Docetaxel Ebewe

Docetaxel Ebewe Dược lực học

docetaxel

Nhà sản xuất:

Ebewe Pharma

Nhà phân phối:

Zuellig Pharma

Nhà tiếp thị:

Sandoz
Thông tin kê toa chi tiết tiếng Việt
Dược lực học
Nhóm tác dụng dược lý: Taxan, mã ATC: L01CD02.
Cơ chế tác dụng
Docetaxel là một thuốc chống tân sinh có tác dụng thúc đẩy sự trùng hợp tubulin để tạo thành các vi ống bền vững và ức chế sự phân rã của chúng điều này dẫn đến làm giảm đáng kể các tubulin tự do. Việc gắn docetaxel vào cấu trúc vi ống không làm thay đổi số lượng tiền tơ.
In vitro, docetaxel cho thấy có tác dụng phá vỡ mạng lưới vi ống của tế bào vốn là cấu trúc cần thiết cho chức năng tế bào sống trong kỳ trung gian và kỳ phân bào.
Tác dụng dược lực
In vitro, docetaxel cho thấy tác dụng gây độc tế bào chống lại một số dòng tế bào khối u trên người và chuột, và chống lại các tế bào khối u người vừa được ly trích trong các nghiên cứu trên tế bào sống và tăng sinh. Docetaxel đạt nồng độ cao trong tế bào với thời gian lưu lại trong tế bào kéo dài. Hơn nữa, docetaxel cho thấy có hoạt tính trên một số - nhưng không phải là tất cả - các dòng tế bào có biểu hiện quá mức p-glycoprotein là protein được mã hóa bởi gen kháng đa thuốc.
In vivo, docetaxel tác động độc lập và có hoạt tính chống ung phổ rộng trong thực nghiệm trên khối u tiến triển được ghép trên người và chuột.
Tính an toàn và hiệu quả trên lâm sàng
Ung thư vú
Docetaxel phối hợp với doxorubicin và cyclophosphamid: liệu pháp bổ trợ
Bệnh nhân bị ung thư vú có hạch dương tính, có thể phẫu thuật được (TAX 316)
Dữ liệu từ một thử nghiệm ngẫu nhiên, nhãn mở, đa trung tâm hỗ trợ cho việc sử dụng docetaxel trong điều trị bổ trợ cho bệnh nhân ung thư vú có hạch dương tính, có thể phẫu thuật được và chỉ số tổng trạng Karnofsky (KPS) ≥ 80%, độ tuổi từ 18 đến 70. Sau khi phân tầng theo số lượng hạch bạch huyết dương tính (1-3, 4+), Có 1.491 bệnh nhân được chọn ngẫu nhiên để điều trị bằng docetaxel 75 mg/m2 dùng thuốc trong 1 giờ sau khi dùng doxorubicin 50 mg/m2 và cyclophosphamid 500 mg/m2 (nhóm TAC), hoặc doxorubicin 50 mg/m2 theo sau là fluorouracil 500 mg/m2 và cyclophosphamid 500 mg/m2 (nhóm FAC). Cả 2 phác đồ đều được sử dụng mỗi 3 tuần trong 6 chu kỳ điều trị. Docetaxel được sử dụng qua tiêm truyền trong 1 giờ, tất cả các thuốc khác được tiêm tĩnh mạch liếu nạp vào ngày thứ nhất. G-CSF được sử dụng để dự phòng thứ phát trên bệnh nhân có tiền sử giảm bạch cầu trung tính có biến chứng (giảm bạch cầu trung tính có sốt, giảm bạch cầu trung tính kéo dài, hoặc nhiễm khuẩn). Bệnh nhân trong nhóm TAC được sử dụng kháng sinh dự phòng là ciprofloxacin 500 mg đường uống 2 lần/ngày trong 10 ngày bắt đầu từ ngày thứ 5 của mỗi chu kỳ điều trị, hoặc tương đương. Trong cả 2 nhóm điều trị, sau chu kỳ hóa trị cuối cùng, bệnh nhân có các thụ thể estrogen và/hoặc progesteron dương tính được điều trị bằng tamoxifen 20 mg mỗi ngày cho đến 5 năm. Xạ trị bổ trợ được áp dụng theo như hướng dẫn điều trị của bệnh viện tham gia nghiên cứu và đã thực hiện cho 69% bệnh nhân trong nhóm điều trị TAC và 72% bệnh nhân trong nhóm điều trị FAC. Hai phân tích tạm thời và một phân tích cuối cùng đã được thực hiện. Phân tích tạm thời thứ nhất đã được lên kế hoạch thực hiện vào thời điểm 3 năm sau ngày mà một nửa số bệnh nhân tham gia nghiên cứu được tuyển chọn. Phân tích tạm thời thứ hai đã được thực hiện sau khi có tổng cộng 400 trường hợp DFS được ghi nhận, điều này dẫn đến thời gian theo dõi trung vị là 55 tháng.
Phân tích cuối cùng được thực hiện khi tất cả các bệnh nhân đã đạt được thời gian theo dõi 10 năm (trừ khi họ đã có DFS hoặc bị mất liên lạc trước đó). Sống còn không bệnh (DFS) là mục tiêu hiệu quả chính và sống còn toàn bộ (OS) là mục tiêu hiệu quả phụ.
Phân tích cuối cùng đã được thực hiện với khoảng thời gian theo dõi trung vị thực tế là 96 tháng. Thời gian sống còn không bệnh của nhóm TAC dài hơn có ý nghĩa so với nhóm FAC đã được chứng minh. Tỷ lệ tái phát tại thời điểm 10 năm giảm trong nhóm TAC so với nhóm FAC (39% so với 45%, tương ứng), tức là nguy cơ tuyệt đối giảm 6% (p = 0,0043). Tỷ lệ sống còn toàn bộ tại thời điểm 10 năm cũng tăng đáng kể trong nhóm TAC so với nhóm FAC (76% so với 69 %, tương ứng), tức là độ giảm tuyệt đối của nguy cơ tử vong là 7% (p = 0,002). Do lợi ích đã được ghi nhận trên những bệnh nhân có hạch 4+ không có ý nghĩa thống kê trên DFS và OS, tỷ số lợi ích/nguy cơ ủng hộ cho việc sử dụng phác đồ TAC trên bệnh nhân có hạch 4+ chưa được chứng minh đầy đủ trong phân tích cuối cùng.
Nhìn chung, kết quả nghiên cứu chứng minh tỷ số lợi ích/nguy cơ của TAC vượt trội so với FAC.
Phân nhóm bệnh nhân điều trị bằng TAC theo các yếu tố tiên lượng chính được xác định trước đã được phân tích:
- xem Bảng 1.

