Darzalex

Darzalex Dược động học

daratumumab

Nhà sản xuất:

Janssen-Cilag
Thông tin kê toa chi tiết tiếng Việt
Dược động học
Dược động học của daratumumab sau khi đơn trị liệu daratumumab đường tĩnh mạch đã được đánh giá ở những bệnh nhân đa u tủy tái phát và kháng trị ở liều từ 0,1 mg/kg đến 24 mg/kg. Một mô hình dược động học quần thể của daratumumab cũng được xây dựng để mô tả các đặc tính dược động học của daratumumab và để đánh giá ảnh hưởng của các biến số liên quan đến phân bố của daratumumab ở bệnh nhân đa u tủy. Phân tích dược động học quần thể bao gồm 223 bệnh nhân đơn trị liệu DARZALEX trong hai thử nghiệm lâm sàng (150 đối tượng dùng 16 mg/kg).
Trong nhóm dùng từ 1 đến 24 mg/kg, tỷ lệ tăng nồng độ đỉnh trong huyết tương (Cmax) sau khi dùng liều đầu tiên xấp xỉ tỷ lệ tăng liều dùng và thể tích phân bố phù hợp với sự phân bố ban đầu vào ngăn huyết tương. Sau khi truyền tại tuần cuối, Cmax tăng nhanh hơn so với tỷ lệ theo liều, phù hợp với sự phân bố thuốc qua trung gian đích. Tỷ lệ tăng AUC lớn hơn tỉ lệ tăng liều và độ thanh thải (CL) giảm khi liều tăng. Những quan sát này gợi ý rằng CD38 có thể trở nên bão hòa ở các mức liều cao hơn, và sau đó ảnh hưởng của thanh thải từ liên kết đích là tối thiểu và sự thanh thải daratumumab xấp xỉ thanh thải tuyến tính của IgG1 nội sinh. Thanh thải thuốc cũng giảm khi dùng đa liều, có thể liên quan đến giảm số lượng và kích thước khối u.
Thời gian bán thải cuối tăng lên khi tăng liều và khi dùng đa liều. Thời gian bán thải trung bình (độ lệch chuẩn [SD]) ước tính của daratumumab sau liều 16 mg/kg đầu tiên là 9 (4,3) ngày. Thời gian bán thải ước tính của daratumumab sau liều 16 mg/kg cuối cùng tăng lên, nhưng không có đủ dữ liệu để ước tính một cách tin cậy. Dựa trên phân tích dược động học quần thể, thời gian bán thải trung bình (SD) liên quan đến thải trừ tuyến tính không đặc hiệu là khoảng 18 (9) ngày; đây là thời gian bán thải cuối cùng mà có thể được mong đợi khi đã bão hòa hoàn toàn thanh thải qua trung gian đích và chế độ đa liều của daratumumab.
Ở cuối giai đoạn dùng liều hàng tuần theo chế độ liều đơn trị liệu được khuyến cáo và liều 16 mg/kg, giá trị Cmax trong huyết thanh trung bình (SD) là 915 (410,3) microgam/mL, cao hơn khoảng 2,9 lần so với lần truyền đầu tiên. Nồng độ huyết thanh trước khi truyền (đáy) trung bình (SD) vào cuối chế độ liều dùng hàng tuần là 573 (331,5) microgram/mL.
Dựa trên phân tích dược động học quần thể đối với đơn trị liệu daratumumab, trạng thái ổn định của daratumumab đạt được sau khoảng 5 tháng vào mỗi giai đoạn đưa liều mỗi 4 tuần (đến liều truyền thứ 21) và tỷ số trung bình (SD) của Cmax ở trạng thái ổn định trên Cmax sau lần đưa liều đầu tiên là 1,6 (0,5). Thể tích phân bố ở ngăn trung tâm trung bình (SD) là 56,98 (18,07) mL/kg.
Phân tích dược động học quần thể bổ sung đã được thực hiện ở những bệnh nhân đa u tủy có dùng daratumumab trong nhiều phác đồ kết hợp khác nhau từ bốn thử nghiệm lâm sàng (694 bệnh nhân, trong đó 684 dùng daratumumab ở liều 16 mg/kg). Dữ liệu nồng độ - thời gian của daratumumab tương tự nhau sau liệu pháp đơn trị liệu và điều trị phối hợp. Thời gian bán thải cuối cùng ước tính trung bình (SD) liên quan đến thanh thải tuyến tính trong liệu pháp phối hợp là khoảng 23 (12) ngày.
Dựa trên phân tích dược động học quần thể, đã xác định trọng lượng là một yếu tố có ý nghĩa thống kê của thanh thải daratumumab. Do đó, việc sử dụng theo trọng lượng cơ thể là một chiến lược đưa liều phù hợp cho bệnh nhân đa u tủy.
Các quần thể dân số đặc biệt
Tuổi và giới tính
