NEW
Cosyrel

Cosyrel Dược lực học

Nhà sản xuất:

Servier
Thông tin kê toa chi tiết tiếng Việt
Dược lực học
Nhóm dược điều trị: Phối hợp với bisoprolol.
Mã ATC: C09BX02.
Cơ chế tác dụng
Bisoprolol
Bisoprolol là một thuốc phong bế thụ thể beta-1 adrenergic có tính chọn lọc cao, không có hoạt tính ổn định màng đáng kể và không có hoạt tính kích thích giao cảm nội tại. Thuốc này chỉ thể hiện ái lực thấp với thụ thể beta 2 trên cơ trơn phế quản và mạch máu cũng như thụ thể beta 2 liên quan đến điều hòa chuyển hóa. Do đó, nhìn chung bisoprolol được dự đoán là không ảnh hưởng đến sức cản đường thở và không ảnh hưởng đến chuyển hóa thông qua thụ thể beta 2. Tính chọn lọc trên beta 1 của thuốc thể hiện trong toàn bộ khoảng liều điều trị của thuốc.
Perindopril
Perindopril là một thuốc ức chế enzym chuyển angiotensin thành angiotensin II (ACE). Enzym chuyển, còn gọi là kinase, là một exopeptidase xúc tác cho phản ứng chuyển angiotensin I thành angiotensin II có hoạt tính co mạch, đồng thời xúc tác cho phản ứng giáng hóa bradykinin có hoạt tính giãn mạch thành một heptapeptid không có hoạt tính. Ức chế enzym chuyển dẫn đến giảm angiotensin II trong huyết tương, tăng hoạt tính renin huyết thanh (thông qua ức chế feedback âm tính quá trình giải phóng renin) và giảm bài tiết aldosteron. Do enzym chuyển bất hoạt bradykinin, ức chế enzym này cũng dẫn đến tăng hoạt tính của hệ kallikrein-kinin tại chỗ và trong tuần hoàn (do đó cũng hoạt hóa hệ prostaglandin). Cơ chế này có thể đóng góp vào tác dụng hạ huyết áp của thuốc ức chế enzym chuyển và chịu trách nhiệm một phần cho một số tác dụng bất lợi (như ho).
Perindopril tác dụng thông qua chất chuyển hóa có hoạt tính của nó là perindoprilat. Các chất chuyển hóa khác không thể hiện hoạt tính ức chế enzym chuyển in vitro.
Tác dụng dược lý
Bisoprolol
Bisoprolol không thể hiện tác dụng làm giảm sức co bóp của tim rõ rệt.
Bisoprolol đạt được tác dụng tối đa sau 3-4 giờ kể từ khi sử dụng thuốc. Do thời gian bán thải của thuốc khoảng 10-12 giờ, bisoprolol duy trì tác dụng trong 24 giờ.
Tác dụng hạ huyết áp tối đa của bisoprolol thường đạt được sau 2 tuần.
Khi sử dụng cấp trên các bệnh nhân mắc bệnh tim mạch vành không kèm suy tim mạn, bisoprolol làm giảm nhịp tim và thể tích nhát bóp, do đó làm giảm cung lượng tim và tiêu thụ oxy của tim. Khi sử dụng dài hạn, sức cản ngoại vi ban đầu cao sẽ được giảm xuống sau đó. Giảm hoạt tính renin huyết tương là một cơ chế đã được đề xuất cho tác dụng điều trị tăng huyết áp của các thuốc chẹn beta.
Bisoprolol làm giảm đáp ứng cường giao cảm bằng cách phong bế các thụ thể beta-adrenergic trên tim. Điều này dẫn đến giảm nhịp tim và sức co bóp của cơ tim, làm giảm mức tiêu thụ oxy của cơ tim - tác dụng mong muốn trong điều trị đau thắt ngực liên quan đến tiền sử bệnh tim mạch vành.