Image from Drug Label Content

Bệnh nhân bị ung thư vú hạch âm tính có thể phẫu thuật được được dùng hóa trị (GEICAM 9805)
Dữ liệu từ một thử nghiệm ngẫu nhiên, nhãn mở, đa trung tâm hỗ trợ cho việc sử dụng docetaxel để điều trị bổ trợ cho những bệnh nhân bị ung thư vú hạch âm tính có thể phẫu thuật được được dùng hóa trị. Có 1.060 bệnh nhân được phân ngẫu nhiên để dùng docetaxel 75 mg/m2 được dùng trong 1 giờ sau khi dùng doxorubicin 50 mg/m2 và cyclophosphamid 500 mg/m2 (539 bệnh nhân trong nhóm TAC), hoặc doxorubicin 50 mg/m2 tiếp theo là dùng flourouracil 500 mg/m2 và cyclophosphamid 500 mg/m2 (521 bệnh nhân trong nhóm FAC), để điều trị bổ trợ ung thư vú hạch âm tính có thể phẫu thuật được với nguy cơ tái phát cao theo tiêu chuẩn St. Gallen 1998 (kích thước khối u > 2 cm và/hoặc ER và PR âm tính và/hoặc mức độ biệt hóa nhân/mô học cao (độ 2 đến 3) và/hoặc tuổi dưới 35). Cả hai phác đồ được dùng mỗi 3 tuần trong 6 chu kỳ. Docetaxel được tiêm truyền trong 1 giờ, tất cả các thuốc còn lại được dùng đường tĩnh mạch vào ngày đầu của chu kỳ mỗi ba tuần. Dự phòng nguyên phát bằng G-CSF được thực hiện bắt buộc với nhóm TAC sau khi 230 bệnh nhân được phân nhóm ngẫu nhiên. Tỷ lệ giảm bạch cầu trung tính độ 4, giảm bạch cầu có sốt và nhiễm trùng do giảm bạch cầu giảm trên những bệnh nhân được dự phòng nguyên phát bằng G-CSF (xem mục Tác dụng không mong muốn). Trên cả hai nhóm, sau khi kết thúc đợt hóa trị cuối cùng, những bệnh nhân bị ung thư có ER+ và/hoặc PgR+ được dùng tamoxifen 20 mg một lần/ngày trong 5 năm. Phác đồ xạ trị hỗ trợ được sử dụng theo hướng dẫn tại cơ sở tham gia nghiên cứu và đã được sử dụng cho 57,3% số bệnh nhân được điều trị bằng TAC và 51,2% số bệnh nhân được điều trị bằng FAC.
Một phân tích sơ bộ và một phân tích cập nhật đã được tiến hành. Phân tích sơ bộ được tiến hành khi tất cả bệnh nhân có thời gian theo dõi trên 5 năm (thời gian theo dõi trung vị 77 tháng). Phân tích cập nhật được tiến hành khi tất cả bệnh nhân đạt thời gian theo dõi 10 năm (thời gian theo dõi trung vị 10 năm và 5 tháng) (trừ khi bệnh nhân đã có DFS hoặc bị mất liên lạc trước đó). Sống còn không bệnh (DFS) là mục tiêu hiệu quả chính và sống còn toàn bộ (OS) là mục tiêu hiệu quả phụ.
Trong khoảng thời gian theo dõi trung vị 77 tháng, thời gian sống còn không bệnh dài hơn có ý nghĩa trong nhóm TAC so với nhóm FAC đã được chứng minh. Những bệnh nhân được điều trị bằng TAC đã giảm nguy cơ tái phát 32% so với nhóm FAC (tỷ số nguy cơ = 0,68, 95% CI (0,49-0,93), p = 0,01). Trong khoảng thời gian theo dõi trung vị 10 năm và 5 tháng, những bệnh nhân được điều trị bằng TAC đã giảm nguy cơ tái phát 16,5% so với nhóm FAC (tỉ số nguy cơ = 0,84, 95% CI (0,65-1,08), p=0,1646). Dữ liệu DFS không có ý nghĩa thống kê nhưng vẫn có khuynh hướng ưu thế trong nhóm TAC.
Trong khoảng thời gian theo dõi trung vị 77 tháng, thời gian sống còn toàn bộ (OS) dài hơn trong nhóm TAC, các bệnh nhân được điều trị bằng TAC giảm nguy cơ tử vong 24% so với nhóm FAC (tỷ số nguy cơ = 0,76, 95% CI (0,46-1,26, p=0,29). Tuy nhiên, sự phân bố của thời gian sống còn toàn bộ không có sự khác biệt có ý nghĩa giữa 2 nhóm.
Trong khoảng thời gian theo dõi trung vị 10 năm và 5 tháng, những bệnh nhân được điều trị bằng TAC đã giảm nguy cơ tử vong 9% so với nhóm FAC (tỉ số nguy cơ = 0,91, 95% CI (0,63-1,32)).
Tỉ lệ sống còn là 93,7% trong nhóm TAC và 91,4% trong nhóm FAC tại thời điểm theo dõi 8 năm, và 91,3% trong nhóm TAC và 89% trong nhóm FAC tại thời điểm 10 năm.
Tỉ số lợi ích nguy cơ ủng hộ cho nhóm TAC so với nhóm FAC vẫn không đổi.
Phân nhóm bệnh nhân được điều trị bằng TAC theo các yếu tố tiên lượng chính được xác định trước đã được phân tích trong phân tích sơ bộ (thời gian theo dõi trung vị 77 tháng)
- xem Bảng 2.

