể xảy ra với những thuốc cảm ứng enzym microsom gan có thể dẫn đến tăng thanh thải nội tiết tố sinh dục và có thể gây xuất huyết giữa kỳ và/ hoặc việc tránh thai thất bại.
Xử trí
Sự cảm ứng enzym có thể quan sát thấy sau vài ngày điều trị. Mức độ cảm ứng enzym cực đại thường thấy được sau vài tuần. Sau khi ngừng thuốc, cảm ứng enzym có thể duy trì trong khoảng 4 tuần.
Điều trị ngắn hạn
Phụ nữ điều trị ngắn hạn với thuốc cảm ứng enzym nên sử dụng tạm thời biện pháp tránh thai cơ học hoặc phương pháp tránh thai khác cùng với thuốc tránh thai phối hợp đường uống. Biện pháp tránh thai cơ học nên được sử dụng trong toàn bộ thời gian điều trị đồng thời và 28 ngày sau khi ngưng thuốc.
Nếu sau khi dùng hết vỉ thuốc tránh thai mà liệu trình điều trị vẫn còn tiếp tục, nên sử dụng ngay vỉ thuốc tránh thai tiếp theo mà không cần giai đoạn ngưng thuốc 7 ngày thông thường.
Điều trị dài hạn
Ở những phụ nữ điều trị dài hạn với các thuốc cảm ứng hoạt tính enzym, khuyến cáo sử dụng biện pháp tránh thai đáng tin cậy khác không chứa nội tiết tố.
Những tương tác sau đã được báo cáo trong y văn.
Các chất làm tăng thanh thải thuốc tránh thai phối hợp đường uống (giảm hiệu quả thuốc tránh thai phối hợp đường uống do cảm ứng enzym), ví dụ:
Các barbiturat, bosentan, carbamazepin, barbexaclon, phenytoin, primidon, modafinil, rifampicin, rifabutin, và các thuốc điều trị HIV ritonavir, nevirapin, và efavirenz và cũng có thể felbamat, griseofulvin, oxcarbazepin, topiramat và các sản phẩm chứa dược liệu cỏ thánh John (Hypericum perforatum).
Các thuốc/hoạt chất dưới đây có thể làm giảm nồng độ ethinylestradiol trong huyết thanh:
- Tất cả các thuốc làm tăng nhu động dạ dày ruột (như metoclopramid) hoặc làm giảm hấp thu (như than hoạt);
Các chất có ảnh hưởng khác nhau lên độ thanh thải của thuốc tránh thai phối hợp đường uống
Khi sử dụng đồng thời với thuốc tránh thai phối hợp đường uống, sự kết hợp giữa thuốc ức chế HIV-protease và thuốc ức chế enzym phiên mã ngược không nucleosid, kể cả khi kết hợp với thuốc ức chế HCV có thể làm tăng hoặc giảm nồng độ của estrogen hoặc progestin trong huyết tương. Tác động chung của sự thay đổi này có thể có tương quan lâm sàng trong một vài trường hợp.
Do đó nên tham khảo thông tin kê đơn của thuốc HIV/HCV sử dụng đồng thời để xác định các tương tác có thể xảy ra và các khuyến cáo liên quan. Trong trường hợp có nghi ngờ, cần dùng thêm biện pháp tránh thai cơ học đối với những phụ nữ đang điều trị với thuốc ức chế protease hoặc thuốc ức chế enzym phiên mã ngược không nucleosid.
Các thuốc/hoạt chất dưới đây có thể làm tăng nồng độ ethinylestradiol huyết thanh:
- các hoạt chất ức chế quá trình sulphat hóa ethinylestradiol tại thành ruột non, như acid ascorbic hoặc paracetamol;
- atorvastatin (làm tăng 20% diện tích dưới đường cong hấp thu của ethinylestradiol);
- các hoạt chất ức chế enzym microsom gan như các thuốc kháng nấm nhóm imidazol (ví dụ fluconazol), indinavir hoặc troleandomycin.
Ảnh hưởng của viên nén bao phim Belara lên các thuốc khác
- Bằng cách ức chế enzym microsom gan và kết quả là làm tăng nồng độ huyết thanh của các hoạt chất như diazepam (và các benzodiazepin khác được chuyển hóa bằng con đường hydroxyl hóa), ciclosporin, theophylin và prednisolon;
- Bằng cách cảm ứng quá trình liên hợp glucuronid tại gan và kết quả là làm giảm nồng độ huyết thanh của một số thuốc như lamotrigin, clofibrat, paracetamol, morphin và lorazepam.
Nhu cầu sử dụng insulin và các thuốc chống đái tháo đường dùng đường uống có thể thay đổi do ảnh hưởng lên khả năng dung nạp glucose (xem mục Cảnh báo và thận trọng).
Điều này cũng có thể áp dụng với các thuốc dùng trong thời gian gần.
Nên kiểm tra bản tóm tắt đặc tính thuốc của các thuốc được kê đơn về khả năng tương tác với Belara.
