Halaven

Halaven

Nhà sản xuất:

Eisai
Thông tin kê toa chi tiết tiếng Việt
Thành phần
Mỗi mL: Eribulin mesylate 0,5 mg (tương đương eribulin 0,44 mg).
Mô tả
Tá dược: Ethanol khan, nước pha tiêm, acid hydrocloric, natri hydroxid.
Dạng bào chế: Dung dịch tiêm.
Dung dịch tiêm trong suốt, không màu, vô khuẩn, không chứa chí nhiệt tố.
Dược lực học
Nhóm dược lý điều trị: Các thuốc chống ung thư khác, mã ATC: L01XX41.
HALAVEN (eribulin mesylate) là một chất ức chế động lực học của vi ống thuộc nhóm halichondrin của các thuốc chống ung thư. Đây là chất tổng hợp tương tự cấu trúc đơn giản của halichondrin B, một hợp chất tự nhiên được phân lập từ rong biển Halichondria okadai.
Eribulin ức chế sự phát triển của các vi ống mà không ảnh hưởng đến giai đoạn co ngắn và cô lập tubulin dẫn đến quá trình kết tụ tubulin không hình thành. Eribulin thể hiện tác dụng của nó thông qua cơ chế khóa chu trình của tế bào G2/M, gián đoạn phân bào, và cuối cùng là tế bào chết theo chương trình sau quá trình tắc nghẽn phân bào kéo dài.
Hiệu quả lâm sàng
Hiệu quả của HALAVEN trong ung thư vú chủ yếu được chứng minh bằng hai nghiên cứu so sánh ngẫu nhiên pha 3.
762 bệnh nhân trong nghiên cứu then chốt pha 3 EMBRACE (nghiên cứu 305) có ung thư vú tái phát tại chỗ hoặc di căn, và trước đó đã nhận ít nhất là 2 và tối đa là 5 phác đồ điều trị, bao gồm một anthracycline và một taxane (trừ khi có chống chỉ định). Bệnh nhân phải có bệnh tiến triển trong vòng 6 tháng của liều hóa trị liệu cuối cùng. Tình trạng thụ thể yếu tố tăng trưởng biểu bì 2 ở người (HER2) của bệnh nhân là: 16,1% dương tính, 74,2% âm tính và 9,7% không rõ, trong khi 18,9% bệnh nhân thuộc thể bộ ba âm tính. Các bệnh nhân này được phân nhóm ngẫu nhiên 2:1 để điều trị bằng HALAVEN hoặc theo lựa chọn điều trị của bác sĩ (TPC), bao gồm 97% hóa trị liệu (26% vinorelbine, 18% gemcitabine, 18% capecitabine, 16% taxane, 9% anthracycline, 10% hóa trị khác), hoặc 3% sử dụng liệu pháp hormon.
Nghiên cứu này đáp ứng tiêu chí chính với thời gian sống thêm toàn bộ (OS) có ý nghĩa thống kê tốt hơn trong nhóm eribulin so với TPC ở mức 55% của các biến cố.
Kết quả này được khẳng định với một phân tích thời gian sống thêm toàn bộ cập nhật được thực hiện ở mức 77% của các biến cố.
- xem Hình 1.

Image from Drug Label Content

Bằng cách đánh giá độc lập, thời gian sống thêm không tiến triển bệnh (PFS) trung bình là 3,7 tháng đối với nhóm điều trị bằng eribulin so với 2,2 tháng đối với nhóm theo lựa chọn điều trị của bác sĩ (TPC) (Tỷ số nguy cơ (HR) 0,865, khoảng tin cậy (CI) 95%: 0,714; 1,048, p = 0,137). Ở những bệnh nhân có thể đánh giá được đáp ứng, tỷ lệ đáp ứng mục tiêu theo tiêu chuẩn RECIST là 12,2% (CI 95%: 9,4%; 15,5%) theo đánh giá độc lập đối với nhóm eribulin so với 4,7% (CI 95%: 2,3%; 8,4%) đối với nhóm TPC.
Hiệu quả tích cực trên thời gian sống thêm toàn bộ (OS) được ghi nhận ở cả hai nhóm bệnh nhân kháng và không kháng taxane. Trong thời gian sống thêm toàn bộ cập nhật, tỷ số nguy cơ (HR) của nhóm eribulin so với nhóm theo lựa chọn điều trị của bác sĩ (TPC) là 0,90 (95% CI 0,71; 1,14) thiên về eribulin cho nhóm bệnh nhân kháng taxane và  0,73 (95% CI 0,56; 0,96) cho bệnh nhân không kháng taxane.
