Herceptin

Herceptin Tác dụng không mong muốn

trastuzumab

Nhà sản xuất:

Roche
Thông tin kê toa chi tiết tiếng Việt
Tác dụng không mong muốn
Từ các thử nghiệm lâm sàng
Bảng 12 tóm tắt các phản ứng không mong muốn của thuốc (ADRs) đã được báo cáo liên quan đến việc sử dụng Herceptin đơn trị hoặc kết hợp với hóa trị liệu trong các thử nghiệm lâm sàng then chốt. Tất cả các thuật ngữ dựa trên tỷ lệ phần trăm cao nhất được báo cáo trong các thử nghiệm lâm sàng then chốt.
Vì Herceptin thường được sử dụng với các thuốc hóa trị và xạ trị khác nên thường rất khó để xác định mối quan hệ nhân quả của một tác dụng không mong muốn với một loại thuốc cụ thể/xạ trị.
Danh mục tần suất tác dụng không mong muốn dựa trên quy ước sau: Rất hay gặp (≥ 1/10), hay gặp (≥ 1/100 đến < 1/10), ít gặp (≥ 1/1.000 đến < 1/100), hiếm gặp (≥ 1/10.000 đến < 1/1.000), rất hiếm gặp (< 1/10.000), chưa được biết (không thể ước tính được từ các dữ liệu sẵn có). Trong mỗi nhóm phản ứng bất lợi được sắp xếp theo mức độ nghiêm trọng giảm dần.
- xem Bảng 12.