Perindopril
Tăng huyết áp:
Perindopril thể hiện hiệu quả điều trị đối với mọi mức độ tăng huyết áp: nhẹ, trung bình, nặng; thuốc làm giảm huyết áp tâm thu và huyết áp tâm trương ở cả tư thế nằm ngửa và tư thế đứng. Perindopril làm giảm sức cản mạch ngoại vi dẫn đến giảm huyết áp. Kết quả là lưu lượng máu ngoại vi tăng lên và không ảnh hưởng đến nhịp tim.
Lưu lượng máu qua thận tăng trong khi mức lọc cầu thận (GFR) thường không thay đổi.
Suy tim:
Perindopril làm giảm gánh nặng cho tim bằng cách giảm tiền gánh và hậu gánh.
Độ an toàn và hiệu quả lâm sàng
Bisoprolol
Trong tổng số 2647 bệnh nhân tham gia vào thử nghiệm CIBIS II, 83% (n = 2202) bệnh nhân được phân loại NYHA độ III và 17% được phân loại NYHA độ IV. Các bệnh nhân này đã được chẩn đoán suy tim tâm thu triệu chứng ổn định (phân suất tống máu < 35% theo kết quả điện tâm đồ). Tỷ lệ tử vong tổng cộng giảm từ 17,3% xuống 11,8% (mức giảm tương đối 34%). Giảm đột tử (3,6% so với 6,3%, tỷ lệ giảm tương đối 44%) và giảm số đợt bùng phát suy tim cần phải nhập viện (12% so với 17,6%, tỷ lệ giảm tương đối 36%) đã được ghi nhận. Ngoài ra, cũng ghi nhận sự cải thiện tình trạng chức năng theo NYHA. Trong giai đoạn khởi đầu điều trị và hiệu chuẩn liều bisoprolol, nhập viện do nhịp tim chậm (0,53%), tụt huyết áp (0,23%) và đợt mất bù cấp (4,97%) đã được ghi nhận, tuy nhiên, tần suất gặp các biến cố này không cao hơn so với nhóm placebo (0%, 0,3% và 6,47%). Số ca đột quỵ gây tử vong hoặc để lại di chứng trong toàn bộ nghiên cứu là 20 đối với nhóm bisoprolol và 15 đối với nhóm placebo.
Thử nghiệm CIBIS III được tiến hành trên 1010 bệnh nhân ≥65 tuổi mắc suy tim mạn tính mức độ nhẹ đến trung bình (suy tim mạn tính độ II hoặc III theo phân loại NYHA) với phân suất tống máu ≤35% và chưa được điều trị trước đó bằng thuốc ức chế enzym chuyển, thuốc chẹn beta hoặc thuốc chẹn thụ thể angiotensin. Các bệnh nhân tham gia nghiên cứu được điều trị bằng phác đồ phối hợp bisoprolol và enalapril trong 6 đến 24 tháng sau khi đã được điều trị ban đầu bằng bisoprolol hoặc enalapril đơn độc trong 6 tháng.
Tần suất xuất hiện biến cố suy tim mạn tính tiến triển nặng hơn có xu hướng tăng khi sử dụng bisoprolol đơn độc trong 6 tháng đầu tiên. Phân tích theo protocol chưa chứng minh được sự không thua kém giữa phác đồ điều trị ban đầu bằng bisoprolol và enalapril mặc dù hai phác đồ điều trị ban đầu suy tim mạn tính này đã thể hiện kết quả đương nhau về tiêu chí kết hợp chính là tỷ lệ chết tử vong và nhập viện tại thời điểm kết thúc nghiên cứu (32,4% trong nhóm điều trị ban đầu bằng bisoprolol so với 33,1% trong nhóm điều trị ban đầu bằng enalapril, quần thể bệnh nhân theo protocol). Nghiên cứu này cho thấy bisoprolol cũng có thể được sử dụng trên các bệnh nhân cao tuổi mắc suy tim mạn tính mức độ nhẹ đến trung bình.