Image from Drug Label Content

DOCETAXEL đơn trị
Hai nghiên cứu so sánh, pha III, ngẫu nhiên, bao gồm tổng số 326 bệnh nhân bị ung thư vú di căn điều trị thất bại với các tác nhân alkyl hóa và 392 bệnh nhân thất bại với anthracyclin, tiến hành với docetaxel tại mức liều khuyến cáo và phác đồ 100 mg/m2 mỗi 3 tuần.
Đối với bệnh nhân thất bại với tác nhân alkyl hóa, docetaxel được so sánh với doxorubicin (75 mg/m2 mỗi 3 tuần). Không ảnh hưởng đến thời gian sống còn toàn bộ (docetaxel 15 tháng so với doxorubicin 14 tháng, p=0,38) hoặc thời gian đến khi bệnh tiến triển (docetaxel 27 tuần so với doxorubicin 23 tuần p=0,54), docetaxel làm tăng tỉ lệ đáp ứng (52% so với 37%, p=0,01) và rút ngắn thời gian đến khi có đáp ứng (12 tuần so với 23 tuần, p=0,007). Có 3 bệnh nhân điều trị docetaxel (2%) bị ngừng điều trị do ứ dịch, trong khi 15 bệnh nhân điều trị doxorubicin (9%) ngừng điều trị do độc tính trên tim (trong đó 3 trường hợp bị suy tim xung huyết dẫn đến tử vong).
Đối với các bệnh nhân thất bại điều trị với anthracyclin, docetaxel được so sánh với mitomycin C phối hợp với vinblastin (12 mg/m2 mỗi 6 tuần và 6 mg/m2 mỗi 3 tuần). Docetaxel làm tăng tỉ lệ đáp ứng (33% so với 12%, p<0,0001), kéo dài thời gian đến khi bệnh tiến triển (19 tuần so với 11 tuần, p=0,0004) và kéo dài thời gian sống còn toàn bộ (11 tháng so với 9 tháng, p=0,01).
Trong 2 nghiên cứu pha III này, đặc tính an toàn của docetaxel phù hợp với đặc tính an toàn quan sát được trong nghiên cứu pha II (xem mục Tác dụng không mong muốn).
Một nghiên cứu pha III, ngẫu nhiên, đa trung tâm, nhãn mở đã được tiến hành để so sánh docetaxel đơn trị và paclitaxel trong điều trị ung thư vú tiến triển trên bệnh nhân đã được điều trị từ trước với anthracyclin. Tổng số 449 bệnh nhân được chọn ngẫu nhiên để điều trị hoặc docetaxel đơn trị 100 mg/m2 tiêm truyền trong 1 giờ hoặc paclitaxel 175 mg/m2 tiêm truyền trong 3 giờ. Cả 2 phác đồ được dùng mỗi 3 tuần.
Không ảnh hưởng đến mục tiêu nghiên cứu chính, tỉ lệ đáp ứng toàn bộ (32% so với 25%, p=0,10), docetaxel kéo dài trung vị thời gian đến khi bệnh tiến triển (24,6 tuần so với 15,6 tuần; p<0,01) và thời gian sống còn trung vị (15,3 tháng so với 12,7 tháng; p=0,03).
Các tác dụng không mong muốn mức độ 3/4 được nhận thấy trong nhóm đơn trị docetaxel (55,4%) so với nhóm paclitaxel (23,0%).
DOCETAXEL phối hợp với doxorubicin