Image from Drug Label Content

Các thông tin về các tác dụng không mong muốn chọn lọc
Quá mẫn và Phản ứng liên quan tới tiêm truyền (IRRs/ARRs)
IRRs/ARRs như ớn lạnh và/ hoặc sốt, khó thở, hạ huyết áp, thở khò khè, co thắt phế quản, nhịp tim nhanh, giảm độ bão hòa oxy và suy hô hấp đã được thấy trong tất cả các thử nghiệm lâm sàng với trastuzumab với dạng tiêm truyền tĩnh mạch và tiêm dưới da (xem phần Cảnh báo và thận trọng).
Về mặt lâm sàng, IRRs/ARRs có thể khó phân biệt với các phản ứng quá mẫn khác.
Tỷ lệ IRRs/ARRs ở tất cả các mức độ khác nhau giữa các nghiên cứu phụ thuộc vào phương pháp thu thập dữ liệu và chỉ định, bất kể trastuzumab dùng đơn trị hay kết hợp với hóa trị.
Trong MBC, tỷ lệ IRR dao động từ 49% đến 54% ở nhóm có dùng trastuzumab so với 36% đến 58% ở nhóm so sánh (có thể chứa hóa trị liệu khác). IRR nặng (mức độ 3 và cao hơn) dao động từ 5% đến 7% ở nhóm dùng trastuzumab so với 5 đến 6% trong nhóm so sánh.
Trong EBC, tỷ lệ IRRs/ARRs dao động từ 18% đến 54% ở nhóm dùng trastuzumab so với 6% đến 50% ở nhóm so sánh (có thể chứa hóa trị liệu khác). IRRs/ARRs nặng (mức độ 3 và cao hơn) dao động từ 0,5% đến 6% ở nhóm có dùng trastuzumab so với 0,3 đến 5% trong nhóm so sánh.
Trong điều trị tân bổ trợ - bổ trợ ung thư vú giai đoạn sớm (BO22227), tỷ lệ IRRs/ARRs là tương tự với ở trên và dao động ở mức 37,2% ở nhóm Herceptin IV đến 47,8% ở nhóm Herceptin SC. IRRs/ARRs nặng (mức độ 3) là 2,0% và 1,7%, tương ứng với nhóm dùng Herceptin IV và nhóm dùng Herceptin SC trong giai đoạn điều trị. Không có IRRs/ARRs mức độ 4 hoặc 5.
Phản ứng phản vệ đã được quan sát trong vài trường hợp cá biệt.
Rối loạn chức năng tim
Suy tim sung huyết (độ II-IV theo phân loại NYHA) là phản ứng bất lợi thường gặp của Herceptin. Phản ứng bất lợi này có thể dẫn đến tử vong. Các dấu hiệu và triệu chứng của rối loạn chức năng tim như khó thở, khó thở khi nằm nghỉ, ho nhiều, phù phổi, S3 phi nước đại, hoặc giảm phân suất tống máu, đã được quan sát thấy ở những bệnh nhân được điều trị với Herceptin (xem phần Cảnh báo và thận trọng).
Ung thư vú di căn
Tùy thuộc vào các tiêu chuẩn được sử dụng để xác định rối loạn chức năng tim, tỷ lệ mắc trong các thử nghiệm then chốt ung thư vú di căn trong khoảng từ 9% và 12% trong nhóm Herceptin + paclitaxel, so với 1%-4% nhóm đơn trị paclitaxel. Đối với đơn trị liệu Herceptin, tỷ lệ là 6%-9%. Tỷ lệ cao nhất của rối loạn chức năng tim được thấy ở những bệnh nhân dùng đồng thời Herceptin + anthracycline/ cyclophosphamide (27%), và cao hơn đáng kể trong nhóm đơn trị anthracycline/cyclophosphamide (7%-10%). Trong một thử nghiệm tiếp theo với giám sát rối loạn chức năng tim tiềm năng, tỷ lệ rối loạn chức năng tim có triệu chứng là 2,2% ở những bệnh nhân dùng Herceptin kết hợp với docetaxel, so với 0% ở những bệnh nhân đơn trị docetaxel. Hầu hết các bệnh nhân (79%) xuất hiện suy tim trong các thử nghiệm đã tiến triển tốt sau khi được điều trị tiêu chuẩn cho suy tim sung huyết.
Ung thư vú giai đoạn sớm (điều trị bổ trợ sau phẫu thuật)
Trong ba thử nghiệm lâm sàng then chốt sử dụng trastuzumab bổ trợ sau phẫu thuật kết hợp với hóa trị liệu, tỷ lệ xuất hiện suy tim mức độ 3/4 (suy tim sung huyết triệu chứng) cũng tương tự như ở các bệnh nhân chỉ điều trị hóa trị và ở những bệnh nhân được điều trị với Herceptin sau taxan (0,3-0,4%). Tỷ lệ này cao nhất ở những bệnh nhân được sử dụng Herceptin đồng thời với taxan (2,0%). Tại thời điểm 3 năm, tỷ lệ biến cố tim ở bệnh nhân được điều trị AC → P (doxorubicin cộng với cyclophosphamide tiếp theo là paclitaxel) + H (trastuzumab) được ước tính khoảng 3,2%, so với 0,8% trong nhóm AC → P. Khi tiếp tục theo dõi tới 5 năm không thấy tăng tỷ lệ tích lũy của các biến cố tim mạch trên các bệnh nhân.
