Femoston 1/10mg

Femoston 1/10mg Cảnh báo

estradiol

estradiol + dydrogesterone

Nhà sản xuất:

Abbott
Thông tin kê toa chi tiết tiếng Việt
Cảnh báo
Đối với việc điều trị triệu chứng sau mãn kinh, điều trị với Femoston 1/10 chỉ nên được bắt đầu nếu triệu chứng ảnh hưởng nghiêm trọng đến chất lượng cuộc sống. Trong mọi trường hợp, bác sỹ sẽ cẩn trọng cân nhắc cả hai yếu tố nguy cơ và lợi ích điều trị. Việc điều trị chỉ nên tiếp tục nếu lợi ích của nó vượt trội so với nguy cơ. Cần khuyến cáo đánh giá lại định kỳ.
Một số phụ nữ bước vào thời kỳ mãn kinh ở độ tuổi sớm hơn mong đợi. Ở những phụ nữ này, chỉ có những bằng chứng hạn chế về nguy cơ có liên quan đến HRT. Tuy nhiên, vì nguy cơ hoàn toàn đối với những phụ nữ trẻ hơn là thấp hơn, nên sự cân bằng giữa hai yếu tố lợi ích và nguy cơ có thể là có lợi hơn cho các đối tượng này so với những phụ nữ già hơn.
Khám và theo dõi
Trước khi bắt đầu hoặc bắt đầu dùng lại HRT, bác sỹ sẽ yêu cầu bệnh nhân cho biết tiền sử y khoa đầy đủ của cá nhân và gia đình. Theo những kết quả có được, bác sỹ sẽ thực hiện khám thực thể, có thể bao gồm khám cả khung xương chậu và vú. Bác sỹ cũng sẽ tính đến bất kì chống chỉ định và khuyến cáo khi dùng thuốc nào áp dụng cho bệnh nhân.
Trong suốt quá trình điều trị, bệnh nhân nên có những kiểm tra định kỳ, bao gồm chụp X-quang vú định kỳ theo khuyến cáo của bác sỹ và phụ thuộc vào tình trạng cá nhân của bệnh nhân, nhưng ít nhất là 1 lần mỗi năm.
Lưu ý quan trọng: Tự kiểm tra vú định kỳ. Nếu thấy bất kì thay đổi nào ở vú hãy báo ngay cho bác sỹ. Nếu bệnh nhân không biết chắc chắn cách tự kiểm tra vú hoặc những thay đổi thế nào, hãy hỏi bác sỹ. Để biết thêm thông tin, xem Ung thư vú bên dưới.
Những trường hợp cần theo dõi
Bác sỹ sẽ theo dõi cẩn trọng nếu bệnh nhân bị hoặc đã từng bị bất kì bệnh nào được liệt kê bên dưới, hoặc nếu có thai hoặc việc điều trị hormon trước đó làm tình trạng xấu đi. Có thể những bệnh này sẽ tái phát hoặc bị nặng hơn trong thời gian dùng Femoston 1/10, đặc biệt là:
- tăng sản bất thường nội mạc tử cung (u xơ tử cung) hoặc các mô bên ngoài tử cung (lạc nội mạc tử cung)
- các yếu tố nguy cơ cục máu đông hoặc các rối loạn khác gây ra bởi tắc nghẽn các mạch máu (rối loạn đông máu, xem Nghẽn mạch huyết khối tĩnh mach bên dưới)
- nguy cơ các khối u phụ thuộc oestrogen tăng, ví dụ mối liên hệ trực tiếp với ung thư vú (mức độ 1, như mẹ hoặc chị em gái)
- tăng huyết áp
- rối loạn gan, ví dụ: u tuyến, một loại khối u lành tính
- tiểu đường có hoặc không có đồng thời các biến chứng mạch
- sỏi mật (bệnh sỏi mật)
- đau nửa đầu hoặc đau đầu nghiêm trọng
- rối loạn hệ miễn dịch ảnh hưởng đến nhiều cơ quan của cơ thể (lupus ban đỏ hệ thống)
- tiền sử dầy lên bất thường màng trong tử cung (tăng sản nội mạc tử cung, xem bên dưới)
- các cơn co giật (động kinh)
- hen
- bệnh tai trong (bệnh xơ cứng tai).