Một nghiên cứu pha III, ngẫu nhiên, qui mô lớn bao gồm 429 bệnh nhân bị ung thư vú di căn chưa được điều trị trước đó, đã được tiến hành với doxorubicin (50 mg/m2) phối hợp với docetaxel (75 mg/m2) (nhóm AT) so với doxorubicin (60 mg/m2) phối hợp với cyclophosphamid (600 mg/m2 (nhóm AC). Cả 2 phác đồ được dùng vào ngày đầu tiên của chu kỳ mỗi 3 tuần.
Thời gian đến khi bệnh tiến triển (TTP) gia tăng có ý nghĩa trong nhóm AT so với nhóm AC, p=0,0138. TTP trung vị của nhóm AT là 37,3 tuần (95%CI: 33,4-42,l) và 31,9 tuần (95% CI: 27,4-36,0) trong nhóm AC.
Tỉ lệ đáp ứng toàn bộ (ORR) trong nhóm AT cao hơn có ý nghĩa so với nhóm AC, p=0,009. ORR trong nhóm AT là 59,3% (95% CI: 52,8-65,9) so với 46,5% trong nhóm AC (95% CI: 39,8-53,2).
Trong thử nghiệm này, nhóm AT có tỉ lệ mắc cao hơn về giảm bạch cầu trung tính nặng (90% so với 68,6%), giảm bạch cầu trung tính có sốt (33,3% so với 10%), nhiễm khuẩn (8% so với 2,4%), tiêu chảy (7,5% so với 1,4%), suy nhược (8,5% so với 2,4%) và đau (2,8% so với 0%) so với nhóm AC. Mặt khác, nhóm AC có tỉ lệ bị thiếu máu nặng cao hơn so với nhóm AT (15,8% so với 8,5%), hơn nữa tỉ lệ độc tính trên tim nặng cũng cao hơn như suy tim xung huyết (3,8% so với 2,8%), giảm LVEF tuyệt đối ≥ 20% (13,l% so với 6,1%), giảm LVEF tuyệt đối ≥ 30% (6,2% so với 1,1%). Tử vong do nhiễm độc xảy ra trên 1 bệnh nhân trong nhóm AT (suy tim xung huyết) và 4 bệnh nhân trong nhóm AC (1 người do sốc nhiễm khuẩn huyết và 3 người do suy tim xung huyết).
Trong cả 2 nhóm, chất lượng cuộc sống xác định bằng bản câu hỏi EORTC là tương tự nhau và ổn định trong suốt thời gian điều trị và theo dõi.
DOCETAXEL phối hợp với trastuzumab
Docetaxel trong phối hợp với trastuzumab được nghiên cứu để điều trị cho bệnh nhân bị ung thư vú di căn với khối u có biểu hiện quá mức HER2, và trên bệnh nhân trước đó không dùng hóa trị cho ung thư di căn. Có 186 bệnh nhân được chọn ngẫu nhiên để điều trị bằng docetaxel (100 mg/m2) kèm hoặc không kèm với trastuzumab; 60% bệnh nhân đã dùng hóa trị bổ trợ chứa anthracyclin trước đó. Docetaxel phối hợp với trastuzumab có hiệu quả trên bệnh nhân có hay không dùng anthracyclin bổ trợ trước đó. Phương pháp xét nghiệm chính được dùng để xác định HER2 dương tính trong thử nghiệm đăng ký thuốc này là hóa mô miễn dịch (IHC: immunohistochemistry). Một số ít bệnh nhân được kiểm tra bằng kĩ thuật lai tại chỗ phát huỳnh quang (FISH: fluorescence in-situ hybridization). Trong thử nghiệm này, 87% bệnh nhân mắc bệnh có IHC 3+, và 95% bệnh nhân tham gia mắc bệnh có IHC 3+ và/hoặc FISH dương tính. Các kết quả về hiệu quả được tóm tắt trong bảng 3.
- xem Bảng 3.

