Fulvestrant Ebewe

Fulvestrant Ebewe An toàn tiền lâm sàng

fulvestrant

Nhà sản xuất:

Ebewe Pharma

Nhà phân phối:

Zuellig Pharma

Nhà tiếp thị:

Sandoz
Thông tin kê toa chi tiết tiếng Việt
An toàn tiền lâm sàng
Độc tính cấp của fulvestrant thấp.
Fulvestrant và các dạng bào chế khác của fulvestrant có khả năng dung nạp tốt trên các loài động vật trong các nghiên cứu đa liều. Các phản ứng tại chỗ, bao gồm viêm cơ và u hạt tại vị trí tiêm được cho là do dung môi, tuy nhiên mức độ nặng của viêm cơ trên thỏ tăng lên ở nhóm fulvestrant so với nhóm chứng nước muối sinh lý. Trong các nghiên cứu độc tính với fulvestrant tiêm bắp đa liều trên chuột cống và chó, hoạt tính kháng oestrogen của fulvestrant chịu trách nhiệm cho hầu hết các tác dụng được ghi nhận, đặc biệt trên hệ sinh sản giống cái, nhưng cũng có ảnh hưởng đến các cơ quan khác nhạy cảm với hormon ở cả hai giới. Viêm động mạch liên quan đến nhiều mô khác nhau đã được ghi nhận trên một số chó sau khi dùng thuốc kéo dài (12 tháng).
Trong các nghiên cứu trên chó sử dụng thuốc theo đường uống và đường tĩnh mạch, những tác động trên hệ tim mạch (đoạn S-T chênh lên nhẹ trên điện tâm đồ [đường uống] và ngưng xoang trên một con chó [đường tĩnh mạch]) đã được ghi nhận. Những tác động này xuất hiện ở các mức phơi nhiễm cao hơn trên bệnh nhân (Cmax > 15 lần) và có thể có ý nghĩa hạn chế đối với dữ liệu độ an toàn trên người khi sử dụng mức liều lâm sàng.
Fulvestrant được cho thấy không có tiềm năng độc tính gen.
Fulvestrant được cho thấy có ảnh hưởng đến quá trình sinh sản và phát triển phôi/bào thai phù hợp với hoạt tính kháng oestrogen của thuốc này khi sử dụng với các mức liều tương tự như liều dùng trên lâm sàng. Trên chuột cống, đã ghi nhận sự giảm có hồi phục khả năng sinh sản ở giống cái và sống còn của phôi, sinh khó và tăng tỉ lệ gặp dị tật thai nhi bao gồm cong cổ chân. Dùng fulvestrant trên thỏ dẫn đến sảy thai. Tăng khối lượng nhau thai và mất thai sau khi phôi đã làm tổ đã được ghi nhận. Có sự gia tăng tỉ lệ biến thể bào thai trên thỏ (sự dịch chuyển về phía sau của đai chậu và đốt sống 27 trước xương cùng).
Một nghiên cứu khả năng sinh ung thư kéo dài hai năm trên chuột cống (tiêm bắp fulvestrant) cho thấy có sự tăng tỉ lệ xuất hiện u tế bào hạt buồng trứng lành tính trên chuột cái với liều cao 10 mg/cá thể/15 ngày và tăng tỉ lệ xuất hiện u tế bào Leydig tinh hoàn trên chuột đực. Trong một nghiên cứu khả năng sinh ung thư kéo dài hai năm trên chuột nhắt (dùng thuốc hàng ngày theo đường uống), đã ghi nhận sự tăng tỉ lệ xuất hiện u mô đệm - dây sinh dục buồng trứng (cả lành tính và ác tính) tại mức liều 150 và 500 mg/kg/ngày. Tại mức phơi nhiễm không ảnh hưởng đến những kết quả này, mức độ phơi nhiễm toàn thân (AUC) trên chuột cống xấp xỉ 1,5 lần mức phơi nhiễm dự đoán trên người đối với giống cái và 0,8 lần đối với giống đực; giá trị này trên chuột nhắt là khoảng 0,8 lần mức phơi nhiễm dự đoán trên người đối với cả hai giống. Tác dụng sinh khối u này phù hợp với những thay đổi phản hồi nội tiết liên quan đến dược lý của nồng độ gonadotropin gây ra bởi hoạt tính kháng estrogen trên chu kì sinh dục của động vật. Do đó, những kết quả này được coi là không có mối tương quan với sử dụng fulvestrant trên phụ nữ sau mãn kinh mắc ung thư vú tiến triển.
Register or sign in to continue
Asia's one-stop resource for medical news, clinical reference and education
Sign up for free
Already a member? Sign in