Hiệu quả tích cực trên thời gian sống thêm toàn bộ (OS) được ghi nhận ở cả hai nhóm bệnh nhân không sử dụng và đã sử dụng capecitabine. Kết quả phân tích của thời gian sống thêm toàn bộ cập nhật cho thấy lợi ích sống thêm của nhóm eribulin so với nhóm theo lựa chọn điều trị của bác sĩ (TPC) trong đó bệnh nhân đã sử dụng capecitabine với tỷ số nguy cơ HR là 0,787 (95% CI 0,645; 0,961), nhóm bệnh nhân không sử dụng capecitabine HR tương ứng là 0,865 (95% CI 0,606; 1,233).
Nghiên cứu 301 – một nghiên cứu pha 3 thứ hai về điều trị đầu tay ung thư vú di căn, là một nghiên cứu nhãn mở, ngẫu nhiên trên các bệnh nhân (n = 1102) bị ung thư vú tiến xa tại chỗ hoặc di căn để khảo sát hiệu quả của đơn trị liệu bằng HALAVEN so với đơn trị liệu bằng capecitabine về thời gian sống thêm toàn bộ (OS) và thời gian sống thêm không tiến triển bệnh (PFS) là tiêu chí đánh giá chính kết hợp. Bệnh nhân trước đó đã nhận được 3 phác đồ hóa trị liệu, bao gồm cả anthracycline và taxane và tối đa là 2 loại đối với bệnh tiến xa, với tỷ lệ phần trăm những người đã nhận được 0, 1 hoặc 2 phác đồ hóa trị liệu trước đó cho bệnh ung thư vú di căn theo thứ tự là 20,0%, 52,0 % hoặc 27,2%. Tình trạng HER2 của bệnh nhân là: 15,3% dương tính, 68,5% âm tính và 16,2% không rõ, trong khi 25,8% số bệnh nhân thuộc thể bộ ba âm tính.
- xem Hình 2.

Image from Drug Label Content

Thời gian sống thêm không tiến triển bệnh được đánh giá bằng xem xét độc lập là tương tự nhau giữa eribulin và capecitabine với thời gian trung bình là 4,1 tháng so với 4,2 tháng (Tỷ số nguy cơ  (HR) 1,08; [CI 95%: 0,932; 1,250]) theo thứ tự tương ứng. Tỷ lệ đáp ứng mục tiêu được đánh giá độc lập cũng tương tự nhau giữa nhóm dùng eribulin và nhóm dùng capecitabine; 11,0% (CI 95%: 8,5; 13,9) trong nhóm dùng eribulin và 11,5% (CI 95%: 8,9; 14,5) trong nhóm dùng capecitabine.
Thời gian sống thêm toàn bộ ở những bệnh nhân HER2 âm tính và bệnh nhân HER2 dương tính ở nhóm dùng eribulin và nhóm chứng trong nghiên cứu 305 và nghiên cứu 301 được trình bày dưới đây:
- xem Bảng 1.

Image from Drug Label Content

Quần thể bệnh nhi
Cơ quan quản lý thuốc Châu Âu đã miễn yêu cầu phải nộp các kết quả nghiên cứu với eribulin trong tất cả các phân nhóm quần thể bệnh nhi trong chỉ định ung thư vú.
Dược động học
Phân bố
Dược động học của eribulin đặc trưng bởi một giai đoạn phân bố nhanh, tiếp theo là một giai đoạn thải trừ kéo dài, với thời gian bán thải trung bình xấp xỉ 40 giờ. Thuốc có thể tích phân bố lớn (43 đến 114 L/m2).
Eribulin liên kết yếu với protein huyết tương. Tỷ lệ eribulin gắn với protein huyết tương người (100 – 1000 ng/mL) dao động từ 49% đến 65%.
Chuyển hóa sinh học
Eribulin dưới dạng không biến đổi được tìm thấy phần lớn trong huyết tương sau khi sử dụng đồng vị phóng xạ 14C-eribulin cho bệnh nhân. Nồng độ chất chuyển hóa chiếm <0,6% thuốc mẹ cho thấy không có chất chuyển hóa chính của eribulin ở người.
Thải trừ
Eribulin có độ thanh thải thấp (1,16 đến 2,42 L/giờ/m2). Không ghi nhận có sự tích lũy đáng kể của eribulin khi sử dụng hàng tuần. Các đặc tính dược động học không phụ thuộc liều hay thời gian trong khoảng liều sử dụng eribulin từ 0,22 đến 3,53 mg/m2.