Image from Drug Label Content

DOCETAXEL phối hợp với capecitabin
Các dữ liệu từ một thử nghiệm lâm sàng pha III có đối chứng, ngẫu nhiên và đa trung tâm đã hỗ trợ cho việc sử dụng docetaxel phối hợp với capecitabin trong điều trị cho bệnh nhân bị ung thư vú di căn hoặc tiến triển tại chỗ sau khi thất bại với hóa trị độc tế bào, bao gồm một anthracyclin. Trong thử nghiệm này, 255 bệnh nhân được chọn ngẫu nhiên để điều trị bằng docetaxel (75 mg/m2 tiêm truyền tĩnh mạch trong 1 giờ, mỗi 3 tuần) và capecitabin 1.250 mg/m2 2 lần/ngày trong 2 tuần sau đó nghỉ 1 tuần). Có 256 bệnh nhân được chọn ngẫu nhiên dùng docetaxel đơn trị (100 mg/m2 tiêm truyền tĩnh mạch trong 1 giờ, mỗi 3 tuần). Thời gian sống còn cao hơn trong nhóm điều trị bằng docetaxel phối hợp capecitabin (p=0,0126). Thời gian sống còn trung vị là 442 ngày (docetaxel + capecitabin) so với 352 ngày (docetaxel đơn trị). Tỉ lệ đáp ứng toàn bộ của khối u trên tất cả các đối tượng được chọn ngẫu nhiên (đánh giá của nghiên cứu viên) là 41,6% (docetaxel + capecitabin) so với 29,7% (docetaxel đơn trị); p=0,0058. Thời gian đến khi bệnh tiến triển cao hơn hơn trong nhóm phối hợp docetaxel và capecitabin (p<0,0001). Trung vị thời gian đến khi bệnh tiến triển là 186 ngày (docetaxel + capecitabin) so với 128 ngày (docetaxel đơn trị).
Ung thư phổi không tế bào nhỏ
- Bệnh nhân đã được hóa trị trước, có kèm hoặc không kèm xạ trị:
Trong một nghiên cứu pha III, trên bệnh nhân đã được điều trị trước đó, thời gian đến khi bệnh tiến triển (12,3 tuần so với 7 tuần) và thời gian sống còn toàn bộ kéo dài đáng kể khi điều trị docetaxel 75 mg/m2 so với Chăm sóc tích cực (Best Supportive Care - BSC). Tỉ lệ sống còn 1 năm cũng cao hơn đáng kể trong nhóm docetaxel (40%) so với nhóm BSC (16%).
Tỉ lệ sử dụng thuốc giảm đau morphin (p<0,01), thuốc giảm đau không phải morphin (p<0,01), các thuốc khác liên quan đến bệnh (p=0,06), và xạ trị (p<0,01) thấp hơn trong nhóm bệnh nhân điều trị bằng docetaxel 75 mg/m2 so với nhóm BSC.
Tỉ lệ đáp ứng toàn bộ là 6,8% trên các bệnh nhân có thể đánh giá được, và khoảng thời gian đáp ứng trung vị là 26,1 tuần.
DOCETAXEL phối hợp với các thuốc platin trên các bệnh nhân chưa dùng hóa trị
Trong một nghiên cứu pha III, có 1.218 bệnh nhân bị ung thư phổi không tế bào nhỏ ở giai đoạn IIIB hoặc IV không thể cắt bỏ được, với KPS 70% hoặc hơn, và những bệnh nhân không dùng hóa trị trước đó cho bệnh trạng này, được chọn ngẫu nhiên để điều trị hoặc docetaxel (T) 75 mg/m2 tiêm truyền trong 1 giờ, tiếp theo tiêm truyền ngay cisplatin (Cis) 75 mg/m2 trong 30-60 phút, mỗi 3 tuần; hoặc docetaxel 75 mg/m2 tiêm truyền trong 1 giờ phối hợp với carboplatin (AUC 6 mg/mL.phút) tiêm truyền trong 30-60 phút, mỗi 3 tuần; hoặc vinorelbin (V) 25 mg/m2 tiêm truyền trong 6-10 phút vào các ngày 1, 8, 15, 22 tiếp theo là tiêm truyền cisplatin 100 mg/m2 được dùng vào ngày 1 của các chu kỳ được lặp lại mỗi 4 tuần.
Các dữ liệu về thời gian sống còn, thời gian đến khi bệnh tiến triển trung vị và tỉ lệ đáp ứng của 2 nhóm trong nghiên cứu này được thể hiện trong bảng 4.
- xem Bảng 4.

