Faslodex

Faslodex Dược lực học

fulvestrant

Nhà sản xuất:

AstraZeneca
Thông tin kê toa chi tiết tiếng Việt
Dược lực học
Nhóm trị liệu: Nội tiết, kháng estrogen, mã ATC: L02BA03.
Cơ chế tác động và tác động dược lực học
Fulvestrant là chất đối vận cạnh tranh với thụ thể estrogen (ER), có ái lực tương đương với estradiol. Fulvestrant ngăn chặn hoạt động sinh dưỡng của estrogen mà không có tác động đồng vận một phần (tương tự estrogen). Cơ chế tác động có liên quan với việc điều hòa giảm nồng độ ER-protein. Các nghiên cứu lâm sàng ở phụ nữ sau mãn kinh bị ung thư vú tiên phát cho thấy fulvestrant làm điều hòa giảm đáng kể ER-protein trong các khối u có thụ thể estrogen dương tính so với giả dược. Độ biểu hiện thụ thể progesterone cũng bị giảm đáng kể, tương ứng với việc thiếu tác động chủ vận estrogen nội tại. Fulvestrant 500 mg cũng được chứng minh là giảm bài xuất ER và chất đánh dấu khả năng sinh sản (proliferation marker) Ki67 ở mức độ lớn hơn fulvestrant 250 mg trong các khối u vú trên phụ nữ sau mãn kinh trong bối cảnh tân bổ trợ.
An toàn và hiệu quả lâm sàng ở ung thư vú tiến triển
Một nghiên cứu lâm sàng pha 3 đã được tiến hành trên 736 bệnh nhân mãn kinh bị ung thư vú tiến xa tái phát trong hoặc sau điều trị nội tiết hỗ trợ hoặc tiến triển sau khi điều trị nội tiết cho ung thư tiến xa. Nghiên cứu gồm 423 bệnh nhân tái phát hoặc tiến triển trong khi điều trị bằng liệu pháp kháng estrogen (phân nhóm AE) và 313 bệnh nhân tái phát hoặc tiến triển trong khi điều trị bằng chất ức chế aromatase (phân nhóm AI). Nghiên cứu này so sánh hiệu quả và an toàn của Faslodex 500mg (n = 362) với Faslodex 250mg (n = 374). Tiêu chí kết cuộc chính là thời gian sống còn không bệnh tiến triển (PFS). Tiêu chí phụ chủ yếu về hiệu quả bao gồm tỷ lệ đáp ứng khách quan (ORR), tỷ lệ cải thiện lợi ích lâm sàng (CBR) và thời gian sống còn toàn bộ (OS). Kết quả của nghiên cứu CONFIRM về hiệu quả của thuốc được tóm tắt trong bảng 1.
- xem Bảng 1.

Image from Drug Label Content

Một nghiên cứu pha 3, ngẫu nhiên, mù đôi, giả dược đôi, đa trung tâm dùng thuốc Faslodex 500mg so sánh với anastrozole 1 mg đã được tiến hành trên phụ nữ sau mãn kinh bị ung thư vú tiến xa tại chỗ hoặc di căn có thụ thể ER dương tính và/ hoặc PgR dương tính mà trước đây chưa từng điều trị với bất kỳ liệu pháp nội tiết nào. Tổng cộng có 462 bệnh nhân được phân ngẫu nhiên tuần tự theo tỷ lệ 1:1 dùng fulvestrant 500 mg hoặc anastrozole 1 mg.
Việc phân bố được phân ngẫu nhiên theo bối cảnh bệnh (tiến xa tại chỗ hoặc di căn), có dùng hóa trị trước đó vì bệnh tiến xa, và tình trạng bệnh lý có thể đánh giá được.
Tiêu chí hiệu quả chính của nghiên cứu là thời gian sống không bệnh tiến triển (PFS) do nghiên cứu viên đánh giá theo tiêu chuẩn đánh giá trên bướu đặc (RECIST 1.1). Các tiêu chí hiệu quả phụ tiêu biểu gồm thời gian sống còn toàn bộ (OS), và tỷ lệ đáp ứng khách quan (ORR).
Các bệnh nhân tham gia nghiên cứu này có độ tuổi trung bình là 63 tuổi (trong khoảng 36-90). Phần lớn bệnh nhân (87,0%) có bệnh di căn ở thời điểm bắt đầu. Năm mươi lăm phần trăm (55,0%) bệnh nhân có di căn tạng ở thời điểm bắt đầu. Tổng cộng 17,1% bệnh nhân trước đó đã dùng một phác đồ hóa trị khi bệnh tiến xa; có 84,2% bệnh nhân có thể đánh giá tình trạng bệnh.
Các kết quả nhất quán được ghi nhận ở đa số các phân nhóm bệnh nhân được xác định trước. Đối với phân nhóm của bệnh nhân không phải di căn tạng (n = 208), HR là 0,592 (độ tin cậy 95% CI: 0.419, 0.837) đối với nhánh Faslodex so với nhánh anastrozole. Đối với nhóm bệnh nhân di căn tạng (n = 254), HR là 0,993 (độ tin cậy 95% CI: 0,740, 1,331) đối với nhánh Faslodex so với nhánh anastrozole. Kết quả hiệu quả của nghiên cứu FALCON được trình bày trong bảng 2 và hình 1.
- xem Bảng 2 & Hình 1.

