Berodual

Berodual Dược động học

ipratropium + fenoterol

Nhà sản xuất:

Boehringer Ingelheim
Thông tin kê toa chi tiết tiếng Việt
Dược động học
Tác dụng điều trị của việc kết hợp ipratropium bromide và fenoterol hydrobromide là tác dụng tại chỗ trên đường hô hấp. Do đó tác dụng dược lực của việc gây giãn phế quản không liên quan đến dược động học của các hoạt chất trong chế phẩm.
Nhìn chung sau khi hít, từ 10 đến 39% liều dùng vào phổi, phụ thuộc dạng bào chế, kỹ thuật hít và thiết bị, trong khi phần còn lại của liều dùng đọng ở ống ngậm, miệng và đường hô hấp trên (hầu họng). Một lượng tương tự của liều dùng vào đường hô hấp trên sau khi hít từ bình xịt định liều chứa chất đẩy HFA 134a. Đặc biệt, sau khi hít dung dịch bằng bình xịt RESPIMAT, lượng thuốc lắng đọng tại phổi tăng gấp 2 lần so với hít bằng bình xịt định liều. Đồng thời, lượng thuốc lắng đọng ở hầu họng khi dùng RESPIMAT cũng giảm đáng kể so với dụng cụ xịt định liều. Phần thuốc vào phổi nhanh chóng vào vòng tuần hoàn (trong vòng vài phút). Lượng thuốc vào hầu họng được nuốt xuống từ từ và qua đường tiêu hóa. Do đó tiếp xúc toàn thân phụ thuộc vào sinh khả dụng của cả đường uống lẫn từ phổi.
Không có bằng chứng về sự khác biệt dược động học cho các thành phần trong công thức kết hợp so với đơn chất.
Fenoterol hydrobromide
Lượng thuốc nuốt vào chủ yếu được chuyển hóa thành dạng liên hợp sulphate. Sinh khả dụng tuyệt đối sau khi uống thấp (khoảng 1,5%).
Fenoterol dạng tự do và dạng liên hợp được thải trừ trong nước tiểu tích lũy 24 giờ tương ứng khoảng 15% và 27% liều được tiêm qua tĩnh mạch.
Sau khi hít qua BERODUAL bình xịt định liều, khoảng 1% liều hít được thải trừ dưới dạng fenoterol tự do trong nước tiểu 24 giờ. Dựa trên dữ liệu này, tổng sinh khả dụng toàn thân của fenoterol hydrobromide dạng hít khoảng 7%.
Các thông số dược động về sự lắng đọng fenoterol được tính từ nồng độ thuốc trong huyết tương sau khi tiêm tĩnh mạch. Sau khi tiêm tĩnh mạch, nồng độ thuốc theo thời gian trong huyết tương được mô tả theo kiểu 3 ngăn, với thời gian bán thải tận chiếm khoảng 3 giờ. Và theo kiểu 3 ngăn này, thể tích phân bố biểu kiến của fenoterol ở trạng thái ổn định (Vdss) khoảng 189 L (≈ 2,7 L/kg).
Khoảng 40% thuốc liên kết với protein huyết tương.
Những nghiên cứu tiền lâm sàng trên chuột cho thấy fenoterol và chất chuyển hóa của nó không qua hàng rào máu não. Fenoterol có tổng thanh thải 1,8 L/phút và thanh thải qua thận là 0,27 L/phút. Trong một nghiên cứu về cân bằng thải trừ, sau khi tiêm qua tĩnh mạch, sự thải trừ tích lũy qua thận (trong 2 ngày) của thuốc đánh dấu phóng xạ chiếm khoảng 65% (gồm thành phần gốc và các chất chuyển hóa), và lượng chất đánh dấu phóng xạ thải qua phân chiếm 14,8% liều.
Sau khi uống, tổng lượng chất đánh dấu phóng xạ được bài tiết qua nước tiểu khoảng 39% liều dùng và tổng lượng chất đánh dấu phóng xạ được bài tiết qua phân là 40,2% liều dùng trong vòng 48 giờ.
Ipratropium bromide
Bài tiết qua thận tích lũy (0-24 giờ) của ipratropium (hợp chất gốc) là khoảng 46% với liều tiêm tĩnh mạch, dưới 1% với liều uống và khoảng 3 đến 13% với liều hít BERODUAL qua bình hít định liều. Dựa trên dữ liệu này, sinh khả dụng toàn thân của ipratropium bromide dạng uống và hít tương ứng khoảng 2% và 7 đến 28%. Điều này cho thấy tỷ lệ liều nuốt vào của ipratropium bromide không đóng góp đáng kể vào nồng độ toàn thân.
Các thông số động học của sự lắng đọng ipratropium được tính từ nồng độ thuốc trong huyết tương sau khi tiêm tĩnh mạch. Nồng độ thuốc trong huyết tương được quan sát giảm nhanh theo 2 giai đoạn.Thể tích phân bố biểu kiến ở trạng thái ổn định (Vdss) khoảng 176 L (≈ 2,4 L/kg). Lượng thuốc kết hợp với protein huyết tương rất thấp (ít hơn 20%). Các nghiên cứu tiền lâm sàng trên chuột và chó cho thấy amine ipratropium bậc bốn không qua hàng rào máu não.
Thời gian bán thải của pha thải trừ cuối khoảng 1,6 giờ. Ipratropium có tổng lượng thanh thải là 2,3 L/phút và thanh thải qua thận là 0,9 L/phút.
Trong một nghiên cứu về cân bằng bài tiết, sự bài tiết qua thận tích lũy (trong 6 ngày) của thuốc đánh dấu phóng xạ (bao gồm thành phần gốc và tất cả các chất chuyển hóa) là 72,1% khi tiêm tĩnh mạch, 9,3% sau uống và 3,2% sau hít. Tổng lượng chất đánh dấu phóng xạ bài tiết qua phân là 6,3% sau khi tiêm tĩnh mạch, 88,5% sau uống và 69,4% sau hít. Liên quan đến thải trừ thuốc đánh dấu phóng xạ sau khi tiêm tĩnh mạch, phần lớn bài tiết qua thận. Thời gian bán thải của thuốc đánh dấu phóng xạ (thành phần gốc và chất chuyển hóa) là 3,6 giờ. Liên kết của chất chuyển hóa chính qua nước tiểu với thụ thể muscarinic là không đáng kể và các chất chuyển hóa này được cho là không có tác dụng.
Register or sign in to continue
Asia's one-stop resource for medical news, clinical reference and education
Already a member? Sign in