Image from Drug Label Content

Các mục tiêu nghiên cứu phụ bao gồm sự thay đổi của đau, đánh giá chất lượng sống toàn bộ bằng EuroQoL-5D, Thang điểm Triệu chứng của Ung thư Phổi, và những thay đổi về chỉ số tổng trạng Karnosfky (KPS). Các kết quả trên những mục tiêu nghiên cứu phụ này được hỗ trợ của kết quả mục tiêu nghiên cứu chính.
Trong phối hợp docetaxel/carboplatin, không chứng minh được có hiệu quả tương đương hay thấp hơn khi so sánh với điều trị phối hợp VCis.
Ung thư tuyến tiền liệt
Hiệu quả và tính an toàn của docetaxel khi phối hợp với prednison hoặc prednisolon trên bệnh nhân bị ung thư tuyến tiền liệt di căn kháng hormon được đánh giá trong một thử nghiệm pha III, ngẫu nhiên, đa trung tâm. Tổng số 1.006 bệnh nhân có KPS ≥ 60% được chọn ngẫu nhiên vào các nhóm điều trị sau đây:
• Docetaxel 75 mg/m2 mỗi 3 tuần trong 10 chu kỳ điều trị.
• Docetaxel 30 mg/m2 dùng mỗi tuần trong 5 tuần đầu tiên của chu kỳ 6 tuần, trong 5 chu kỳ điều trị.
• Mitoxantron 12 mg/m2 mỗi 3 tuần, trong 10 chu kỳ điều trị.
Cả 3 phác đồ điều trị này được dùng phối hợp với prednison hoặc prednisolon 5 mg 2 lần 1 ngày, dùng liên tục.
Bệnh nhân được điều trị docetaxel mỗi 3 tuần đã chứng minh được thời gian sống còn toàn bộ gia tăng đáng kể so với bệnh nhân được điều trị bằng mitoxantron. Gia tăng thời gian sống còn được ghi nhận trong nhóm docetaxel dùng mỗi tuần không khác biệt có ý nghĩa thống kê so với nhóm chứng điều trị bằng mitoxantron. Mục tiêu về hiệu quả của nhóm điều trị docetaxel so với nhóm chứng được tóm tắt trong bảng 5.
- xem Bảng 5.

Image from Drug Label Content

Thực tế cho thấy docetaxel điều trị mỗi tuần có tính an toàn cao hơn đôi chút so với docetaxel điều trị mỗi 3 tuần, một số bệnh nhân nhất định có thể có lợi ích từ việc điều trị docetaxel mỗi tuần.
Không có sự khác biệt có ý nghĩa thống kê quan sát được giữa các nhóm điều trị cho chỉ số Chất lượng Sống Toàn bộ (Global Quality of Life).
Ung thư dạ dày
Một thử nghiệm ngẫu nhiên, nhãn mở, đa trung tâm được tiến hành để đánh giá tính an toàn và hiệu quả của docetaxel trong điều trị cho bệnh nhân bị ung thư dạ dày di căn, kể cả ung thư biểu mô tuyến đoạn nối dạ dày-thực quản, bệnh nhân chưa dùng hóa trị trước đó cho bệnh di căn. Tổng số 445 bệnh nhân có KPS > 70% được điều trị hoặc bằng docetaxel (T) (75 mg/m2 vào ngày 1) phối hợp với cisplatin (C) (75 mg/m2 vào ngày 1) và 5-fluorouracil (F) (750 mg/m2 mỗi ngày trong 5 ngày), hoặc cisplatin (100 mg/m2 vào ngày 1) và 5-fluorouracil (1.000 mg/m2 mỗi ngày trong 5 ngày). Thời gian mỗi chu kỳ điều trị là 3 tuần cho nhóm TCF và 4 tuần cho nhóm CF. Số chu kỳ điều trị trung vị cho mỗi bệnh nhân là 6 (dao động 1-16) trong nhóm TCF so với 4 (dao động 1 - 12) trong nhóm CF. Thời gian đến khi bệnh tiến triển (TTP) là mục tiêu nghiên cứu chính. Tỉ lệ giảm nguy cơ tiến triển của bệnh là 32,1% và có liên quan với TTP gia tăng đáng kể (p=0,0004) thiên về nhóm TCF. Thời gian sống còn toàn bộ cũng gia tăng đáng kể trong nhóm TCF (p=0,0201) với tỉ lệ giảm nguy cơ tử vong là 22,7%. Kết quả về hiệu quả được tóm tắt trong bảng 6.
- xem Bảng 6.

