Implanon NXT

Implanon NXT Dược lực học

etonogestrel

Nhà sản xuất:

Organon

Nhà phân phối:

DKSH

Nhà tiếp thị:

Merck Sharp & Dohme
Thông tin kê toa chi tiết tiếng Việt
Dược lực học
Nhóm dược trị liệu: Progestagens
Phân loại ATC: G03AC08
Implanon NXT là que cấy không bị phân hủy sinh học, cản quang và chứa etonogestrel được dùng để cấy dưới da, được nạp sẵn trong dụng cụ vô khuẩn, dùng một lần. Etonogestrel là chất chuyển hóa sinh học có hoạt tính của desogestrel, một progestagen được dùng rộng rãi trong thuốc tránh thai dạng uống. Về cấu trúc, thuốc có nguồn gốc từ 19-nortestosteron và có ái lực gắn kết mạnh với những thụ thể progesteron tại các cơ quan đích. Hiệu quả tránh thai của etonogestrel chủ yếu qua tác dụng ức chế rụng trứng. Không thấy rụng trứng trong hai năm đầu sử dụng que cấy và rất hiếm xảy ra trong năm thứ ba. Ngoài tác dụng ức chế rụng trứng, etonogestrel cũng làm thay đổi chất nhầy cổ tử cung gây cản trở sự di chuyển của tinh trùng. Các thử nghiệm lâm sàng đã được tiến hành ở phụ nữ từ 18 đến 40 tuổi. Mặc dù không tiến hành so sánh trực tiếp nhưng ít nhất hiệu quả tránh thai cũng tương tự như các thuốc tránh thai phối hợp đường uống. Trong các thử nghiệm lâm sàng không ghi nhận có thai trong 35.057 chu kỳ cấy thuốc; chỉ số Pearl quan sát thấy là 0,00 (giới hạn tin cậy 95%: 0,00-0,14). Tuy nhiên cần biết rằng trên thực hành lâm sàng không phương pháp nào được cho là hiệu quả 100%. Hiệu quả tránh thai cao còn do lý do khác bởi vì tác dụng tránh thai của Implanon NXT không phụ thuộc vào việc tuân thủ dùng thuốc của người phụ nữ. Tác dụng tránh thai của etonogestrel có thể mất đi nhanh chóng sau khi rút que cấy, thể hiện qua việc kinh nguyệt trở về bình thường. Mặc dù etonogestrel ức chế sự rụng trứng, hoạt động của buồng trứng không bị ức chế hoàn toàn. Nồng độ trung bình của estradiol vẫn cao hơn nồng độ estradiol ở giai đoạn nang noãn sớm. Trong một nghiên cứu hai năm so sánh mật độ chất khoáng trong xương ở 44 người sử dụng với nhóm chứng gồm 29 người sử dụng vòng tránh thai (IUD), không thấy tác dụng bất lợi trên khối xương. Không thấy ảnh hưởng có ý nghĩa lâm sàng trên chuyển hóa lipid. Sử dụng thuốc tránh thai chứa progestagen có thể ảnh hưởng đến sự đề kháng insulin và dung nạp glucose. Các thử nghiệm lâm sàng còn cho thấy những người dùng Implanon NXT ít bị đau bụng kinh hơn.
Các đặc điểm về đặt que cấy và rút que cấy
Trong một thử nghiệm lâm sàng, que cấy Implanon NXT đã được đặt ở 301 phụ nữ. Thời gian cấy trung bình (từ lúc tháo nắp bảo vệ của dụng cụ cấy cho đến khi rút kim ra khỏi cánh tay) là 27,9 giây (độ lệch chuẩn (SD) = 29,3, n=291). Sau khi cấy, có thể sờ thấy 300 trong số 301 que cấy Implanon NXT (99,7%). Một que cấy duy nhất không sờ thấy đã không được đặt vào theo đúng hướng dẫn. Đối với 293 trong số 301 đối tượng, các dữ liệu về khả năng sờ thấy đã được thu thập trước khi rút que cấy. Que cấy có thể sờ thấy được đối với tất cả 293 đối tượng với dữ liệu về khả năng sờ thấy. Đối với 4 đối tượng, khả năng sờ thấy không được đánh giá và 4 đối tượng khác đã bị mất theo dõi trước khi rút que cấy.
Trong hai thử nghiệm lâm sàng với que cấy Implanon NXT, tổng cộng có 116 đối tượng đã được đánh giá bằng X-quang 2 chiều vào lúc (sau khi) đặt và/hoặc (trước khi) rút que cấy. Đối với 101 trong số 103 đối tượng (98,1%) đã được thực hiện đánh giá về X-quang vào lúc đặt và trước khi rút ra, que cấy Implanon NXT đã được nhìn thấy rõ ràng; đối với 2 đối tượng, que cấy không thể nhìn thấy rõ sau khi đặt nhưng có thể nhìn thấy rõ trước khi rút. Tất cả các que cấy của 13 đối tượng được đánh giá bằng X-quang chỉ vào lúc đặt (n=12) hoặc chỉ trước khi rút (n=1) đều có thể nhìn thấy rõ ràng.
Register or sign in to continue
Asia's one-stop resource for medical news, clinical reference and education
Sign up for free
Already a member? Sign in