Perindopril
Tăng huyết áp:
Perindopril thể hiện hiệu quả điều trị đối với mọi mức độ tăng huyết áp: nhẹ, trung bình, nặng; thuốc làm giảm huyết áp tâm thu và huyết áp tâm trương ở cả tư thế nằm ngửa và tư thế đứng.Perindopril làm giảm sức cản mạch ngoại vi dẫn đến giảm huyết áp. Kết quả là lưu lượng máu ngoại vi tăng lên và không ảnh hưởng đến nhịp tim.
Lưu lượng máu qua thận tăng trong khi mức lọc cầu thận (GFR) thường không thay đổi.
Tác dụng điều trị tăng huyết áp tối ưu đạt được trong khoảng từ 4 đến 6 giờ sau khi dùng liều đơn và duy trì tối thiểu 24 giờ: tác dụng đáy bằng khoảng 87 - 100% tác dụng đỉnh.
Tác dụng hạ huyết áp xuất hiện nhanh. Trên các bệnh nhân có đáp ứng, sự bình thường hóa huyết áp đạt được trong vòng một tháng, không kèm phản xạ tăng nhịp tim.
Việc ngừng điều trị không gây hiệu ứng bật lại.
Perindopril làm giảm phì đại tâm thất trái.
Trên người, perindopril đã được chứng minh đặc tính gây giãn mạch. Thuốc này có tác dụng cải thiện tính đàn hồi của các động mạch lớn và giảm tỷ lệ thành mạch/lòng mạch của các động mạch nhỏ.
Phác đồ bổ trợ bằng thuốc lợi tiểu thiazid tạo ra tác dụng hiệp đồng cộng. Phối hợp một thuốc ức chế enzym chuyển và một thiazid cũng có tác dụng làm giảm nguy cơ hạ kali máu do thuốc lợi tiểu.
Suy tim:
Các nghiên cứu trên bệnh nhân suy tim đã chứng minh tác dụng:
- giảm áp lực làm đầy thất phải,
- giảm sức cản mạch ngoại vi toàn thân,
- tăng cung lượng tim và cải thiện chỉ số của tim.
Trong các nghiên cứu so sánh, điều trị khởi đầu với 2,5 mg peridopril arginin trên các bệnh nhân suy tim mức độ nhẹ đến trung bình không gây hạ huyết áp đáng kể so với placebo.
Bệnh nhân mắc bệnh động mạch vành ổn định:
Nghiên cứu EUROPA là một thử nghiệm lâm sàng đa trung tâm, ngẫu nhiên, mù đôi, có đối chứng placebo, kéo dài 4 năm.
12218 bệnh nhân trên 18 tuổi được lựa chọn ngẫu nhiên vào nhóm điều trị bằng perindopril tert-butylamin liều 8 mg (tương đương 10 mg perindopril arginin) (n = 6110) hoặc placebo (n = 6108). Các bệnh nhân tham gia vào thử nghiệm này có biểu hiện bệnh động mạch vành không kèm các triệu chứng lâm sàng của suy tim. Tổng cộng 90% bệnh nhân có tiền sử nhồi máu cơ tim và/hoặc tái thông mạch vành. Phần lớn các bệnh nhân được điều trị theo phác đồ thường dùng bao gồm thuốc ức chế tiểu cầu, thuốc hạ lipid và thuốc chẹn beta.
Tiêu chí hiệu quả chính bao gồm tỷ lệ tử vong liên quan đến biến cố tim mạch, nhồi máu cơ tim không gây tử vong và/hoặc ngừng tim được cấp cứu thành công. Sử dụng 8 mg perindopril tert-butylamin (tương đương 10 mg perindopril arginin) một lần mỗi ngày cải thiện đáng kể tiêu chí chính với tỷ lệ giảm tuyệt đối là 1,9% (giảm nguy cơ tương đối 20%, độ tin cậy 95% [9,4; 28,6) - p<0,001). Trên các bệnh nhân có tiền sử nhồi máu cơ tim và/hoặc tái thông mạch máu, đã ghi nhận sự giảm tiêu chí chính với tỷ lệ giảm tuyệt đối 2,2%, tương ứng với mức giảm nguy cơ tương đối 22,4% (độ tin cậy 95% [12,0; 31,6] – p<0,001) so với placebo.
