Fulvestrant Ebewe

Fulvestrant Ebewe Dược động học

fulvestrant

Nhà sản xuất:

Ebewe Pharma

Nhà phân phối:

Zuellig Pharma

Nhà tiếp thị:

Sandoz
Thông tin kê toa chi tiết tiếng Việt
Dược động học
Hấp thu
Sau khi dùng fulvestrant tác dụng kéo dài tiêm bắp, fulvestrant được hấp thu chậm và nồng độ đỉnh trong huyết tương (Cmax) đạt được sau khoảng 5 ngày. Sử dụng phác đồ fulvestrant 500 mg đạt được mức độ phơi nhiễm bằng hoặc gần bằng trạng thái ổn định trong tháng đầu tiên dùng thuốc (trung bình [CV]: AUC 475 [33,4%] ng.ngày/mL, Cmax 25,1 [35,1%] ng/mL, Cmin 16,3 [25,9%] ng/mL). Tại trạng thái ổn định, nồng độ fulvestrant trong huyết tương được duy trì trong một khoảng tương đối hẹp với sự khác biệt giữa nồng độ đỉnh và nồng độ đáy xấp xỉ 3 lần. Sau khi tiêm bắp, mức độ phơi nhiễm gần như tuyến tính theo liều trong khoảng liều từ 50 đến 500 mg.
Phân bố
Fulvestrant được phân bố nhanh và rộng trong cơ thể. Thể tích phân bố biểu kiến lớn tại trạng thái ổn định (Vdss) khoảng 3 đến 5 L/kg, gợi ý thuốc có khả năng phân bố rộng ngoài mạch máu. Fulvestrant liên kết cao với protein huyết tương (99%). Lipoprotein tỉ trọng rất thấp (VLDL), lipoprotein tỉ trọng thấp (LDL) và lipoprotein tỉ trọng cao (HDL) là các thành phần liên kết chính với thuốc. Chưa có nghiên cứu tương tác được thực hiện để đánh giá sự cạnh tranh liên kết protein. Vai trò của globulin liên kết với hormon giới tính (SHGB) chưa được xác định.
Chuyển hóa
Chưa có nghiên cứu đầy đủ về chuyển hóa của fulvestrant, tuy nhiên ảnh hưởng kết hợp của một số con đường chuyển hóa có thể tương tự như đường chuyển hóa các steroid nội sinh. Các chất chuyển hóa đã được xác định (bao gồm 17-ceton, sulphon, 3-sulphat, 3- và 17-glucuronid) có hoạt tính kém hơn hoặc có hoạt tính tương tự fulvestrant trên các mô hình kháng oestrogen. Các nghiên cứu sử dụng mẫu gan người và enzym người tái tổ hợp cho thấy CYP3A4 là isoenzym P450 duy nhất liên quan đến oxy hóa fulvestrant; tuy nhiên con đường chuyển hóa không thông qua P450 dường như chiếm ưu thế hơn trong nghiên cứu in vivo. Dữ liệu in vitro cho thấy fulvestrant không ức chế các isoenzym CYP450.
Thải trừ
Fulvestrant được thải trừ chủ yếu dưới dạng đã chuyển hóa. Con đường bài tiết chính là qua phân, tỉ lệ bài tiết qua nước tiểu dưới 1%. Fulvestrant có độ thanh thải lớn (11 ± 1,7 mL/phút/kg), gợi ý tỉ số chiết tách qua gan lớn. Thời gian bán thải (t1/2) sau khi tiêm bắp phụ thuộc vào tốc độ hấp thu và ước tính khoảng 50 ngày.
Các đối tượng đặc biệt
Trong một phân tích dược động học quần thể sử dụng dữ liệu từ các nghiên cứu pha III, không ghi nhận sự khác biệt về đặc tính dược động học của fulvestrant liên quan đến tuổi (từ 33 đến 89 tuổi), cân nặng (40-127 kg) hoặc chủng tộc.
Suy thận
Suy giảm chức năng thận mức độ nhẹ đến trung bình không thấy ảnh hưởng về dược động học của fulvestrant đến lâm sàng.
Suy gan
Dược động học của fulvestrant đã được đánh giá trong một thử nghiệm lâm sàng đơn liều trên các bệnh nhân suy gan nhẹ đến trung bình (Child-Pugh A và B). Liều cao của dạng tiêm bắp trong thời gian ngắn đã được sử dụng. Đã ghi nhận sự tăng AUC lên tới 2,5 lần trên các bệnh nhân suy gan so với các đối tượng khỏe mạnh. Trên các bệnh nhân sử dụng fulvestrant, tăng phơi nhiễm với mức độ như trên được dự đoán có khả năng dung nạp tốt.
Các bệnh nhân suy gan nặng (Child-Pugh C) chưa được nghiên cứu.
Bệnh nhi
Dược động học của fulvestrant đã được nghiên cứu trong một thử nghiệm lâm sàng được thực hiện trên 30 trẻ em gái mắc chứng dậy thì sớm có liên quan Hội chứng McCune Albright. Các bệnh nhi có tuổi từ 1 đến 8 và được điều trị bằng fulvestrant 4 mg/kg mỗi tháng. Giá trị trung bình hình học (độ lệch chuẩn) của nồng độ đáy ở trạng thái ổn định (Cmin,ss) và AUCss lần lượt là 4,2 (0,9) ng/mL và 3680 (1020) ng*giờ/mL. Mặc dù dữ liệu thu được tương đối hạn chế, nồng độ đáy ở trạng thái ổn định của fulvestrant trên trẻ em dường như phù hợp với dữ liệu trên người lớn.
Register or sign in to continue
Asia's one-stop resource for medical news, clinical reference and education
Sign up for free
Already a member? Sign in