Mới
Halaven

Halaven Dược lực học

Nhà sản xuất:

Eisai
Thông tin kê toa chi tiết tiếng Việt
Dược lực học
Nhóm dược lý điều trị: Các thuốc chống ung thư khác, mã ATC: L01XX41.
HALAVEN (eribulin mesylate) là một chất ức chế động lực học của vi ống thuộc nhóm halichondrin của các thuốc chống ung thư. Đây là chất tổng hợp tương tự cấu trúc đơn giản của halichondrin B, một hợp chất tự nhiên được phân lập từ rong biển Halichondria okadai.
Eribulin ức chế sự phát triển của các vi ống mà không ảnh hưởng đến giai đoạn co ngắn và cô lập tubulin dẫn đến quá trình kết tụ tubulin không hình thành. Eribulin thể hiện tác dụng của nó thông qua cơ chế khóa chu trình của tế bào G2/M, gián đoạn phân bào, và cuối cùng là tế bào chết theo chương trình sau quá trình tắc nghẽn phân bào kéo dài.
Hiệu quả lâm sàng
Hiệu quả của HALAVEN trong ung thư vú chủ yếu được chứng minh bằng hai nghiên cứu so sánh ngẫu nhiên pha 3.
762 bệnh nhân trong nghiên cứu then chốt pha 3 EMBRACE (nghiên cứu 305) có ung thư vú tái phát tại chỗ hoặc di căn, và trước đó đã nhận ít nhất là 2 và tối đa là 5 phác đồ điều trị, bao gồm một anthracycline và một taxane (trừ khi có chống chỉ định). Bệnh nhân phải có bệnh tiến triển trong vòng 6 tháng của liều hóa trị liệu cuối cùng. Tình trạng thụ thể yếu tố tăng trưởng biểu bì 2 ở người (HER2) của bệnh nhân là: 16,1% dương tính, 74,2% âm tính và 9,7% không rõ, trong khi 18,9% bệnh nhân thuộc thể bộ ba âm tính. Các bệnh nhân này được phân nhóm ngẫu nhiên 2:1 để điều trị bằng HALAVEN hoặc theo lựa chọn điều trị của bác sĩ (TPC), bao gồm 97% hóa trị liệu (26% vinorelbine, 18% gemcitabine, 18% capecitabine, 16% taxane, 9% anthracycline, 10% hóa trị khác), hoặc 3% sử dụng liệu pháp hormon.
Nghiên cứu này đáp ứng tiêu chí chính với thời gian sống thêm toàn bộ (OS) có ý nghĩa thống kê tốt hơn trong nhóm eribulin so với TPC ở mức 55% của các biến cố.
Kết quả này được khẳng định với một phân tích thời gian sống thêm toàn bộ cập nhật được thực hiện ở mức 77% của các biến cố.
- xem Hình 1.

Image from Drug Label Content

Bằng cách đánh giá độc lập, thời gian sống thêm không tiến triển bệnh (PFS) trung bình là 3,7 tháng đối với nhóm điều trị bằng eribulin so với 2,2 tháng đối với nhóm theo lựa chọn điều trị của bác sĩ (TPC) (Tỷ số nguy cơ (HR) 0,865, khoảng tin cậy (CI) 95%: 0,714; 1,048, p = 0,137). Ở những bệnh nhân có thể đánh giá được đáp ứng, tỷ lệ đáp ứng mục tiêu theo tiêu chuẩn RECIST là 12,2% (CI 95%: 9,4%; 15,5%) theo đánh giá độc lập đối với nhóm eribulin so với 4,7% (CI 95%: 2,3%; 8,4%) đối với nhóm TPC.
Hiệu quả tích cực trên thời gian sống thêm toàn bộ (OS) được ghi nhận ở cả hai nhóm bệnh nhân kháng và không kháng taxane. Trong thời gian sống thêm toàn bộ cập nhật, tỷ số nguy cơ (HR) của nhóm eribulin so với nhóm theo lựa chọn điều trị của bác sĩ (TPC) là 0,90 (95% CI 0,71; 1,14) thiên về eribulin cho nhóm bệnh nhân kháng taxane và  0,73 (95% CI 0,56; 0,96) cho bệnh nhân không kháng taxane.
Hiệu quả tích cực trên thời gian sống thêm toàn bộ (OS) được ghi nhận ở cả hai nhóm bệnh nhân không sử dụng và đã sử dụng capecitabine. Kết quả phân tích của thời gian sống thêm toàn bộ cập nhật cho thấy lợi ích sống thêm của nhóm eribulin so với nhóm theo lựa chọn điều trị của bác sĩ (TPC) trong đó bệnh nhân đã sử dụng capecitabine với tỷ số nguy cơ HR là 0,787 (95% CI 0,645; 0,961), nhóm bệnh nhân không sử dụng capecitabine HR tương ứng là 0,865 (95% CI 0,606; 1,233).
Nghiên cứu 301 – một nghiên cứu pha 3 thứ hai về điều trị đầu tay ung thư vú di căn, là một nghiên cứu nhãn mở, ngẫu nhiên trên các bệnh nhân (n = 1102) bị ung thư vú tiến xa tại chỗ hoặc di căn để khảo sát hiệu quả của đơn trị liệu bằng HALAVEN so với đơn trị liệu bằng capecitabine về thời gian sống thêm toàn bộ (OS) và thời gian sống thêm không tiến triển bệnh (PFS) là tiêu chí đánh giá chính kết hợp. Bệnh nhân trước đó đã nhận được 3 phác đồ hóa trị liệu, bao gồm cả anthracycline và taxane và tối đa là 2 loại đối với bệnh tiến xa, với tỷ lệ phần trăm những người đã nhận được 0, 1 hoặc 2 phác đồ hóa trị liệu trước đó cho bệnh ung thư vú di căn theo thứ tự là 20,0%, 52,0 % hoặc 27,2%. Tình trạng HER2 của bệnh nhân là: 15,3% dương tính, 68,5% âm tính và 16,2% không rõ, trong khi 25,8% số bệnh nhân thuộc thể bộ ba âm tính.
- xem Hình 2.

Image from Drug Label Content

Thời gian sống thêm không tiến triển bệnh được đánh giá bằng xem xét độc lập là tương tự nhau giữa eribulin và capecitabine với thời gian trung bình là 4,1 tháng so với 4,2 tháng (Tỷ số nguy cơ  (HR) 1,08; [CI 95%: 0,932; 1,250]) theo thứ tự tương ứng. Tỷ lệ đáp ứng mục tiêu được đánh giá độc lập cũng tương tự nhau giữa nhóm dùng eribulin và nhóm dùng capecitabine; 11,0% (CI 95%: 8,5; 13,9) trong nhóm dùng eribulin và 11,5% (CI 95%: 8,9; 14,5) trong nhóm dùng capecitabine.
Thời gian sống thêm toàn bộ ở những bệnh nhân HER2 âm tính và bệnh nhân HER2 dương tính ở nhóm dùng eribulin và nhóm chứng trong nghiên cứu 305 và nghiên cứu 301 được trình bày dưới đây:
- xem Bảng 1.

Image from Drug Label Content

Quần thể bệnh nhi
Cơ quan quản lý thuốc Châu Âu đã miễn yêu cầu phải nộp các kết quả nghiên cứu với eribulin trong tất cả các phân nhóm quần thể bệnh nhi trong chỉ định ung thư vú.
Register or sign in to continue
Asia's one-stop resource for medical news, clinical reference and education
Sign up for free
Already a member? Sign in