Eribulin được thải trừ chủ yếu qua mật. Hiện chưa rõ protein vận chuyển nào tham gia vào sự thải trừ. Các nghiên cứu tiền lâm sàng in vitro cho thấy eribulin được vận chuyển bởi Pgp. Tuy nhiên, eribulin ở nồng độ có ý nghĩa lâm sàng đã được chứng minh không phải là một chất ức chế Pgp in vitro. Ngoài ra trên in vivo, dùng đồng thời ketoconazole là chất ức chế Pgp, không ảnh hưởng đến nồng độ eribulin trong tuần hoàn (AUC và Cmax). Các nghiên cứu in vitro cũng cho thấy eribulin không phải là một cơ chất của OCT1.
Sau khi sử dụng 14C-eribulin cho bệnh nhân, khoảng 82% liều dùng được thải trừ qua phân, 9% liều dùng được thải trừ qua nước tiểu, cho thấy rằng thanh thải thận không phải là đường thải trừ chính của eribulin.
Eribilin dưới dạng không biến đổi cho thấy phần lớn tổng lượng phóng xạ xuất hiện trong phân và nước tiểu.
Suy gan
Một nghiên cứu đã đánh giá dược động học (PK) của eribulin trên bệnh nhân suy giảm chức năng gan ở mức độ nhẹ (Child-Pugh A; n=7) và trung bình (Child-Pugh B; n=4) do di căn. So với các bệnh nhân có chức năng gan bình thường (n=6), nồng độ eribulin tăng tương ứng 1,8 lần và 3 lần ở bệnh nhân suy giảm chức năng gan nhẹ và trung bình. Sử dụng HALAVEN với liều 0,97 mg/m2 cho bệnh nhân suy gan nhẹ và 0,62 mg/m2 cho bệnh nhân suy gan trung bình cho thấy nồng độ eribulin cao hơn sau khi sử dụng liều 1,23 mg/m2 cho bệnh nhân với chức năng gan bình thường. HALAVEN chưa được nghiên cứu ở bệnh nhân suy chức năng gan nặng (Child-Pugh C). Không có nghiên cứu ở những bệnh nhân suy gan do xơ gan. Xem mục Liều lượng và cách dùng cho các liều khuyến cáo.
Suy thận
Nồng độ eribulin tăng lên đã được phát hiện ở một số bệnh nhân suy thận trung bình hoặc suy thận nặng, với sự thay đổi lớn giữa các cá thể. Dược động học của eribulin đã được đánh giá trong một nghiên cứu pha 1 ở bệnh nhân có chức năng thận bình thường (độ thanh thải creatinine (CrCl): > 80 mL/phút, n=6), suy thận trung bình (độ thanh thải creatinine: 30-50 mL/phút, n=7) hoặc suy thận nặng (độ thanh thải creatinine: 15- < 30 mL/phút, n=6). Độ thanh thải creatinine được ước tính bằng công thức Cockcroft-Gault. Ở các bệnh nhân suy thận trung bình và suy thận nặng, có ghi nhận tăng AUC(0-inf) ở liều chuẩn hóa gấp 1,5 lần (CI 90%: 0,9-2,5). Xem mục Liều lượng và cách dùng cho các liều khuyến cáo.
Chỉ định/Công dụng
HALAVEN được chỉ định điều trị cho bệnh nhân ung thư vú tiến xa tại chỗ hoặc di căn đã tiến triển sau ít nhất một phác đồ hóa trị liệu điều trị bệnh tiến xa (xem mục Dược lực học). Phác đồ trị liệu trước đó đã bao gồm một anthracycline và một taxane trong điều trị bổ trợ hoặc di căn trừ khi bệnh nhân không phù hợp với những phương pháp điều trị này.
Liều dùng/Hướng dẫn sử dụng
Chỉ dùng HALAVEN dưới sự giám sát của bác sĩ có đủ trình độ chuyên môn và kinh nghiệm sử dụng các thuốc gây độc tế bào.
Liều dùng
Liều khuyến cáo của eribulin dạng dung dịch dùng ngay là 1,23 mg/m2 tiêm tĩnh mạch trong 2-5 phút vào ngày thứ 1 và thứ 8 của mỗi liệu trình điều trị 21 ngày.