Tại thời điểm 5,5 năm, tỷ lệ có triệu chứng tim hoặc LVEF là 1,0%, 2,3%, và 1,1% với nhóm AC → D (doxorubicin cộng với cyclophosphamide, tiếp theo là docetaxel), nhóm AC → DH (doxorubicin cộng với cyclophosphamide, theo sau bởi docetaxel cộng với trastuzumab), và nhóm DCarbH (docetaxel, carboplatin và trastuzumab) tương ứng. Đối với CHF triệu chứng (phân loại NCI-CTC mức độ 3-4), tỷ lệ tại 5 năm là 0,6%, 1,9% và 0,4% trong nhóm AC → D, nhóm AC → DH, và nhóm điều trị DCarbH, tương ứng. Nguy cơ tổng thể của bệnh tim có triệu chứng là thấp và tương tự cho các bệnh nhân trong nhóm AC → D và nhóm DCarbH, liên quan đến hai nhóm AC → D và DCarbH có tăng nguy cơ xuất hiện bệnh tim có triệu chứng cho bệnh nhân trong nhóm AC → DH, thấy rõ một sự gia tăng liên tục trong tỷ lệ tích lũy của bệnh tim có triệu chứng hoặc LVEF lên đến 2,3% so với khoảng 1% khi so sánh hai nhóm (AC → D và DCarbH).
Khi Herceptin được sử dụng sau khi hoàn thành hóa trị bổ trợ, suy tim độ III-IV theo NYHA đã được quan sát thấy trong 0,6% bệnh nhân trong nhóm theo dõi sau một năm điều trị, trung vị thời gian theo dõi là 12 tháng. Sau khi theo dõi trung bình 3,6 năm tỷ lệ suy tim sung huyết nặng và rối loạn chức năng thất trái sau 1 năm điều trị Herceptin vẫn ở mức thấp là 0,8% và 9,8%, tương ứng.
Trong nghiên cứu BO16348, sau trung vị thời gian theo dõi là 8 năm, tỷ lệ xuất hiện suy tim sung huyết nặng (độ III-IV theo phân loại NYHA) sau khi sử dụng Herceptin 1 năm là 0,8% và tỷ lệ suy chức năng thất trái có triệu chứng nhẹ và không triệu chứng là 4,6%.
Sự hồi phục suy tim sung huyết nặng (được định nghĩa là một loạt đo giá trị LVEF có ít nhất 2 giá trị liên tục ≥ 50% sau biến cố) được quan sát thấy ở 71,4% bệnh nhân sử dụng Herceptin. Sự hồi phục suy chức năng thất trái có triệu chứng nhẹ hoặc không triệu chứng được quan sát thấy ở 79,5% số bệnh nhân sử dụng Herceptin. Khoảng 17% các biến cố liên quan đến rối loạn tim mạch xảy ra khi hoàn tất điều trị với Herceptin.
Trong phân tích gộp của các nghiên cứu NSABP B-31 và NCCTG N9831, với thời gian theo dõi trung vị 8,1 năm cho nhóm AC → PH (doxorubicin kết hợp với cyclophosphamide, tiếp theo là dùng paclitaxel kết hợp trastuzumab), tần suất khởi phát các trường hợp rối loạn chức năng thất trái, xác định bởi LVEF, là không thay đổi so với phân tích được thực hiện ở nhóm AC → PH với thời gian theo dõi trung vị là 2 năm: 18,5% bệnh nhân ở nhóm AC → PH có LVEF giảm từ ≥ 10% đến dưới 50%. Đã có báo cáo về phục hồi rối loạn chức năng thất trái: trên 64,5% bệnh nhân, những người có triệu chứng của suy tim sung huyết ở nhóm AC → PH đã chuyển sang nhóm không triệu chứng vào cuối giai đoạn theo dõi, và 90,3% có sự hồi phục một phần hoặc hoàn toàn giá trị LVEF.
Ung thư vú giai đoạn sớm (điều trị bổ trợ trước và sau phẫu thuật)
Trong thử nghiệm then chốt MO16432, Herceptin được dùng đồng thời với liệu pháp hóa trị tân bổ trợ gồm 3 chu kỳ doxorubicin (liều tích lũy 180 mg/m2). Tỷ lệ rối loạn chức năng tim có triệu chứng là 1,7% ở nhóm dùng Herceptin.
Trong thử nghiệm then chốt BO22227, Herceptin được dùng đồng thời với liệu pháp hóa trị tân bổ trợ gồm 4 chu kỳ epirubicin (liều tích lũy 300 mg/m2); trung vị theo dõi hơn 70 tháng, tỷ lệ suy tim/suy tim sung huyết là 0,3% ở nhóm Herceptin truyền tĩnh mạch (IV) và 0,7% ở nhóm Herceptin tiêm dưới da (SC). Ở những bệnh nhân có mức cân nặng thấp (tứ phân vị trọng lượng cơ thể thấp nhất: < 59 kg), liều cố định Herceptin tiêm dưới da (SC) không liên quan đến việc làm tăng nguy cơ xuất hiện biến cố trên tim hoặc làm giảm đáng kể phân suất tống máu thất trái (LVEF).
Ung thư dạ dày tiến triển
Trong nghiên cứu BO18255, lúc tầm soát, giá trị LVEF trung vị là 64% (trong khoảng 48%-90%) trong nhóm điều trị với Fluoropyrimidine/Cisplatin (FP) và 65% (trong khoảng 50%-86%) trong nhóm Herceptin truyền tĩnh mạch (IV) cộng với Fluoropyrimidine/Cisplatin (H+FP).
Phần lớn các tình huống giảm LVEF được ghi nhận trong BO18255 là không triệu chứng, ngoại trừ một bệnh nhân trong nhóm có sử dụng Herceptin có LVEF giảm cùng lúc với suy tim.
- xem Bảng 13 & Bảng 14.

