Mới
Halaven

Halaven Dược động học

Nhà sản xuất:

Eisai
Thông tin kê toa chi tiết tiếng Việt
Dược động học
Phân bố
Dược động học của eribulin đặc trưng bởi một giai đoạn phân bố nhanh, tiếp theo là một giai đoạn thải trừ kéo dài, với thời gian bán thải trung bình xấp xỉ 40 giờ. Thuốc có thể tích phân bố lớn (43 đến 114 L/m2).
Eribulin liên kết yếu với protein huyết tương. Tỷ lệ eribulin gắn với protein huyết tương người (100 – 1000 ng/mL) dao động từ 49% đến 65%.
Chuyển hóa sinh học
Eribulin dưới dạng không biến đổi được tìm thấy phần lớn trong huyết tương sau khi sử dụng đồng vị phóng xạ 14C-eribulin cho bệnh nhân. Nồng độ chất chuyển hóa chiếm <0,6% thuốc mẹ cho thấy không có chất chuyển hóa chính của eribulin ở người.
Thải trừ
Eribulin có độ thanh thải thấp (1,16 đến 2,42 L/giờ/m2). Không ghi nhận có sự tích lũy đáng kể của eribulin khi sử dụng hàng tuần. Các đặc tính dược động học không phụ thuộc liều hay thời gian trong khoảng liều sử dụng eribulin từ 0,22 đến 3,53 mg/m2.
Eribulin được thải trừ chủ yếu qua mật. Hiện chưa rõ protein vận chuyển nào tham gia vào sự thải trừ. Các nghiên cứu tiền lâm sàng in vitro cho thấy eribulin được vận chuyển bởi Pgp. Tuy nhiên, eribulin ở nồng độ có ý nghĩa lâm sàng đã được chứng minh không phải là một chất ức chế Pgp in vitro. Ngoài ra trên in vivo, dùng đồng thời ketoconazole là chất ức chế Pgp, không ảnh hưởng đến nồng độ eribulin trong tuần hoàn (AUC và Cmax). Các nghiên cứu in vitro cũng cho thấy eribulin không phải là một cơ chất của OCT1.
Sau khi sử dụng 14C-eribulin cho bệnh nhân, khoảng 82% liều dùng được thải trừ qua phân, 9% liều dùng được thải trừ qua nước tiểu, cho thấy rằng thanh thải thận không phải là đường thải trừ chính của eribulin.
Eribilin dưới dạng không biến đổi cho thấy phần lớn tổng lượng phóng xạ xuất hiện trong phân và nước tiểu.
Suy gan
Một nghiên cứu đã đánh giá dược động học (PK) của eribulin trên bệnh nhân suy giảm chức năng gan ở mức độ nhẹ (Child-Pugh A; n=7) và trung bình (Child-Pugh B; n=4) do di căn. So với các bệnh nhân có chức năng gan bình thường (n=6), nồng độ eribulin tăng tương ứng 1,8 lần và 3 lần ở bệnh nhân suy giảm chức năng gan nhẹ và trung bình. Sử dụng HALAVEN với liều 0,97 mg/m2 cho bệnh nhân suy gan nhẹ và 0,62 mg/m2 cho bệnh nhân suy gan trung bình cho thấy nồng độ eribulin cao hơn sau khi sử dụng liều 1,23 mg/m2 cho bệnh nhân với chức năng gan bình thường. HALAVEN chưa được nghiên cứu ở bệnh nhân suy chức năng gan nặng (Child-Pugh C). Không có nghiên cứu ở những bệnh nhân suy gan do xơ gan. Xem mục Liều lượng và cách dùng cho các liều khuyến cáo.
Suy thận
Nồng độ eribulin tăng lên đã được phát hiện ở một số bệnh nhân suy thận trung bình hoặc suy thận nặng, với sự thay đổi lớn giữa các cá thể. Dược động học của eribulin đã được đánh giá trong một nghiên cứu pha 1 ở bệnh nhân có chức năng thận bình thường (độ thanh thải creatinine (CrCl): > 80 mL/phút, n=6), suy thận trung bình (độ thanh thải creatinine: 30-50 mL/phút, n=7) hoặc suy thận nặng (độ thanh thải creatinine: 15- < 30 mL/phút, n=6). Độ thanh thải creatinine được ước tính bằng công thức Cockcroft-Gault. Ở các bệnh nhân suy thận trung bình và suy thận nặng, có ghi nhận tăng AUC(0-inf) ở liều chuẩn hóa gấp 1,5 lần (CI 90%: 0,9-2,5). Xem mục Liều lượng và cách dùng cho các liều khuyến cáo.
Register or sign in to continue
Asia's one-stop resource for medical news, clinical reference and education
Sign up for free
Already a member? Sign in