Lưu ý:
Liều khuyến cáo được đưa ra là liều tính dựa trên hoạt chất (eribulin). Việc tính toán liều mỗi lần dùng cho bệnh nhân phải căn cứ vào nồng độ của dung dịch dùng ngay có chứa 0,44 mg/mL eribulin và mức liều khuyến cáo 1,23 mg/m2. Khuyến cáo giảm liều được đưa ra dưới đây cũng là liều eribulin dựa trên nồng độ của dung dịch dùng ngay.
Trong các thử nghiệm then chốt, các báo cáo tương ứng và ở một số khu vực khác như Mỹ hoặc Thụy Sĩ, liều khuyến cáo được dựa trên dạng muối (eribulin mesylate).
Một số bệnh nhân có thể buồn nôn hoặc nôn. Cần cân nhắc đến việc dự phòng thuốc chống nôn bao gồm cả corticosteroid.
Hoãn dùng trong điều trị
Hoãn dùng HALAVEN vào ngày thứ 1 hay ngày thứ 8 nếu có bất kỳ vấn đề nào sau đây:
- Số lượng bạch cầu trung tính tuyệt đối (ANC) < 1 x 109/L
- Tiểu cầu < 75 x 109/L
- Độc tính không liên quan huyết học độ 3 hay độ 4.
Giảm liều trong điều trị
Khuyến cáo về giảm liều cho việc điều trị trở lại được trình bày trong bảng 2.
- xem Bảng 2.

Image from Drug Label Content

Không nên tăng liều eribulin trở lại sau khi đã giảm.
Bệnh nhân suy gan
Chức năng gan bị suy giảm do di căn:
Liều khuyến cáo eribulin cho bệnh nhân suy giảm chức năng gan nhẹ (Child-Pugh A) là 0,97 mg/m2 dùng đường tĩnh mạch từ 2 đến 5 phút vào ngày thứ 1 và thứ 8 của chu kỳ điều trị 21 ngày. Liều khuyến cáo eribulin cho bệnh nhân suy gan mức độ trung bình (Child-Pugh B) là 0,62 mg/m2 dùng đường tĩnh mạch từ 2 đến 5 phút vào ngày thứ 1 và thứ 8 của chu kỳ điều trị 21 ngày.
Suy gan nặng (Child-Pugh C) chưa được nghiên cứu nhưng cần giảm liều hơn nữa nếu dùng eribulin cho những bệnh nhân này.
Suy chức năng gan do xơ gan:
Chưa có nghiên cứu trên nhóm bệnh nhân này. Liều như trên có thể dùng trong trường hợp suy gan nhẹ và trung bình nhưng phải theo dõi chặt chẽ vì các liều này có thể cần phải điều chỉnh lại.
Bệnh nhân suy thận
Những bệnh nhân bị suy chức năng thận trung bình đến nặng (độ thanh thải creatinine < 50 mL/phút) có thể làm tăng nồng độ eribulin trong tuần hoàn và có thể cần phải giảm liều.
Cần thận trọng và theo dõi chặt chẽ độ an toàn cho các bệnh nhân suy thận (xem mục Dược động học).
Bệnh nhân cao tuổi
Không có khuyến cáo điều chỉnh liều đặc biệt dựa trên độ tuổi của bệnh nhân (xem mục Tác dụng không mong muốn).
Bệnh nhi
Không sử dụng HALAVEN ở trẻ em và thiếu niên cho chỉ định ung thư vú.
Cách dùng
Đường dùng: HALAVEN được dùng theo đường tĩnh mạch.
Liều dùng có thể được pha loãng bằng 100 mL dung dịch pha tiêm natri clorid 9 mg/mL (0,9%). Không pha loãng trong dung dịch truyền glucose 5%. Hướng dẫn về cách pha loãng thuốc trước khi dùng, xem mục Những lưu ý đặc biệt khi sử dụng. Cần đảm bảo đường truyền tĩnh mạch ngoại biên hoặc tĩnh mạch trung tâm tốt trước khi dùng thuốc. Không có bằng chứng cho thấy eribulin mesylate gây rộp da hay kích ứng. Trong trường hợp thoát mạch, cần điều trị triệu chứng. Để có thêm thông tin liên quan đến xử lý các thuốc gây độc tế bào, xem mục Những lưu ý đặc biệt khi sử dụng.
Chống chỉ định
Quá mẫn với hoạt chất hoặc với bất kỳ tá dược nào.
Phụ nữ cho con bú.
