Femoston 1/10mg

Femoston 1/10mg Tác dụng không mong muốn

estradiol

estradiol + dydrogesterone

Nhà sản xuất:

Abbott
Thông tin kê toa chi tiết tiếng Việt
Tác dụng không mong muốn
Cũng như những thuốc khác, Femoston 1/10 có thể gây các tác dụng phụ, mặc dù không phải ai cũng gặp phải.
Tác dụng không mong muốn theo hệ cơ quan
Các tác dụng không mong muốn được báo cáo trong các nghiên cứu lâm sàng và các kinh nghiệm sau lưu hành thuốc như sau:
Các tần suất của nghiên cứu liên quan đến các tác dụng phụ được sắp xếp theo sau: thường gặp (từ 1 đến 10 trường hợp trong 100 bệnh nhân được điều trị); ít gặp (ít hơn 1 trường hợp trong 100 bệnh nhân được điều trị); hiếm gặp (ít hơn 1 trường hợp trong 1000 bệnh nhân được điều trị); rất hiếm (ít hơn 1 trường hợp trong 10000 bệnh nhân được điều trị).
Nhiễm khuẩn và nhiễm ký sinh trùng
Ít gặp: Nấm candida âm đạo
Khối u lành tính, ác tính và không xác định
Ít gặp: Tăng kích thước u mềm cơ trơn
Rối loạn hệ máu và bạch huyết
Rất hiếm: Ốm yếu do phá hủy các tế bào hồng cầu (thiếu máu tan huyết) các triệu chứng có thể gồm có da xanh nhợt, mệt mỏi toàn thân và/hoặc khó thở
Rối loạn hệ miễn dịch
Rất hiếm: Các phản ứng dị ứng (quá mẫn cảm)
Rối loạn tâm thần
Ít gặp: Trầm cảm, thay đổi dục năng, căng thẳng
Rối loạn hệ thần kinh
Thường gặp: Đau nửa đầu, đau đầu
Ít gặp: Chóng mặt
Rất hiếm: Co cơ không tự chủ (chứng múa giật)
Rối loạn mắt
Hiếm gặp: Ngấm vào độ cong của giác mạc, không dung nạp với kính áp tròng
Rối loạn tim
Rất hiếm: Cơn nhồi máu cơ tim
Rối loạn mạch
Ít gặp: Các cục máu ở chân hoặc phổi (nghẽn mạch huyết khối tĩnh mạch) (xem bên dưới để biết thêm thông tin)
Rất hiếm: Đột quỵ
Rối loạn tiêu hóa
Thường gặp: Buồn nôn, đau bụng, đầy hơi
Rất hiếm: Nôn
Rối loạn gan
Ít gặp: Bệnh túi mật
Hiếm gặp: Bất thường chức năng gan, thi thoảng kèm vàng mắt, da, suy nhược hoặc khó ở, và đau bụng.
Rối loạn da và mô dưới da
Ít gặp: Phản ứng dị ứng da (ví dụ: phát ban, ngứa ngáy)
Rất hiếm: Phù ngoại biên, mặt hoặc họng, điều này có thể gây khó thở (phù mạch), các đốm màu đỏ hoặc nâu trên da (ban đỏ đa dạng/nhiều u nốt), các đốm màu tía hoặc các nốt trên da (ban xuất huyết mạch máu), chứng rám da hoặc da đồi mồi có thể tồn tại khi đã ngừng thuốc.
Rối loạn cơ xương và mô liên kết
Thường gặp: Chuột rút chân
Ít gặp: Đau lưng
Rối loạn hệ sinh sản và vú
Thường gặp: đau/căng vú, chảy máu hoặc vết máu tử cung không do kinh nguyệt (xuất huyết tử cung) và xuất huyết sau mãn kinh, đau khung chậu.
Ít gặp: Ăn mòn cổ tử cung, thay đổi sự tiết ở cổ tử cung, đau kinh.
Hiếm gặp: Ngực to, hội chứng tiền kinh nguyệt
Rối loạn do bẩm sinh, yếu tố gen/gia đình
Rất hiếm: Trầm trọng thêm bệnh đái ra porphyria
Rối loạn chung và phản ứng tại nơi dùng thuốc
Thường gặp: Yếu cơ (suy nhược)
Ít gặp: Phù ngoại biên
Điều tra
Thường gặp: Tăng hoặc giảm cân
Các phản ứng bất lợi đã được báo cáo có liên hệ tới việc điều trị oestrogen-progestogen
- Khối u lành tính, ác tính và không xác định
. Khối u phụ thuộc oestrogen cả khối u tự giới hạn (u lành tính) và xâm lấn (u ác tính), ví dụ ung thư nội mạc tử cung, ung thư buồng trứng
. Tăng kích thước khối u phụ thuộc progestogen (ví dụ u màng não)
- Rối loạn hệ miễn dịch: Lupus ban đỏ hệ thống
- Rối loạn chuyển hóa và dinh dưỡng: Tăng triglycerid máu
- Rối loạn hệ thần kinh: Khả năng mất trí tăng, làm nặng thêm các triệu chứng động kinh
- Rối loạn hệ sinh sản và vú: Những thay đổi ở vú lành tính
- Rối loạn mạch: Các cục máu đông ở động mạch (chứng huyết khối động mạch)
- Rối loạn tiêu hóa: Viêm tụy (ở những phụ nữ đã bị tăng triglycerid máu trước đó)
- Điều tra: Tăng hormon tuyến giáp
- Rối loạn thận và tiết niệu: Mất kiểm soát của bàng quang (không kiềm chế được tiểu tiện).
Những thông tin bên dưới có liên quan đến nguy cơ của việc dùng HRT và tiến triển: ung thư vú, ung thư nội mạc tử cung, ung thư buồng trứng, nghẽn mạch huyết khối tĩnh mạch, bệnh động mạch vành, và/hoặc đột quỵ. Các thông tin được trình bày dưới dạng kết quả của các báo cáo nghiên cứu rộng rãi bao gồm các bảng biểu làm nổi bật kết quả của các nghiên cứu này.
Nguy cơ ung thư vú
- Đã có báo cáo cho thấy nguy cơ ung thư vú tăng gấp đôi ở phụ nữ dùng phối hợp oestrogen và progestogen trên 5 năm.
- Mức độ tăng nguy cơ ung thư vú ở người sử dụng riêng oestrogen thấp hơn rõ rệt so với ở người sử dụng phối hợp oestrogen và progestogen.
- Mức độ nguy cơ phụ thuộc vào thời gian sử dụng (xem mục Cảnh báo)
- Kết quả của nghiên cứu lớn nhất, ngẫu nhiên có so sánh với placebo (nghiên cứu của WHI) và nghiên cứu dịch tễ học lớn nhất (MWS) được đưa ra dưới đây.