Các lý do cần ngưng dùng Femoston ngay lập tức
Bác sỹ sẽ dừng điều trị với Femoston 1/10 nếu bệnh nhân có bất kì chống chỉ định nào hoặc bác sỹ thấy vấn đề nào sau đây:
- vàng da và/hoặc trắng mắt (chứng vàng da)
- chức năng gan xấu đi
- huyết áp tăng rõ rệt
- cơn đau đầu mới kiểu đau nửa đầu
- mang thai.
Lưu ý quan trọng: Nếu bệnh nhân gặp bất kì tình trạng nào được liệt kê bên trên, ngưng dùng Femoston ngay lập tức.
Ung thư vú
Toàn bộ bằng chứng ám chỉ tăng nguy cơ tiến triển ung thư vú ở những phụ nữ dùng dạng kết hợp oestrogen-progestogen và cũng có thể chỉ dùng oestrogen, điều đó phụ thuộc vào thời gian điều trị.
Liệu pháp oestrogen-progestogen kết hợp
- Nghiên cứu ngẫu nhiên có kiểm soát giả dược, nghiên cứu WHI (Tổ chức Nghiên cứu sức khỏe phụ nữ), và các nghiên cứu dịch tễ đã tìm thấy rằng nguy cơ ung thư vú tăng lên ở phụ nữ dùng HRT phối hợp oestrogen-progestogen, thấy rõ sau khoảng 3 năm (xem mục Tác dụng ngoại ý).
Liệu pháp dùng riêng oestrogen
- Thử nghiệm của WHI cho thấy nguy cơ ung thư vú không tăng ở phụ nữ đã phẫu thuật cắt bỏ tử cung chỉ dùng oestrogen để thay thế hormon. Các nghiên cứu quan sát cho thấy tỉ lệ tăng nguy cơ ung thư vú ở nhóm chỉ dùng oestrogen thấp hơn đáng kể so với nhóm dùng hỗn hợp oestrogen-progestogen (xem mục Tác dụng ngoại ý).
Sự tăng nguy cơ bắt đầu nhận thấy được từ vài năm sau khi điều trị nhưng lại trở lại như cũ sau vài (thường là 5) năm sau khi dừng thuốc.
HRT, đặc biệt là điều trị phối hợp oestrogen-progestogen, làm tăng mật độ ảnh X quang vú, do đó có thể ảnh hưởng xấu tới việc phát hiện ung thư vú bằng phóng xạ.
Tăng sản nội mạc tử cung và ung thư biểu mô
Ở phụ nữ còn tử cung nguyên vẹn, nguy cơ tăng sản nội mạc tử cung và ung thư biểu mô tăng lên khi dùng oestrogen một mình trong thời gian dài. Các báo cáo cho thấy nguy cơ ung thư nội mạc tử cung ở những người chỉ dùng oestrogen tăng lên gấp từ 2 đến 12 lần so với người không sử dụng, phụ thuộc vào thời gian điều trị và liều oestrogen sử dụng (xem mục Tác dụng ngoại ý). Nguy cơ này vẫn còn cao trong ít nhất 10 năm sau khi ngừng điều trị.
Dùng thêm progestogen theo chu kỳ, ít nhất 12 ngày mỗi tháng/chu kỳ 28 ngày, hoặc dùng liên tục phối hợp oestrogen-progestogen cho phụ nữ chưa phẫu thuật cắt bỏ tử cung có thể tránh được sự tăng nguy cơ ung thư do chỉ dùng riêng oestrogen.
Chảy máu bất thường hoặc có vết máu có thể xảy ra trong tháng đầu điều trị. Nếu bệnh nhân thấy chảy máu bất thường hoặc có vết máu xuất hiện nhiều lần trong khi điều trị hoặc vẫn còn tiếp tục sau khi đã ngừng điều trị, hãy thông báo ngay với bác sỹ. Bác sỹ sẽ điều tra xác định nguyên nhân (ví dụ sinh thiết tử cung (nội mạc tử cung) để loại trừ ung thư tử cung (nội mạc tử cung ác tính).