Cảnh báo và thận trọng
Huyết học
Suy tủy phụ thuộc liều và biểu hiện chính là giảm bạch cầu trung tính (xem mục Tác dụng không mong muốn). Theo dõi công thức máu toàn phần nên tiến hành trên tất cả bệnh nhân trước mỗi liều eribulin. Chỉ nên khởi đầu điều trị bằng eribulin ở những bệnh nhân có giá trị ANC ≥ 1,5 x 109/L và tiểu cầu > 100 x 109/L.
Giảm bạch cầu trung tính có sốt xảy ra ở < 5% bệnh nhân điều trị bằng eribulin. Những bệnh nhân giảm bạch cầu trung tính có sốt, giảm bạch cầu trung tính nặng hay giảm tiểu cầu cần được điều trị theo khuyến cáo ở mục Liều lượng và cách dùng.
Bệnh nhân có alanine aminotransferase (ALT) hay aspartate aminotransferase (AST) > 3 lần giới hạn trên của giá trị bình thường (ULN) có tỷ lệ giảm bạch cầu trung tính độ 4 và giảm bạch cầu trung tính có sốt cao hơn. Mặc dù dữ liệu còn hạn chế, bệnh nhân có bilirubin > 1,5 x ULN cũng có tỷ lệ giảm bạch cầu trung tính độ 4 và giảm bạch cầu trung tính có sốt cao hơn.
Đã có báo cáo các trường hợp tử vong do giảm bạch cầu trung tính có sốt, nhiễm khuẩn huyết giảm bạch cầu trung tính, nhiễm khuẩn huyết và sốc nhiễm khuẩn huyết.
Giảm bạch cầu trung tính nặng có thể được kiểm soát bằng cách dùng yếu tố kích thích dòng bạch cầu hạt (G-CSF) hoặc các thuốc tương đương theo chỉ định của bác sĩ phù hợp với các hướng dẫn liên quan (xem mục Dược lực học).
Bệnh thần kinh ngoại biên
Bệnh nhân cần được giám sát chặt chẽ những dấu hiệu bệnh thần kinh vận động và cảm giác ngoại biên. Tạm ngừng dùng thuốc hoặc giảm liều khi thấy độc tính thần kinh ngoại biên tiến triển nghiêm trọng (xem mục Liều lượng và cách dùng).
Trong các nghiên cứu lâm sàng, những bệnh nhân có sẵn bệnh lý thần kinh nặng hơn độ 2 đã được loại trừ. Tuy nhiên, những bệnh nhân có sẵn bệnh lý thần kinh độ 1 hay độ 2 gần như không xuất hiện những triệu chứng mới hay tiến triển xấu đi so với những người không mắc bệnh tham gia vào nghiên cứu.
Kéo dài khoảng QT
Trong 1 nghiên cứu điện tâm đồ nhãn mở không đối chứng trên 26 bệnh nhân, kéo dài khoảng QT được ghi nhận vào ngày thứ 8, không phụ thuộc vào nồng độ eribulin, không có kéo dài khoảng QT được ghi nhận vào ngày thứ 1. Khuyến cáo theo dõi điện tâm đồ khi bắt đầu điều trị ở bệnh nhân suy tim sung huyết, loạn nhịp tim chậm hoặc đang dùng những thuốc được biết là kéo dài khoảng QT như thuốc chống loạn nhịp nhóm Ia và III và những bệnh nhân có bất thường liên quan đến chất điện giải. Cần điều trị hạ kali huyết, hạ calci huyết hay hạ magnesi huyết trước khi bắt đầu dùng HALAVEN và cần theo dõi định kỳ những chất điện giải này trong suốt quá trình điều trị. Tránh dùng eribulin cho những bệnh nhân có hội chứng QT kéo dài bẩm sinh.
Tá dược: Thuốc có chứa một lượng nhỏ ethanol (cồn), dưới 100 mg/liều.
Ảnh hưởng của thuốc lên khả năng lái xe, vận hành máy móc: HALAVEN có thể gây ra phản ứng có hại như mệt mỏi, chóng mặt dẫn đến ảnh hưởng nhẹ hay trung bình lên khả năng lái xe hay vận hành máy móc. Cần khuyên bệnh nhân không lái xe hay vận hành máy móc nếu thấy mệt hay chóng mặt.
Sử dụng ở phụ nữ có thai & cho con bú
Phụ nữ có thai
Không có dữ liệu về việc sử dụng eribulin ở phụ nữ có thai. Eribulin gây độc cho phôi thai, bào thai và gây quái thai ở chuột cống. HALAVEN không được dùng trong thời kỳ mang thai trừ khi thật sự cần thiết và sau khi cân nhắc kỹ sự cần thiết cho người mẹ và nguy cơ xảy ra với bào thai.