Image from Drug Label Content

Nguy cơ ung thư nội mạc tử cung
Phụ nữ sau mãn kinh có tử cung
Khoảng 5/1000 phụ nữ có tử cung không dùng HRT có nguy cơ ung thư nội mạc tử cung.
Với phụ nữ có tử cung, không nên dùng HRT với riêng oestrogen vì làm tăng nguy cơ ung thư nội mạc tử cung (xem mục Cảnh báo).
Nghiên cứu dịch tễ học cho thấy: tùy thuộc vào thời gian điều trị bằng oestrogen riêng và liều oestrogen sử dụng, cứ 1000 phụ nữ trong độ tuổi từ 50 đến 65 thì nguy cơ ung thư nội mạc tử cung tăng thêm từ 5 đến 55 trường hợp.
Có thể tránh khỏi nguy cơ tăng thêm này bằng cách dùng thêm progestogen ít nhất 12 ngày mỗi chu kỳ. Trong nghiên cứu của MWS, sử dụng HRT phối hợp trong 5 năm (liên tục hoặc đứt đoạn) không làm tăng nguy cơ ung thư nội mạc tử cung (Tỉ lệ nguy cơ bằng 1,0 (0,8-1,2)).
Ung thư buồng trứng
Nguy cơ ung thư buồng trứng tăng nhẹ khi dùng lâu dài HRT với oestrogen riêng và phối hợp oestrogen với progestogen. Trong nghiên cứu của MWS, trong số 2500 người sử dụng HRT trong 5 năm thì có 1 trường hợp tăng thêm.
Nguy cơ huyết khối tĩnh mạch
HRT làm tăng nguy cơ huyết khối tĩnh mạch tiến triển (VTE) lên 1,3-3 lần, tức là huyết khối tĩnh mạch sâu hay thuyên tắc tĩnh mạch phổi. Hiện tượng này thường xảy ra hơn trong năm đầu tiên dùng HRT (xem mục Cảnh báo). Kết quả nghiên cứu của WHI cho thấy:

Image from Drug Label Content

Nguy cơ bệnh động mạch vành
Nguy cơ bệnh động mạch vành tăng nhẹ ở những người dùng kết hợp oestrogen-progestogen ở độ tuổi trên (xem mục Cảnh báo).
Nguy cơ đột quỵ
Chỉ dùng oestrogen và điều trị với oestrogen – progestogen có liên quan tới việc tăng 1,5 lần nguy cơ tương đối đột quỵ. Nguy cơ đột quỵ não không tăng trong thời gian dùng HRT.
Nguy cơ tương đối không phụ thuộc vào tuổi tác hay khoảng thời gian dùng thuốc, nhưng vì nguy cơ giới hạn phụ thuộc nhiều hơn vào tuổi nên nguy cơ đột quỵ chung ở phụ nữ dùng HRT sẽ không tăng theo tuổi (xem mục Cảnh báo).

Image from Drug Label Content
Register or sign in to continue
Asia's one-stop resource for medical news, clinical reference and education
Sign up for free
Already a member? Sign in