Ung thư buồng trứng
Ung thư buồng trứng hiếm gặp hơn ung thư vú nhiều. Sử dụng lâu dài (ít nhất 5-10 năm) chỉ oestrogen có liên quan đến tăng nhẹ nguy cơ ung thư buồng trứng (xem mục Tác dụng ngoại ý). Một số nghiên cứu, gồm có các nghiên cứu WHI ám chỉ rằng dùng lâu dài HRT dạng kết hợp có thể gây ra nguy cơ tương tự hoặc nhẹ hơn (xem mục Tác dụng ngoại ý).
Huyết khối tĩnh mạch sâu
- HRT có liên quan tới việc tăng 1,3-3 lần nguy cơ tiến triển huyết khối tĩnh mạch (VTE), như huyết khối tĩnh mạch sâu hoặc thuyên tắc phổi. Nguy cơ này ở năm đầu tiên dùng HRT cao hơn là ở những năm về sau (xem mục Tác dụng ngoại ý).
- Nếu đang bị rối loạn đông máu bệnh nhân sẽ tăng nguy cơ bị huyết khối tĩnh mạch, và HRT có thể làm tăng thêm nguy cơ này. Bệnh nhân không được dùng HRT trong những trường hợp này (xem mục Chống chỉ định).
- Nhìn chung, các yếu tố nguy cơ về huyết khối tĩnh mạch bao gồm: dùng oestrogen, tuổi già, đại phẫu thuật, bất động thời gian dài, béo phì (BMI >30kg/m2), thời kỳ có thai/sau sinh, bệnh lupus ban đỏ hệ thống (SLE), và ung thư. Vai trò gây giãn tĩnh mạch không có liên quan trong VTE.
- Nếu bệnh nhân đã trải qua phẫu thuật, cần có các biện pháp dự phòng tránh VTE sau khi phẫu thuật. Nếu sau khi phẫu thuật chọn lọc cần bất động thời gian dài, bác sỹ có thể quyết định tạm thời ngừng HRT trước từ 4 đến 6 tuần. Không tiếp tục dùng HRT cho tới khi bạn cử động được hoàn toàn.
- Nếu bệnh nhân không có tiền sử VTE nhưng trong số những người có quan hệ huyết thống gần nhất trong gia đình có người bị huyết khối khi còn trẻ, bác sỹ có thể khuyến cáo bệnh nhân cần chiếu/chụp nếu một bệnh tương tự bệnh nhân có thể bị ảnh hưởng. Tuy nhiên, cần hiểu rằng chiếu/chụp chỉ xác định được 1 tỉ lệ nhất định khuyết tật tắc mạch do huyết khối.
- Nếu khuyết tật do huyết khối được xác định là không liên quan đến huyết khối của các thành viên khác trong gia đình, hoặc nếu là khuyết tật nghiêm trọng (tức là thiếu antithrombin, prptein S hoặc protein C hoặc phối hợp nhiều khuyết tật) thì chống chỉ định HRT cho những trường hợp này.
- Nếu bệnh nhân đã điều trị chất chống đông mãn tính cần cân nhắc cẩn thận giữa lợi ích và nguy cơ rủi ro khi dùng HRT.
- Nếu bệnh nhân bị VTE tiến triển sau khi bắt đầu điều trị với Femoston 1/10, bác sỹ sẽ ngưng việc điều trị. Thêm vào đó, ngưng dùng Femoston 1/10 và thông báo ngay với bác sỹ nếu bệnh nhân nhận thấy nguy cơ có bất kì triệu chứng huyết khối nào như sưng đau ở một chân, hoặc đau thắt ngực đột ngột, và/hoặc khó thở (thở gấp).
Bệnh động mạch vành (CAD)
Không có bằng chứng từ các thử nghiệm ngẫu nhiên có kiểm soát về sự bảo vệ chống lại nhồi máu cơ tim ở phụ nữ có hoặc không có bệnh mạch vành (CAD) dùng HRT phối hợp oestrogen-progestogen hoặc chỉ riêng oestrogen.