Image from Drug Label Content


Image from Drug Label Content

Nhìn chung, không có sự khác nhau có ý nghĩa về sự bất thường chức năng tim giữa nhóm điều trị và nhóm so sánh.
Độc tính trên hệ tạo huyết
Ung thư vú
Độc tính trên hệ tạo máu không thường gặp khi sử dụng Herceptin truyền tĩnh mạch (IV) đơn trị trong bệnh cảnh di căn, giảm bạch cầu, tiểu cầu và thiếu máu mức độ 3 theo tiêu chuẩn WHO xảy ra < 1% các bệnh nhân. Không ghi nhận được độc tính mức độ 4 theo tiêu chuẩn WHO. Độc tính trên hệ tạo huyết mức độ 3 và 4 theo tiêu chuẩn WHO tăng ở nhóm bệnh nhân sử dụng Herceptin và paclitaxel so với nhóm chỉ sử dụng paclitaxel đơn trị (34% so với 21%). Độc tính trên hệ tạo huyết cũng đồng thời tăng ở những bệnh nhân sử dụng Herceptin và docetaxel, so với docetaxel đơn trị (giảm bạch cầu hạt mức độ 3/4 32% so với 22%, sử dụng tiêu chuẩn NCI-CTC).
Tỷ lệ sốt giảm bạch cầu hạt/ nhiễm trùng huyết do giảm bạch cầu cũng tăng cao ở những bệnh nhân điều trị với Herceptin + docetaxel (23% so với 17% ở nhóm bệnh nhân điều trị docetaxel đơn trị).
Sử dụng tiêu chuẩn NCI-CTC, trong nghiên cứu BO16348, 0,4% số bệnh nhân điều trị với Herceptin gặp biến cố bất lợi mức độ 3 hoặc 4, so với 0,6% trong nhóm quan sát.
Ung thư dạ dày giai đoạn tiến xa
Biến cố bất lợi hay được báo cáo nhất, mức độ ≥ 3 diễn ra với tỷ lệ ít nhất là 1% trong điều trị theo nghiên cứu, được xếp loại dưới nhóm Những Rối Loạn Hệ Máu và Bạch Huyết được liệt kê trong bảng 15.
- xem Bảng 15.