Phụ nữ đang trong độ tuổi sinh con cần tránh mang thai khi bản thân hay bạn tình đang sử dụng HALAVEN và cần dùng biện pháp tránh thai hiệu quả trong và sau khi điều trị 3 tháng.
Phụ nữ cho con bú
Chưa rõ liệu eribulin/các chất chuyển hóa có được bài tiết qua sữa mẹ ở người hoặc động vật hay không. Không thể loại trừ nguy cơ cho trẻ sơ sinh hay trẻ nhỏ, do đó không dùng HALAVEN trong thời gian cho con bú (xem mục Chống chỉ định).
Khả năng sinh sản
Đã quan sát thấy độc tính trên chuột cống và chó. Bệnh nhân nam cần được tư vấn về việc lưu trữ tinh trùng trước khi điều trị vì khả năng sinh sản không thể hồi phục do điều trị bằng HALAVEN.
Tương tác
Eribulin được thải trừ chủ yếu qua mật (lên tới 70%). Chưa rõ protein vận chuyển trong quá trình này. Eribulin không phải là cơ chất của protein kháng ung thư vú (BCRP), các chất vận chuyển anion hữu cơ (OAT1, OAT3, OATP1B1, OATP1B3), protein liên quan đến đa kháng thuốc (MRP2, MRP4) và bơm vận chuyển tống muối mật (BSEP).
Không có tương tác thuốc xảy ra với chất ức chế CYP3A4. Nồng độ eribulin (AUC và Cmax) không bị ảnh hưởng bởi ketoconazole là một thuốc ức chế CYP3A4 và P glycoprotein (Pgp), và rifampicin là một thuốc cảm ứng CYP3A4.
Tác động của eribulin lên dược động học của các thuốc khác
Dữ liệu in vitro cho thấy eribulin là chất ức chế nhẹ của CYP3A4 - enzym chuyển hóa thuốc quan trọng. Hiện chưa có dữ liệu in vivo. Khuyến cáo nên thận trọng và theo dõi các tác dụng có hại khi sử dụng đồng thời với các chất có cửa sổ điều trị hẹp và được thải trừ chủ yếu bằng chuyển hóa qua trung gian CYP3A4 (ví dụ: alfentanil, cyclosporine, ergotamine, fentanyl, pimozide, quinidine, sirolimus, tacrolimus).
Eribulin không ức chế các enzym CYP như: CYP1A2, 2B6, 2C8, 2C9, 2C19, 2D6 hay 2E1 ở nồng độ liên quan đến nồng độ điều trị trên lâm sàng.
Ở nồng độ điều trị trên lâm sàng, eribulin không ức chế hoạt động qua trung gian chất vận chuyển BCRP, OCT1, OCT2, OAT1, OAT3, OATP1B1 và OATP1B3.
Tương kỵ
Vì không có nghiên cứu về tính tương hợp, không trộn lẫn sản phẩm này với các sản phẩm thuốc khác ngoại trừ những chế phẩm được đề cập trong mục Những lưu ý đặc biệt khi sử dụng.
Tác dụng không mong muốn
Tóm tắt dữ liệu về độ an toàn
Các tác dụng không mong muốn được ghi nhận nhiều nhất liên quan đến HALAVEN là ức chế tủy xương, biểu hiện bởi các triệu chứng giảm bạch cầu trung tính, giảm bạch cầu, thiếu máu, giảm tiểu cầu với các loại nhiễm trùng liên quan. Khởi phát mới hoặc nặng thêm bệnh thần kinh ngoại biên có từ trước cũng đã được báo cáo. Độc tính đường tiêu hóa, biểu hiện bởi các triệu chứng chán ăn, buồn nôn, nôn, tiêu chảy, táo bón và viêm miệng nằm trong số những tác dụng không mong muốn đã được báo cáo. Các tác dụng không mong muốn khác bao gồm mệt mỏi, rụng tóc, tăng enzym gan, nhiễm khuẩn huyết và hội chứng đau cơ xương.
Bảng danh sách các phản ứng có hại
Trừ các trường hợp lưu ý khác, bảng dưới đây thể hiện tỷ lệ các phản ứng có hại được ghi nhận ở các bệnh nhân ung thư vú và bệnh nhân ung thư mô mềm dùng liều khuyến cáo trong các nghiên cứu pha 2 và pha 3.