Liệu pháp phối hợp oestrogen-progestogen
Nguy cơ tương đối CAD tăng nhẹ khi dùng HRT phối hợp giữa oestrogen và progestogen. Vì nguy cơ tuyệt đối cơ bản CAD phụ thuộc nhiều vào tuổi tác nên ở phụ nữ khỏe mạnh ở tuổi gần mãn kinh, số các ca CAD tăng thêm do sử dụng oestrogen-progestogen là rất ít, nhưng sẽ tăng lên khi nhiều tuổi hơn (xem mục Tác dụng ngoại ý).
Liệu pháp chỉ dùng oestrogen
Dữ liệu ngẫu nhiên có kiểm soát cho thấy nguy cơ CAD không tăng thêm ở phụ nữ phẫu thuật cắt tử cung chỉ dùng oestrogen.
Đột quỵ não
HRT, bao gồm cả liệu pháp phối hợp oestrogen và progestogen và liệu pháp chỉ dùng oestrogen làm tăng nguy cơ đột quỵ não lên 1,5 lần. Liên quan này không phụ thuộc vào tuổi hay thời gian trước khi mãn kinh. Tuy nhiên, vì rằng nguy cơ đột quỵ thông thường phụ thuộc nhiều vào tuổi, nên nguy cơ đột quỵ nói chung ở phụ nữ dùng HRT cũng sẽ tăng theo tuổi (xem mục Tác dụng ngoại ý).
Các trường hợp khác
- Oestrogen có thể gây giữ nước, vì vậy bệnh nhân rối loạn chức năng tim hay thận cần được theo dõi cẩn thận.
- Nếu bệnh nhân bị tăng nồng độ lipid trong máu (tăng triglycerid máu), bệnh nhân nên được theo dõi sát khi điều trị bằng HRT (dù chỉ dùng oestrogen hoặc hay chế phẩm kết hợp). Trong những trường hợp hiếm gặp mức lipid máu (triglycerid) tăng quá cao dẫn tới viêm tụy khi điều trị bằng oestrogen cho những trường hợp này.
- Các oestrogen có thể ảnh hưởng đến chức năng tuyến giáp. Đặc biệt là, oestrogen làm tăng globulin liên kết tuyến giáp (TBG), dẫn tới tăng tổng lượng hormon tuyến giáp trong tuần hoàn. Hormon tuyến giáp trong tuần hoàn được xác định bởi iod liên kết với protein (PBI), hàm lượng T4 (đo bằng cột hoặc bằng miễn dịch huỳnh quang) hoặc T3 (đo bằng miễn dịch huỳnh quang). Sự giảm hấp thụ hạt T3 phản ánh TBG cao. Nồng độ T3 và T4 tự do là không đổi. Các protein liên hợp khác có thể cũng tăng cao trong huyết tương, tức là globulin liên kết với corticoid (CBG), globulin liên kết với hormon sinh dục (SHBG) dẫn tới tăng lượng corticosteroid và steroid sinh dục trong tuần hoàn chung. Nồng độ hormon tự do hoặc có hoạt tính sinh học là không thay đổi. Nồng độ các protein khác trong huyết tương cũng có thể tăng lên (chất nền tiền chất angiotensin/renin, alpha-I antitrypsin, ceruloplasmin).
- Sử dụng HRT không cải thiện chức năng nhận thức một cách rõ ràng. Có một vài dẫn chứng về sự tăng lên của nguy cơ có thể bị khủng hoảng thần kinh ở phụ nữ ngoài 65 tuổi mới bắt đầu dùng HRT (cả chế phẩm phối hợp liên tục hoăc chỉ dùng oestrogen) sau 65 tuổi.
- Không dùng thuốc này nếu bệnh nhân có vấn đề về di truyền hiếm gặp như: không dung nạp galactose, thiếu hụt lactase Lapp hoặc kém hấp thu glucose-galactose (Femoston 1/10 có chứa lactose monohydrat).
Femoston 1/10 không phải là một thuốc tránh thai và không được dùng cho những phụ nữ có ý định mang thai. Trong trường hợp nghi ngờ, dùng biện pháp tránh thai không hormon.
Ảnh hưởng trên khả năng lái xe và vận hành máy móc
Femoston 1/10 không có hoặc có ảnh hưởng không đáng kể trên khả năng lái xe và vận hành máy móc.
Register or sign in to continue
Asia's one-stop resource for medical news, clinical reference and education
Sign up for free
Already a member? Sign in