Image from Drug Label Content

Các phân tích phân nhóm theo tuổi, giới tính và chủng tộc ưu thế nhất quán cho nhóm TCF so với nhóm CF.
Một phân tích cập nhật về thời gian sống còn được tiến hành với khoảng thời gian theo dõi trung vị 41,6 tháng đã không cho thấy sự khác biệt có ý nghĩa thống kê mặc dù kết quả luôn ưu thế trong nhóm TCF và cho thấy lợi ích của nhóm TCF cao hơn rõ rệt so với nhóm CF trong khoảng thời gian theo dõi 18 đến 30 tháng.
Nhìn chung, chất lượng sống (QoL) và các kết quả lợi ích trên lâm sàng cho thấy ưu thế cải thiện của nhóm TCF một cách nhất quán. Bệnh nhân được điều trị trong nhóm TCF có thời gian để giảm 5% tình trạng sức khỏe toàn bộ dựa trên bảng câu hỏi QLQ-C30 gia tăng (p=0,0121) và thời gian để chỉ số tổng trạng Karnofsky xấu đi rõ rệt cũng gia tăng (p=0,0088) so với các bệnh nhân điều trị trong nhóm CF.
Ung thư vùng đầu-cổ
- Hóa trị gây đáp ứng tiếp theo là xạ trị (TAX323):
Tính an toàn và hiệu quả của docetaxel trong điều trị gây đáp ứng cho bệnh nhân bị ung thư biểu mô tế bào vảy vùng đầu-cổ (SCCHN) được đánh giá trong một thử nghiệm pha III, ngẫu nhiên, nhãn mở, đa trung tâm (TAX323). Trong nghiên cứu này, 358 bệnh nhân bị ung thư biểu mô tế bào vảy vùng đầu-cổ tiến triển tại chỗ không thể phẫu thuật được và chỉ số tổng trạng WHO là 0 hoặc 1, được chọn ngẫu nhiên vào 1 trong 2 nhóm điều trị. Bệnh nhân trong nhóm docetaxel được điều trị docetaxel (T) 75 mg/m2 tiếp theo là cisplatin (P) 75 mg/m2 kế tiếp là 5 -fluorouracil (F) 750 mg/m2 mỗi ngày tiêm truyền liên tục trong 5 ngày. Phác đồ này được dùng mỗi 3 tuần, trong 4 chu kỳ điều trị nếu có ít nhất 1 đáp ứng tối thiểu (giảm ≥ 25% kích thước khối u được đo 2 chiều) được đánh giá sau 2 chu kỳ điều trị. Cuối đợt hóa trị, với khoảng thời gian tối thiểu 4 tuần và tối đa 7 tuần, bệnh nhân không tiến triển bệnh được điều trị tiếp bằng xạ trị (RT) theo hướng dẫn điều trị của cơ sở trong 7 tuần (TPF/RT). Bệnh nhân trong nhóm đối chứng được điều trị cisplatin (P) 100 mg/m2 tiếp theo là 5-flourouracil (F) 1.000 mg/m2 mỗi ngày trong 5 ngày. Phác đồ này được sử dụng mỗi 3 tuần, trong 4 chu kỳ điều trị nếu như có ít nhất 1 đáp ứng tối thiểu (giảm ≥ 25% kích thước khối u được đo 2 chiều) được đánh giá sau 2 chu kỳ điều trị. Cuối đợt hóa trị, với khoảng thời gian tối thiểu 4 tuần và tối đa 7 tuần, bệnh nhân không tiến triển bệnh được điều trị tiếp bằng xạ trị (RT) theo hướng dẫn điều trị của cơ sở trong 7 tuần (PF/RT). Điều trị tại chỗ tại vùng bằng xạ trị tiến hành theo phân liều thông thường (1,8 Gy - 2,0 Gy 1 lần/ngày, 5 ngày/tuần với tổng liều 66 đến 70 Gy), hoặc các phác đồ xạ trị gia tốc/liều cao (2 lần/ngày, khoảng cách tối thiểu giữa các phân liều là 6 giờ, 5 ngày/tuần). Tổng liều 70 Gy được khuyến cáo đối với phác đồ xạ trị gia tốc và 74 Gy đối với xạ trị liều cao. Phẫu thuật cắt bỏ được cho phép sau khi hóa trị, trước hoặc sau khi xạ trị. Bệnh nhân trong nhóm TPF được điều trị kháng sinh dự phòng bằng ciprofloxacin 500 mg đường uống 2 lần/ngày trong 10 ngày bắt đầu từ ngày thứ 5 của mỗi chu kỳ điều trị , hoặc tương đương.
Mục tiêu chính của nghiên cứu này là sống còn không tiến triển bệnh (PFS), đã gia tăng đáng kể trong nhóm TPF so với nhóm PF, p=0,0042 (PFS trung vị: 11,4 so với 8,3 tháng tương ứng) với khoảng thời gian theo dõi trung vị 33,7 tháng. Thời gian sống còn toàn bộ cũng gia tăng đáng kể trong nhóm TPF so với nhóm PF (OS trung vị: 18,6 so với 14,5 tháng tương ứng) với nguy cơ tử vong giảm 28%, p=0,0128.
Kết quả về hiệu quả được thể hiện trong bảng 7.
- xem Bảng 7.