Phân loại theo tần sụất được quy ước như sau: Rất thường gặp (≥ 1/10), thường gặp (≥ 1/100 đến < 1/10), ít gặp (≥ 1/1.000 đến < 1/100), hiếm gặp (≥ 1/10.000 đến < 1/1.000), rất hiếm gặp (< 1/10.000).
Trong mỗi nhóm tần suất, tác dụng không mong muốn được trình bày theo thứ tự tần suất giảm dần. Trong trường hợp phản ứng độ 3 hoặc 4 xảy ra, tổng số tần suất thực và tần suất các phản ứng độ 3 hoặc 4 được đưa ra.
- xem Bảng 3.

Image from Drug Label Content

Nói chung, dữ liệu về độ an toàn của nhóm bệnh nhân ung thư vú và ung thư mô mềm là tương tự nhau.
Mô tả các phản ứng có hại chọn lọc
Giảm bạch cầu trung tính
Giảm bạch cầu trung tính được ghi nhận là có thể hồi phục và không tích lũy; thời gian trung bình để số lượng bạch cầu giảm đến mức thấp nhất là 13 ngày và thời gian trung bình để hồi phục từ mức giảm bạch cầu trung tính nặng (< 0,5 x 109/L) là 8 ngày.
Số lượng bạch cầu trung tính < 0,5 x 109/L kéo dài hơn 7 ngày xảy ra ở 13% bệnh nhân ung thư vú điều trị bằng eribulin trong nghiên cứu EMBRACE.
Đã có báo cáo các trường hợp tử vong do giảm bạch cầu trung tính có sốt, nhiễm khuẩn huyết giảm bạch cầu trung tính, nhiễm khuẩn huyết và sốc nhiễm trùng.
Giảm bạch cầu trung tính nặng có thể kiểm soát được bằng cách dùng G-CSF hoặc chế phẩm tương đương theo chỉ định của bác sĩ theo các hướng dẫn liên quan. Trong hai nghiên cứu pha 3 (nghiên cứu 305 và 301), lần lượt có 18% và 13% bệnh nhân ung thư vú được điều trị bằng eribulin có sử dụng G-CSF.
Giảm bạch cầu trung tính dẫn đến ngưng điều trị ở < 1% bệnh nhân sử dụng eribulin.
Đông máu rải rác nội mạch
Các trường hợp đông máu rải rác nội mạch đã được báo cáo, thường đi kèm với giảm bạch cầu trung tính và/hoặc nhiễm khuẩn huyết.
Bệnh thần kinh ngoại biên
Ở 1559 bệnh nhân ung thư vú, phản ứng bất lợi thường gặp nhất dẫn đến ngưng điều trị bằng eribulin là bệnh lý thần kinh ngoại biên (3,4%). Thời gian trung bình xảy ra bệnh lý thần kinh ngoại biên độ 2 là 12,6 tuần (sau 4 chu kỳ điều trị).
Bệnh lý thần kinh ngoại biên tiến triển đến độ 3 hoặc độ 4 xảy ra ở 7,4% bệnh nhân ung thư vú. Trong các nghiên cứu lâm sàng, bệnh nhân mắc bệnh thần kinh từ trước có khả năng tiến triển các triệu chứng mới hay triệu chứng xấu đi tương tự như với những bệnh nhân được đưa vào trong nghiên cứu mà không có bệnh trên.
Ở bệnh nhân ung thư vú mắc bệnh thần kinh ngoại biên độ 1 hay 2 từ trước, tỷ lệ xuất hiện bệnh thần kinh ngoại biên độ 3 sau khi dùng thuốc là 14%.
Độc tính đối với gan
Ở một số bệnh nhân có enzym gan bình thường hoặc bất thường trước khi điều trị bằng eribulin, đã có báo cáo tăng nồng độ enzym gan khi bắt đầu điều trị bằng eribulin. Men gan tăng xảy ra sớm với liệu pháp điều trị bằng eribulin trong chu kỳ 1 – 2 đối với đa số những bệnh nhân này. Độc tính trên gan cũng đã được ghi nhận trong khi đây được cho là hiện tượng thích nghi của gan khi điều trị bằng eribulin và không phải là dấu hiệu độc tính với gan đáng kể ở hầu hết các bệnh nhân.
Quần thể đặc biệt:
Bệnh nhân cao tuổi
Trong số 1559 bệnh nhân ung thư vú được điều trị với liều khuyến cáo của eribulin, 283 bệnh nhân (18,2%) có độ tuổi từ 65 trở lên. Dữ liệu về độ an toàn của eribulin trên bệnh nhân cao tuổi (≥ 65 tuổi) tương tự như của bệnh nhân <65 tuổi ngoại trừ suy nhược/mệt mỏi là những triệu chứng có xu hướng gia tăng theo tuổi. Không khuyến cáo điều chỉnh liều ở người cao tuổi.