Image from Drug Label Content

Tổng tỷ lệ bệnh nhân có phản ứng bất lợi ≥ mức độ 3 NCI-CTCAE v3.0 được xếp loại là 38% trong nhánh FP và 40% trong nhóm H+FP.
Toàn bộ, không có sự khác biệt có ý nghĩa về độc tính trên hệ tạo huyết giữa nhóm điều trị và nhóm nghiên cứu.
Độc tính trên gan và thận
Ung thư vú
Độc tính trên gan mức độ 3 hoặc 4 theo tiêu chuẩn WHO được quan sát thấy ở 12% số bệnh nhân sau sử dụng Herceptin truyền tĩnh mạch (IV) đơn trị, trong bệnh cảnh di căn. Độc tính này liên quan đến sự diễn tiến bệnh ở gan trong 60% các trường hợp.
Độc tính trên gan mức độ 3 hoặc 4 theo tiêu chuẩn WHO ít được quan sát thấy ở bệnh nhân sau sử dụng Herceptin truyền tĩnh mạch (IV) và paclitaxel hơn là paclitaxel đơn trị (7% so với 15%). Độc tính trên thận mức độ 3 hoặc 4 theo tiêu chuẩn WHO không được quan sát thấy.
Ung thư dạ dày giai đoạn tiến xa
Trong nghiên cứu BO18255, không có sự khác nhau có ý nghĩa về độc tính trên gan và thận được quan sát thấy giữa hai nhóm điều trị.
Độc tính trên thận mức độ ≥ 3 theo NCI-CTCAE (phiên bản 3.0) không cao hơn có ý nghĩa trong nhóm bệnh nhân dùng Herceptin truyền tĩnh mạch (IV) so với nhóm dùng FP (lần lượt là 3% và 2%).
Rối loạn hệ gan mật (tăng bilirubin máu) mức độ ≥ 3 theo NCI-CTCAE (phiên bản 3.0) là biến cố bất lợi duy nhất được báo cáo và không cao hơn có ý nghĩa ở những bệnh nhân dùng Herceptin truyền tĩnh mạch (IV) so với nhóm bệnh nhân trong nhánh FP (lần lượt là 1% và < 1%).
Tiêu chảy
Ung thư vú
Tiêu chảy được quan sát thấy ở 27% số bệnh nhân sau sử dụng Herceptin truyền tĩnh mạch (IV) đơn trị, trong bệnh cảnh di căn. Sự gia tăng tỷ lệ bệnh nhân bị tiêu chảy, lúc đầu có mức độ nhẹ đến vừa, cũng được quan sát thấy ở những bệnh nhân điều trị Herceptin phối hợp với paclitaxel so với bệnh nhân dùng paclitaxel đơn trị.
Trong nghiên cứu BO16348, 8% số bệnh nhân dùng Herceptin bị tiêu chảy trong năm điều trị đầu tiên.
Ung thư dạ dày giai đoạn tiến xa
Trong nghiên cứu BO18255, 109 bệnh nhân (37%) tham gia vào nhóm điều trị có Herceptin IV so với 80 bệnh nhân (28%) trong nhóm so sánh bị tiêu chảy ở mọi mức độ. Sử dụng tiêu chuẩn về độ nặng của NCI-CTCAE (v3.0), tỷ lệ bệnh nhân bị tiêu chảy mức độ ≥ 3 là 4% trong nhóm FP so với 9% trong nhóm H+FP.
Nhiễm trùng
Người ta cũng thấy có tăng tỷ lệ nhiễm trùng, chủ yếu là nhiễm trùng nhẹ đường hô hấp trên ít có ý nghĩa lâm sàng hoặc nhiễm trùng ống thông ở những bệnh nhân được điều trị với Herceptin.
Chuyển đổi điều trị từ Herceptin truyền tĩnh mạch sang Herceptin tiêm dưới da và ngược lại
Nghiên cứu MO22982 đánh giá khả năng chuyển đổi giữa Herceptin truyền tĩnh mạch (IV) sang Herceptin tiêm dưới da (SC) và ngược lại, trên những bệnh nhân ung thư vú giai đoạn sớm có HER2 dương tính, với mục tiêu chính là đánh giá mức độ ưa thích của bệnh nhân với trastuzumab truyền tĩnh mạch hoặc tiêm dưới da. Trong thử nghiệm này, 2 nhóm bệnh nhân (một nhóm dùng Herceptin lọ tiêm dưới da và một nhóm dùng Herceptin tiêm dưới da qua dụng cụ hỗ trợ SID) được theo dõi với thiết kế nghiên cứu 2 nhóm, bắt chéo, trong đó bệnh nhân được phân nhóm ngẫu nhiên vào 1 trong 2 liệu trình điều trị Herceptin mỗi 3 tuần (truyền tĩnh mạch (liệu trình 1-4) → tiêm dưới da (liệu trình 5-8), hoặc tiêm dưới da (liệu trình 1-4) → truyền