Trong phân tích hậu kiểm trên một phân nhóm các bệnh nhân từ nghiên cứu EUROPA được điều trị bằng thuốc chẹn beta, việc bổ sung thêm perindopril vào phác đồ thuốc chẹn beta (n = 3789) thể hiện tác dụng làm giảm đáng kể tiêu chí kết hợp bao gồm tỷ lệ tử vong liên quan đến biến cố tim mạch, nhồi máu cơ tim không gây tử vong và/hoặc ngừng tim được cấp cứu thành công với tỷ lệ giảm tuyệt đối 2,2% (giảm nguy cơ tương đối 24%, độ tin cậy 95% [9,5; 36,4]) so với phác đồ thuốc chẹn beta không kèm perindopril.
Dữ liệu thử nghiệm lâm sàng liên quan đến ức chế kép hệ renin-angiotensin-aldosteron (RAAS):
Hai thử nghiệm lâm sàng lớn được thiết kế ngẫu nhiên, có đối chứng (ONTARGET (ONgoing Telmisartan Alone and in combination with Ramipril Global Endpoint Trial) và VA NEPHRON-D (The Veterans Affairs Nephropathy in Diabetes) đã đánh giá phác đồ phối hợp một thuốc ức chế enzym chuyển với một thuốc chẹn thụ thể angiotensin II.
Nghiên cứu ONTARGET được tiến hành trên các bệnh nhân có tiền sử bệnh tim mạch, bệnh mạch máu não hoặc đái tháo đường tuýp 2 kèm bằng chứng tổn thương cơ quan đích. Nghiên cứu VA NEPHRON-D được tiến hành trên các bệnh nhân đái tháo đường tuýp 2 và bệnh thận do đái tháo đường.
Hai nghiên cứu này không cho thấy bất kì tác dụng có lợi nào đối với các kết cuộc tim mạch và/hoặc thận cũng như tỷ lệ tử vong, mặt khác, phác đồ phối hợp kể trên làm tăng nguy cơ tăng kali máu, tổn thương thận cấp và/hoặc tụt huyết áp so với phác đồ đơn thành phần. Do đặc tính dược lực học tương tự nhau giữa các thuốc cùng nhóm, các kết quả này cũng có thể ngoại suy cho các thuốc ức chế enzym chuyển và thuốc chẹn thụ thể angiotensin II khác.
Do đó, không nên sử dụng đồng thời các thuốc ức chế enzym chuyển và thuốc chẹn thụ thể angiotensin II trên các bệnh nhân mắc bệnh thận do đái tháo đường.
Nghiên cứu ALTITUDE (Aliskiren Trial in Type 2 Diabetes Using Cardiovascular and Renal Disease Endpoints) được thiết kế để đánh giá lợi ích của việc thêm aliskiren vào phác đồ chuẩn với một thuốc ức chế enzym chuyển hoặc một thuốc chẹn thụ thể angiotensin II trên các bệnh nhân mắc bệnh đái tháo đường tuýp II và bệnh thận mạn, bệnh tim mạch hoặc mắc đồng thời các bệnh này. Nghiên cứu đã được kết thúc sớm do tăng nguy cơ gặp các kết cuộc bất lợi. Đột quỵ và tử vong do biến cố tim mạch xuất hiện với tần suất cao hơn ở nhóm aliskiren so với placebo, đồng thời các biến cố bất lợi và tác dụng không mong muốn nghiêm trọng (tăng kali máu, tụt huyết áp và rối loạn chức năng thận) cũng thường gặp hơn ở nhóm aliskiren so với nhóm placebo.
Đối tượng bệnh nhi:
Chưa có dữ liệu về sử dụng COSYREL trên trẻ em.
Register or sign in to continue
Asia's one-stop resource for medical news, clinical reference and education
Sign up for free
Already a member? Sign in