Bệnh nhân suy gan
Bệnh nhân có ALT hay AST > 3 lần giới hạn trên mức bình thường có tỷ lệ bạch cầu trung tính độ 4 và giảm bạch cầu trung tính có sốt cao hơn. Mặc dù dữ liệu còn hạn chế, bệnh nhân có bilirubin > 1,5 lần giới hạn trên mức bình thường cũng có tỷ lệ giảm bạch cầu trung tính độ 4 và giảm bạch cầu trung tính có sốt cao hơn (xem mục Liều lượng và cách dùngDược động học).
Quá liều
Trong một trường hợp quá liều, bệnh nhân vô tình sử dụng 7,6 mg eribulin (xấp xỉ gấp 4 lần liều chỉ định) và sau đó có phản ứng quá mẫn (độ 3) vào ngày thứ 3 và giảm bạch cầu trung tính (độ 3) vào ngày thứ 7. Cả hai phản ứng có hại này đã được điều trị bằng chăm sóc hỗ trợ.
Không có thuốc giải độc khi quá liều eribulin. Trong trường hợp quá liều, bệnh nhân cần được theo dõi chặt chẽ. Xử trí quá liều bao gồm can thiệp hỗ trợ y tế để điều trị các biểu hiện trên lâm sàng.
Thận trọng lúc dùng
HALAVEN là thuốc chống ung thư, gây độc tế bào, và cũng như đối với các hợp chất độc khác, nên thận trọng trong quá trình xử lý. Cần phải sử dụng găng tay, kính bảo hộ và quần áo bảo hộ. Nếu da tiếp xúc với dung dịch thuốc, cần được rửa sạch ngay lập tức với nước và xà phòng. Nếu thuốc tiếp xúc với niêm mạc, cần lập tức rửa kỹ niêm mạc bằng nước. HALAVEN chỉ  nên được pha chế và sử dụng bởi các nhân viên đã được đào tạo trong việc xử lý các thuốc gây độc tế bào. Nhân viên y tế đang mang thai không nên tiếp xúc với HALAVEN.
HALAVEN có thể được pha loãng với 100 mL dung dịch pha tiêm natri clorid 9 mg/mL (0,9%) bằng kỹ thuật vô trùng. Sau khi tiêm truyền, khuyến cáo sục đường truyền tĩnh mạch bằng dung dịch tiêm natri clorid 9 mg/mL (0,9%) để đảm bảo tiêm truyền đủ liều. Không được trộn lẫn với các sản phẩm thuốc khác và không được pha loãng với dung dịch tiêm truyền glucose 5%.
Bất kỳ phần thuốc không sử dụng hoặc vật dụng bỏ đi phải được xử lý phù hợp theo yêu cầu của địa phương.
Bảo quản
Bảo quản không quá 30°C.
Hạn dùng
Lọ chưa mở nắp: 24 tháng.
Hạn dùng trong quá trình sử dụng
Về mặt vi sinh vật, trừ khi phương pháp mở loại bỏ được nguy cơ gây nhiễm vi sinh vật, sản phẩm nên được sử dụng ngay sau khi mở nắp. Nếu không được sử dụng ngay, thời gian bảo quản và điều kiện bảo quản trong quá trình sử dụng là trách nhiệm của người sử dụng.
Nếu không sử dụng ngay lập tức, dung dịch HALAVEN (chưa được pha loãng) trong ống tiêm nên được bảo quản không quá 4 giờ ở 25°C và ánh sáng ở môi trường xung quanh, hoặc không quá 24 giờ ở 2°C - 8°C.
Dung dịch đã được pha loãng của HALAVEN (0,018 mg/mL đến 0,18 mg/mL eribulin trong natri clorid 9 mg/mL (0,9%)) không được lưu trữ quá 24 giờ ở 2°C - 8°C, trừ khi việc pha loãng được thực hiện trong điều kiện vô trùng có kiểm soát và đã được thẩm định.
Phân loại MIMS
Hóa trị gây độc tế bào
Phân loại ATC
L01XX41 - eribulin ; Belongs to the class of other antineoplastic agents. Used in the treatment of cancer.
Trình bày
Dung dịch tiêm: hộp 1 lọ 2 mL.
Register or sign in to continue
Asia's one-stop resource for medical news, clinical reference and education
Sign up for free
Already a member? Sign in