Image from Drug Label Content


Image from Drug Label Content

Hai nghiên cứu lâm sàng pha 3 đã được hoàn tất trên 851 phụ nữ mãn kinh bị ung thư vú tiến xa tái phát trong hoặc sau điều trị nội tiết hỗ trợ hoặc tiến triển sau khi điều trị nội tiết cho ung thư tiến xa. Bảy mươi bảy phần trăm (77%) bệnh nhân ung thư vú trong nghiên cứu có thụ thể estrogen dương tính. Các nghiên cứu này so sánh tính an toàn và hiệu quả của trị liệu Faslodex 250mg mỗi tháng so với liệu pháp dùng anastrozole (chất ức chế aromatase) 1 mg/ngày. Nhìn chung, Faslodex ở liều 250 mg/tháng hiệu quả ít nhất là tương đương với anastrozole về thời gian sống còn không bệnh tiến triển, đáp ứng khách quan và thời gian đến khi tử vong. Không có sự khác biệt có ý nghĩa thống kê ở các tiêu chí nghiên cứu giữa 2 nhóm điều trị. Tiêu chí chính là thời gian sống không bệnh tiến triển. Phân tích gộp hai nghiên cứu cho thấy 83% bệnh nhân đang điều trị Faslodex có bệnh tiến triển so với 85% bệnh nhân dùng anastrozole. Phân tích gộp cả hai nghiên cứu cho thấy tỷ số nguy cơ về thời gian sống không bệnh tiến triển của Faslodex 250mg so với anastrozole là 0,95 (95% CI 0,82-1,10). Tỷ lệ đáp ứng khách quan của nhóm Faslodex 250mg là 19,2% so với 16,5% ở nhóm anastrozole. Trung vị thời gian đến khi tử vong ở những bệnh nhân điều trị Faslodex là 27,4 tháng so với 27,6 tháng ở nhóm điều trị anastrozole. Tỷ số nguy cơ về thời gian đến khi tử vong ở nhóm Faslodex 250mg so với anastrozole là 1,01 (95% CI 0,86-1,19).
Ảnh hưởng trên nội mạc tử cung sau mãn kinh
Dữ liệu tiền lâm sàng không cho thấy tác dụng kích ứng của fulvestrant trên nội mạc tử cung sau mãn kinh. Một nghiên cứu 2 tuần ở phụ nữ mãn kinh khỏe mạnh tình nguyện điều trị với ethinylestradiol 20 mcg/ngày cho thấy điều trị trước với Faslodex 250mg cho kết quả giảm đáng kể sự kích ứng nội mạc tử cung sau mãn kinh so với điều trị trước với giả dược, khi được đánh giá bằng kỹ thuật siêu âm đo độ dày nội mạc tử cung.
Điều trị tân bổ trợ cho bệnh nhân ung thư vú ≤ 16 tuần với Faslodex 500mg hay Faslodex 250mg không làm thay đổi lâm sàng đáng kể trên độ dày nội mạc tử cung, cho thấy thuốc không có tác động chủ vận. Chưa có bằng chứng về tác dụng ngoại ý trên nội mạc tử cung ở bệnh nhân ung thư vú được nghiên cứu. Chưa có dữ liệu về hình thái học nội mạc tử cung.
Trong 2 nghiên cứu ngắn hạn (1 và 12 tuần) trên bệnh nhân mãn kinh bị bệnh phụ khoa lành tính, siêu âm không thấy có sự khác biệt đáng kể về độ dày nội mạc tử cung giữa nhóm dùng fulvestrant và giả dược.
Ảnh hưởng trên xương
Không có dữ liệu nghiên cứu dài hạn về ảnh hưởng của fulvestrant trên xương. Điều trị tân bổ trợ cho bệnh nhân bị ung thư vú ≤ 16 tuần với Faslodex 500mg hay Faslodex 250mg không cho kết quả làm thay đổi lâm sàng đáng kể về nồng độ chất đánh dấu chu chuyển xương trong huyết thanh.
Trẻ em
Faslodex không được chỉ định cho trẻ em.
Một nghiên cứu pha 2, nhãn mở, đánh giá tính an toàn, hiệu quả và dược động học của fulvestrant ở 30 bé gái từ 1-8 tuổi bị dậy thì sớm tiến triển (Progressive Precocious Puberty) có liên quan tới hội chứng McCune Albright (MAS). Các bệnh nhi này được dùng fulvestrant tiêm bắp với liều 4 mg/kg hàng tháng. Nghiên cứu 12 tháng này đã đánh giá một nhóm tiêu chí về MAS và cho thấy có sự giảm tần suất chảy máu âm đạo và giảm tỷ lệ trưởng thành xương sớm. Nồng độ đáy ở giai đoạn ổn định (steady-state trough concentration) của fulvestrant ở trẻ em trong nghiên cứu này tương thích với nồng độ này ở người lớn (xem mục Dược động học). Chưa có những quan ngại mới về tính an toàn phát sinh từ nghiên cứu mức độ nhỏ này, mặc dù hiện chưa có đủ dữ liệu 5 năm.
Register or sign in to continue
Asia's one-stop resource for medical news, clinical reference and education
Sign up for free
Already a member? Sign in