Dựa trên phân tích dược động học quần thể ở bệnh nhân dùng đơn trị liệu daratumumab, tuổi (khoảng dao động từ 31 đến 84 tuổi) không có ảnh hưởng quan trọng về lâm sàng trên dược động học của daratumumab, và phơi nhiễm với daratumumab tương tự nhau giữa các bệnh nhân trẻ hơn (<65 tuổi, n=127) và các bệnh nhân cao tuổi hơn (tuổi ≥65, n=96; tuổi ≥75, n=18; tuổi ≥85, n=0). Tương tự với đơn trị liệu, không quan sát thấy ảnh hưởng quan trọng về mặt lâm sàng của tuổi đối với phơi nhiễm daratumumab trong phân tích dược động học quần thể ở các bệnh nhân được điều trị phối hợp. Sự khác biệt về phơi nhiễm nằm trong khoảng 6% giữa các bệnh nhân trẻ hơn (tuổi <65, n=352; hoặc tuổi <75, n=630) với các bệnh nhân cao tuổi hơn (tuổi ≥65, n=342; hoặc tuổi ≥75, n=64).
Giới tính không ảnh hưởng đến phơi nhiễm của daratumumab với mức độ có ý nghĩa lâm sàng trong cả hai phân tích dược động học quần thể.
Suy thận
Không thực hiện nghiên cứu chính thức về daratumumab ở bệnh nhân suy thận. Phân tích dược động học quần thể được thực hiện dựa trên dữ liệu chức năng thận đã có ở bệnh nhân dùng đơn trị liệu daratumumab, bao gồm 71 bệnh nhân có chức năng thận bình thường (độ thanh thải creatinin [CRCL] ≥90mL/phút), 78 bệnh nhân suy thận nhẹ (CRCL <90 và ≥60mL/phút, 68 bệnh nhân suy thận trung bình (CRCL <60 và ≥30mL/phút) và 6 bệnh nhân suy thận nặng hoặc có bệnh thận giai đoạn cuối (CRCL <30mL/phút). Không có sự khác biệt quan trọng về mặt lâm sàng về mức độ phơi nhiễm daratumumab giữa những bệnh nhân suy thận và những người có chức năng thận bình thường. Các phân tích dược động học quần thể bổ sung ở bệnh nhân điều trị kết hợp cũng cho thấy không có sự khác biệt quan trọng về mặt lâm sàng về mức độ phơi nhiễm daratumumab giữa bệnh nhân suy thận (nhẹ, n=264; trung bình, n=166; nặng, n=12) và những người có chức năng thận bình thường (n=251).
Suy gan
Không tiến hành nghiên cứu chính thức về daratumumab ở những bệnh nhân bị suy gan. Sự thay đổi chức năng gan dường như không có bất kỳ tác dụng nào trên sự thải trừ của daratumumab do các phân tử IgG1 như daratumumab không được chuyển hóa qua các con đường chuyển hóa ở gan.
Phân tích dược động học quần thể của bệnh nhân dùng đơn trị liệu bằng daratumumab bao gồm 189 bệnh nhân có chức năng gan bình thường (bilirubin toàn phần [TB] và aspartate aminotransferase [AST] ≤ giới hạn trên bình thường [ULN] và 34 bệnh nhân suy gan nhẹ (TB 1,0x đến 1,5xULN hoặc AST>ULN). Không quan sát thấy có sự khác biệt quan trọng về lâm sàng về mức độ phơi nhiễm daratumumab giữa những bệnh nhân suy gan nhẹ và những người có chức năng gan bình thường. Phân tích dược động học quần thể bổ sung ở bệnh nhân đa u tủy dùng daratumumab trong các liệu pháp phối hợp khác nhau bao gồm 598 bệnh nhân có chức năng gan bình thường, 83 bệnh nhân suy gan nhẹ và 5 bệnh nhân có suy giảm chức năng gan mức độ trung bình (TB >1,5x đến 3,0xULN) hoặc nặng (TB >3,0xULN). Không có sự khác biệt quan trọng về mặt lâm sàng về mức độ phơi nhiễm daratumumab giữa những bệnh nhân bị suy gan và những người có chức năng gan bình thường.
Chủng tộc
Dựa trên phân tích dược động học quần thể khi dùng đơn trị liệu daratumumab, mức độ phơi nhiễm daratumumab tương tự nhau giữa các đối tượng da trắng (n=197) và không phải da trắng (n=26). Trong phân tích dược động học quần thể bổ sung ở bệnh nhân đa u tủy dùng daratumumab với các liệu pháp phối hợp khác nhau, mức độ phơi nhiễm daratumumab cũng tương tự giữa các bệnh nhân da trắng (n=558) và không phải da trắng (n=136).
Register or sign in to continue
Asia's one-stop resource for medical news, clinical reference and education
Sign up for free
Already a member? Sign in