Các xét nghiệm
Việc sử dụng các thuốc tránh thai nội tiết có thể ảnh hưởng kết quả một số xét nghiệm, bao gồm các chỉ số sinh hóa chức năng gan, thận, thượng thận và tuyến giáp, nồng độ huyết tương của các protein mang (như globulin gắn corticosteroid, mảnh lipid/lipoprotein), các thông số chuyển hóa carbohydrat, thông số đông máu và tiêu fibrin. Các thay đổi này nhìn chung vẫn trong giới hạn xét nghiệm bình thường.
Tương kỵ
Không áp dụng.
Tác dụng không mong muốn
Các nghiên cứu lâm sàng với Belara cho thấy các tác dụng phụ phổ biến nhất (> 20%) là xuất huyết giữa kỳ, xuất huyết lấm tấm, đau đầu và đau vú. Chảy máu bất thường thường giảm khi tiếp tục dùng Belara.
Các tác dụng phụ dưới đây đã được báo cáo trong một nghiên cứu lâm sàng trên 1.629 phụ nữ sau khi dùng Belara.
- xem Bảng 4.

Image from Drug Label Content

Ngoài ra, những phản ứng bất lợi sau đây có liên quan đến ethinylestradiol và chlormadinon acetat đã được báo cáo trong quá trình sử dụng thuốc hậu mại: suy nhược, các phản ứng dị ứng ngoài da khác không liên quan đến rối loạn hệ thống miễn dịch.
Mô tả các phản ứng bất lợi được lựa chọn
Các tác dụng phụ dưới đây cũng được báo cáo khi dùng các thuốc tránh thai nội tiết phối hợp chứa 0,030 mg ethinylestradiol và 2 mg chlormadinon acetat:
- Tăng nguy cơ huyết khối tĩnh mạch và huyết khối động mạch và biến cố thuyên tắc mạch, bao gồm nhồi máu cơ tim, đột quỵ, cơn thiếu máu cục bộ thoáng qua, huyết khối tĩnh mạch và nghẽn mạch phổi đã được ghi nhận ở phụ nữ dùng thuốc tránh thai nội tiết phối hợp như được nêu chi tiết ở mục Cảnh báo và thận trọng;
- Tăng nguy cơ các bệnh đường mật cũng đã được báo cáo trong một số nghiên cứu sử dụng dài ngày các thuốc tránh thai nội tiết phối hợp;
- Trong các trường hợp lành tính hiếm gặp, và thậm chí hiếm gặp hơn, các khối u ác tính tại gan đã được quan sát thấy sau khi dùng các thuốc tránh thai nội tiết, đã dẫn đến xuất huyết ổ bụng đe dọa tính mạng (xem mục Cảnh báo và thận trọng);
- Trầm trọng thêm bệnh viêm ruột mạn tính (bệnh Crohn, viêm loét đại tràng; xem mục Cảnh báo và thận trọng).
Các tác dụng phụ nghiêm trọng khác như ung thư cổ tử cung, ung thư vú; xem mục Cảnh báo và thận trọng.
Tương tác
Xuất huyết giữa kỳ và/hoặc tránh thai thất bại có thể xảy ra do tương tác với các thuốc khác (thuốc cảm ứng enzym) (xem phần Tương tác).
Báo cáo các phản ứng bất lợi nghi ngờ
Việc báo cáo các phản ứng bất lợi nghi ngờ sau khi thuốc được cấp phép lưu hành là quan trọng. Điều này cho phép tiếp tục theo dõi cán cân lợi ích-nguy cơ của sản phẩm. Cán bộ y tế cần báo cáo bất kỳ phản ứng bất lợi nghi ngờ nào qua hệ thống báo cáo quốc gia.
Quá liều
Không có thông tin về độc tính nghiêm trọng của thuốc trong trường hợp quá liều. Các triệu chứng dưới đây có thể xảy ra: buồn nôn, nôn và đặc biệt ở các cô gái trẻ, chảy máu âm đạo nhẹ. Không có thuốc giải độc, chỉ điều trị triệu chứng. Theo dõi cân bằng nước, điện giải và chức năng gan có thể cần thiết trong rất hiếm trường hợp.
Bảo quản
Điều kiện bảo quản: Bảo quản nơi khô ráo, ở nhiệt độ không quá 30oC.
Hạn dùng: 24 tháng kể tử ngày sản xuất.
Phân loại MIMS
Thuốc uống ngừa thai
Phân loại ATC
G03AA15 - chlormadinone and ethinylestradiol ; Belongs to the class of progestogens and estrogens in fixed combinations. Used as systemic contraceptives.
Trình bày
Viên nén bao phim: hộp 1 vỉ x 21 viên, hộp 3 vỉ x 21 viên.
Register or sign in to continue
Asia's one-stop resource for medical news, clinical reference and education
Already a member? Sign in
Register or sign in to continue
Asia's one-stop resource for medical news, clinical reference and education
Already a member? Sign in