Gazyva

Gazyva Dược động học

obinutuzumab

Nhà sản xuất:

Roche
Thông tin kê toa chi tiết tiếng Việt
Dược động học
Mô hình dược động học quần thể đã được phát triển để phân tích dữ liệu dược động học trên 469 bệnh nhân u lymphô không Hodgkin tiến triển chậm (iNHL), 342 bệnh nhân bạch cầu dòng lymphô mạn tính (CLL), và 130 bệnh nhân u lymphô tế bào B lớn lan tỏa (DLBCL) từ các nghiên cứu pha I, pha II và pha III đã dùng GAZYVA.
Hấp thu
GAZYVA được dùng đường tĩnh mạch, chưa có các nghiên cứu lâm sàng được thực hiện với các đường dùng khác của thuốc. Từ mô hình dược động học quần thể, sau ngày 1 chu kỳ 6 truyền thuốc cho bệnh nhân CLL, trung vị nồng độ tối đa (Cmax) ước tính là 465,7 μg/mL và giá trị diện tích dưới đường cong AUC(τ) là 8,961 μg.d/mL và trong nhóm iNHL, trung vị nồng độ tối đa (Cmax) ước tính là 539,3 μg/mL và giá trị diện tích dưới đường cong AUC(τ) là 10,956 μg.d/mL.
Phân bố
Sau khi dùng đường tĩnh mạch, thể tích phân phối khoang trung tâm là 2,72L, xấp xỉ thể tích huyết thanh, phân bố phần lớn giới hạn trong huyết tương và dịch kẽ.
Chuyển hóa
Quá trình chuyển hóa của GAZYVA chưa được nghiên cứu trực tiếp. Kháng thể chủ yếu được đào thải qua quá trình dị hóa.
Thải trừ
Mức độ thải trừ của GAZYVA trên bệnh nhân CLL xấp xỉ 0,11 L/ngày và 0,08 L/ngày trên bệnh nhân iNHL với thời gian bán thải trung vị là 26,4 ngày ở bệnh nhân CLL và 36,8 ngày trên bệnh nhân iNHL.
Thải trừ GAZYVA gồm hai con đường song song, thải trừ tuyến tính và không tuyến tính, thay đổi chức năng theo thời gian. Trong quá trình bắt đầu điều trị, thải trừ không tuyến tính thay đổi theo thời gian là con đường thải trừ chính. Khi tiếp tục điều trị, tác động của con đường này giảm và con đường thải trừ tuyến tính chiếm ưu thế. Trong giai đoạn đầu, do GAZYVA gắn nhiều với tế bào CD20 vì sự phân bố thông qua đích tác dụng của thuốc (target medicated drug disposition - TMDD) nên làm giảm nhanh nồng độ GAZYVA trong vòng tuần hoàn. Tuy nhiên, khi đa số tế bào CD20 đã gắn với GAZYVA, ảnh hưởng TMDD đến dược động học của thuốc giảm đến mức tối thiểu.
Dược động học trên các đối tượng bệnh nhân đặc biệt
Trong phân tích dược động học quần thể, giới tính được thấy là một biến giải thích một số thay đổi giữa các bệnh nhân, với độ thanh thải của thuốc ở trạng thái ổn định (CLss) lớn hơn 18% và thể tích phân bố (V) lớn hơn 19% trên nam giới. Tuy nhiên, kết quả từ phân tích quần thể cho thấy sự khác biệt về mức độ phơi nhiễm thuốc không có ý nghĩa (với giá trị AUC và Cmax trung bình ước tính ở bệnh nhân CLL là 11282 µg*d/mL và 578,9 µg/mL ở nữ và 8451 µg*d/mL và 432.5 µg/mL ở nam, tương ứng ở chu kỳ 6; và giá trị AUC và Cmax ở bệnh nhân iNHL lần lượt là 13172 µg*d/mL và 635,7 µg/mL ở nữ và 9769 µg*d/mL và 481,3 µg/mL ở nam, điều đó cho thấy không cần thiết hiệu chỉnh liều theo giới tính.
Bệnh nhân cao tuổi
Phân tích dược động học quần thể của GAZYVA cho thấy tuổi không ảnh hưởng đến dược động học của thuốc. Không có khác biệt có ý nghĩa về dược động học của GAZYVA được ghi nhận giữa nhóm bệnh nhân <65 tuổi (n=454), bệnh nhân từ 65 đến 75 tuổi (n=317) và bệnh nhân >75 tuổi (n=190).
Bệnh nhi
Chưa có các nghiên cứu về dược động học của GAZYVA trên trẻ em được thực hiện.
Suy thận
Phân tích dược động học quần thể của GAZYVA cho thấy thanh thải creatinin (CrCl) không ảnh hưởng đến dược động học của thuốc. Dược động học của GAZYVA trên bệnh nhân suy thận nhẹ (CrCl 50 – 89 mL/phút, n=464) hoặc trung bình (CrCl 30 – 49 mL/phút, n= 106) tương tự trên bệnh nhân có chức năng thận bình thường (CrCl ≥ 90 mL/phút, n=383). Các dữ liệu trên bệnh nhân suy thận nặng (CrCl 15 – 29 mL/phút) còn hạn chế (n=8), do đó không có khuyến cáo nào về liều dùng của thuốc.
Suy gan
Chưa có các nghiên cứu dược động học chính thức được thực hiện và không có các dữ liệu dược động học quần thể được thu thập trên bệnh nhân suy gan.
Register or sign in to continue
Asia's one-stop resource for medical news, clinical reference and education
Sign up for free
Already a member? Sign in