tĩnh mạch (liệu trình 5-8)). Bệnh nhân tham gia nghiên cứu thì hoặc chưa được điều trị bằng Herceptin truyền tĩnh mạch (20,3%) hoặc đã dùng Herceptin truyền tĩnh mạch trước đó (79,7%) như một phần của liệu pháp bổ trợ cho các trường hợp ung thư vú giai đoạn sớm có HER2 dương tính. Đối với chuỗi IV → SC (lọ SC và công thức SC trong hệ tiêm truyền kết hợp), tỷ lệ tác dụng phụ (tất cả các mức độ) đã được mô tả trước khi chuyển đổi (liệu trình 1-4) và sau khi chuyển đổi (liệu trình 5-8) là 53,8% và 56,4%, tương ứng; đối với chuỗi SC → IV (SC lọ và công thức SC trong hệ tiêm truyền kết hợp), tỷ lệ tác dụng phụ (tất cả các mức độ) đã được mô tả trước và sau khi chuyển đổi tương ứng là 65,4%, và 48,7%.
Về tổng thể, việc chuyển đổi Herceptin truyền tĩnh mạch (IV) sang Herceptin tiêm dưới da (SC) và ngược lại tỏ ra dung nạp tốt. Tỷ lệ biến cố bất lợi nghiêm trọng, biến cố bất lợi độ 3 và số ca phải ngừng điều trị do các biến cố bất lợi trước khi chuyển đổi (liệu trình 1-4) ở mức thấp (< 5%), tương tự tỷ lệ này trong giai đoạn sau khi chuyển đổi (liệu trình 5-8). Không có các biến cố bất lợi độ 4 hoặc 5 được ghi nhận.
Độ an toàn và dung nạp của Herceptin dạng tiêm dưới da (SC) trên những bệnh nhân ung thư vú giai đoạn sớm
Nghiên cứu MO28048 đánh giá độ an toàn và dung nạp của Herceptin dạng tiêm dưới da (SC) trong điều trị bổ trợ sau phẫu thuật cho những bệnh nhân ung thư vú giai đoạn sớm có HER2 dương tính tham gia vào nghiên cứu được chia làm 2 nhóm hoặc sử dụng Herceptin lọ tiêm dưới da (SC) (N=1.868 bệnh nhân, bao gồm 20 bệnh nhân có điều trị bổ trợ trước phẫu thuật) hoặc Herceptin tiêm dưới da có dùng dụng cụ hỗ trợ SID (SC SID) (N=710 bệnh nhân, bao gồm 21 bệnh nhân có điều trị bổ trợ trước phẫu thuật). Kết quả phân tích ban đầu bao gồm những bệnh nhân có trung vị thời gian theo dõi là 23,7 tháng. Không ghi nhận thêm tác dụng phụ mới nào và kết quả này tương tự với dữ liệu an toàn đã được ghi nhận của Herceptin dạng truyền tĩnh mạch và dạng tiêm dưới da. Hơn nữa, điều trị cho những bệnh nhân ung thư vú giai đoạn sớm (điều trị bổ trợ sau phẫu thuật) có trọng lượng cơ thể thấp bằng Herceptin tiêm dưới da (SC) liều cố định không làm gia tăng nguy cơ gặp những biến cố bất lợi và biến cố bất lợi nghiêm trọng, so với các bệnh nhân có trọng lượng cơ thể cao hơn. Kết quả cuối cùng của nghiên cứu BO22227 tại trung vị thời gian theo dõi hơn 70 tháng (xem mục Dược lý - Các nghiên cứu lâm sàng/Hiệu quả) phù hợp với tính an toàn đã được biết của Herceptin IV và Herceptin SC, và không có tác dụng phụ mới nào được ghi nhận.
Kinh nghiệm sau khi lưu hành
Các phản ứng bất lợi sau đã được ghi nhận từ các kinh nghiệm sau khi lưu hành Herceptin.
- xem Bảng 16.

Image from Drug Label Content

Các biểu hiện bất thường khác
Bảng 17 liệt kê các biểu hiện bất thường được ghi nhận trên những bệnh nhân đã sử dụng Herceptin. Vì không có các mối liên hệ có tính nhân quả của các biểu hiện này với việc sử dụng Herceptin nên các biểu hiện này không được liệt kê vào các báo cáo phản ứng bất lợi theo quy định.
- xem Bảng 17.

Image from Drug Label Content
Register or sign in to continue
Asia's one-stop resource for medical news, clinical reference and education
Sign up for free
Already a member? Sign in