Image from Drug Label Content

Các thông số về chất lượng sống
Bệnh nhân trong nhóm TPF ít bị sút giảm đáng kể về chỉ số sức khỏe toàn bộ so với bệnh nhân nhóm PF (p=0,01, sử dụng thang EORTC QLQ-C30).
Các thông số về lợi ích lâm sàng
Trên thang điểm chỉ số tổng trạng, phân nhóm thang điểm về đầu và cổ (PSS-HN) được thiết kế để đánh giá khả năng hiểu được lời nói, khả năng ăn uống nơi công cộng, và tính bình thường của chế độ ăn ưu thế thuộc nhóm TPF so với nhóm PF.
Thời gian trung vị đến khi có sự giảm sút đầu tiên về chỉ số tổng trạng WHO gia tăng đáng kể trong nhóm TPF so với nhóm PF. Điểm số về cường độ đau được cải thiện trong suốt quá trình điều trị trong cả 2 nhóm cho thấy sự kiểm soát đau đầy đủ.
Hóa trị gây đáp ứng tiếp theo là hóa-xạ trị (TAX324)
Tính an toàn và hiệu quả của docetaxel trong điều trị gây đáp ứng cho bệnh nhân bị ung thư biểu mô tế bào vảy vùng đầu-cổ tiến triển tại chỗ (SCCHN) được đánh giá trong một thử nghiệm pha III, ngẫu nhiên, nhãn mở, đa trung tâm (TAX324). Trong nghiên cứu này, 501 bệnh nhân bị SCCHN tiến triển tại chỗ, và có chỉ số tổng trạng WHO 0 hoặc 1, được chọn ngẫu nhiên vào một trong 2 nhóm. Các đối tượng của nghiên cứu bao gồm bệnh nhân mắc bệnh không thể cắt bỏ được về mặt kỹ thuật, bệnh nhân có xác suất chữa lành thấp bằng phẫu thuật và bệnh nhân nhắm tới bảo tồn cơ quan. Đánh giá về hiệu quả và tính an toàn chỉ tập trung vào các mục tiêu sống còn và sự thành công trong việc bảo tồn cơ quan vẫn chưa được chính thức chú trọng. Bệnh nhân trong nhóm docetaxel được điều trị docetaxel (T) 75 mg/m2 tiêm truyền tĩnh mạch vào ngày 1, tiếp theo là cisplatin (P) 100 mg/m2 tiêm truyền tĩnh mạch trong 30 phút đến 3 giờ, kế tiếp tiêm truyền tĩnh mạch 5-fluorouracil (F) 1.000 mg/m2/ngày liên tục từ ngày 1 đến ngày 4. Các chu kỳ điều trị lặp lại mỗi 3 tuần, trong 3 chu kỳ. Tất cả bệnh nhân không tiến triển bệnh được dùng hóa-xạ trị (CRT) dựa theo đề cương nghiên cứu (TPF/CRT). Bệnh nhân nhóm đối chứng được điều trị bằng cisplatin (P) 100 mg/m2 tiêm truyền tĩnh mạch trong 30 phút đến 3 giờ trong ngày 1, tiếp theo là tiêm truyền tĩnh mạch 5-fluorouracil (F) 1.000 mg/m2/ngày liên tục từ ngày 1 đến ngày 5. Các chu kỳ điều trị lặp lại mỗi 3 tuần, trong 3 chu kỳ. Tất cả các bệnh nhân không tiến triển bệnh được điều trị CRT như đề cương nghiên cứu (PF/CRT).
Bệnh nhân trong cả 2 nhóm được điều trị 7 tuần với CRT sau khi hóa trị gây đáp ứng với khoảng cách tối thiểu là 3 tuần và không quá 8 tuần, bắt đầu sau chu kỳ điều trị cuối cùng (ngày 22 đến ngày 56 của chu kỳ điều trị cuối cùng). Trong thời gian xạ trị, carboplatin (AUC 1,5) được dùng mỗi tuần tiêm truyền tĩnh mạch trong 1 giờ cho tối đa 7 liều. Xạ trị sử dụng thiết bị điện áp cao dùng phân liều 1 lần 1 ngày (2 Gy/ngày, 5 ngày/tuần trong 7 tuần, với tổng liều từ 70-72 Gy). Phẫu thuật ở vị trí khối u nguyên phát và/hoặc cổ có thể được cân nhắc bất kì thời gian nào sau khi kết thúc hóa-xạ trị. Tất cả các bệnh nhân trong nhóm điều trị chứa docetaxel của nghiên cứu này được dùng kháng sinh dự phòng. Mục tiêu hiệu quả chính trong nghiên cứu này, thời gian sống còn toàn bộ (OS) gia tăng đáng kể (kiểm định log-rank, p=0,0058) với phác đồ chứa docetaxel so với nhóm PF (OS trung vị: 70,6 so với 30,1 tháng tương ứng), và giảm 30% nguy cơ tử vong so với nhóm PF (tỉ số nguy cơ (HR) = 0,70, 95% khoảng tin cậy (CI) = 0,54-0,90) với khoảng thời gian theo dõi trung vị là 41,9 tháng. Mục tiêu nghiên cứu phụ, PFS, đã chứng minh là giảm 29% nguy cơ tiến triển bệnh hoặc tử vong và cải thiện 22 tháng về thời gian trung vị PFS (35,5 tháng trong nhóm TPF và 13,1 tháng trong nhóm PF). Điều này cũng có ý nghĩa thống kê với HR bằng 0,71; 95% CI 0,56-0,90; kiểm định log-rank p=0,004. Các kết quả về hiệu quả điều trị thể hiện trong bảng 8.
- xem Bảng 8.

Image from Drug Label Content

Trẻ em
Cơ quan dược phẩm châu Âu đã miễn trừ nghĩa vụ nộp kết quả nghiên cứu của docetaxel trên tất cả phân nhóm trẻ em bị ung thư vú, ung thư phổi không tế bào nhỏ, ung thư tuyến tiền liệt, ung thư dạ dày và ung thư vùng đầu-cổ, không bao gồm ung thư mũi hầu biệt hóa kém độ II và III (xem mục Liều lượng và cách dùng - phần Bệnh nhi).
Register or sign in to continue
Asia's one-stop resource for medical news, clinical reference and education
Sign up for free
Already a member? Sign in