Jardiance

Jardiance Dược lực học

empagliflozin

Nhà sản xuất:

Boehringer Ingelheim
Thông tin kê toa chi tiết tiếng Việt
Dược lực học
Nhóm điều trị dược lý: Chất ức chế SGLT2; mã ATC: A10BK03.
Cơ chế tác động
Empagliflozin là một chất ức chế SGLT2 cạnh tranh, chọn lọc, mạnh và thuận nghịch với IC50 là 1,3 nM. Empagliflozin có tính chọn lọc cao hơn 5000 lần trên SGLT1 của người (IC50 là 6278 nM), SGLT1 chịu trách nhiệm cho quá trình hấp thu đường ở ruột. Hơn nữa, tính chọn lọc cao có thể hướng tới các chất vận chuyển đường khác (GLUTs) chịu trách nhiệm cho việc cân bằng đường ở các mô khác nhau.
SGLT-2 có mặt nhiều ở thận trong khi ở các mô khác là không có hoặc rất ít. SGLT-2 chịu trách nhiệm như là một chất vận chuyển chiếm ưu thế cho quá trình tái hấp thu đường từ màng lọc cầu thận trở lại tuần hoàn. Ở những bệnh nhân đái tháo đường typ 2 và bệnh nhân có đường huyết cao, một lượng đường lớn hơn được lọc và tái hấp thu.
Empagliflozin cải thiện kiểm soát đường huyết ở những bệnh nhân đái tháo đường typ 2 theo cơ chế giảm tái hấp thu đường ở thận. Lượng đường được loại bỏ qua thận theo cơ chế đường thải qua nước tiểu phụ thuộc vào nồng độ đường và GFR. Thông qua việc ức chế SGLT-2 ở những bệnh nhân đái tháo đường typ 2 và tăng đường huyết, lượng đường thừa sẽ được bài tiết qua nước tiểu.
Ở những bệnh nhân đái tháo đường typ 2, bài tiết đường qua nước tiểu ngay lập tức tăng lên sau khi dùng liều đầu tiên empagliflozin và tiếp tục tăng sau hơn 24 giờ cách liều. Tăng bài tiết đường qua đường niệu được duy trì tại thời điểm cuối tuần thứ 4 của giai đoạn điều trị, trung bình khoảng 78 g/ngày khi dùng empagliflozin 25 mg một lần mỗi ngày. Tăng thải trừ đường niệu ngay lập tức làm giảm nồng độ đường trong huyết tương ở những bệnh nhân đái tháo đường typ 2.
Empagliflozin (10mg và 25mg) cải thiện nồng độ đường huyết khi đói và sau khi ăn.
Cơ chế tác dụng của empagliflozin không phụ thuộc vào chức năng tế bào beta và con đường điều hoà đường huyết của insulin, điều này góp phần làm giảm nguy cơ hạ đường huyết. Cải thiện các chất đánh dấu đại diện cho chức năng tế bào beta đã được ghi nhận bao gồm HOMA- β (Mô hình Đánh giá cân bằng nội môi tế bào β) và tỉ lệ proinsulin/insulin. Thêm vào đó bài tiết đường niệu cũng làm mất calo, liên quan với giảm béo và giảm cân.
Đã quan sát thấy tình trạng tăng đường niệu khi dùng empagliflozin đi kèm với lợi tiểu nhẹ, có thể góp phần làm giảm huyết áp trung bình và ổn định.
Thử nghiệm lâm sàng
Tổng số 17331 bệnh nhân đái tháo đường typ 2 được đánh giá trong 15 nghiên cứu lâm sàng mù đôi, có đối chứng với giả dược và hoạt chất, trong đó 4603 bệnh nhân điều trị với empagliflozin 10mg và 5567 dùng empagliflozin 25mg. Sáu nghiên cứu có thời gian điều trị kéo dài 24 tuần; trong phần mở rộng của những nghiên cứu này và các nghiên cứu khác thì bệnh nhân được dùng JARDIANCE lên đến 102 tuần.
Điều trị với empagliflozin (10mg và 25mg) trong đơn trị liệu và kết hợp với metformin, pioglitazone, sulfonylurea, các chất ức chế DPP-4, và insulin giúp cải thiện có ý nghĩa lâm sàng HbA1c, đường huyết lúc đói (FPG), cân nặng, huyết áp tâm thu và tâm trương (SBP và DBP). Dùng empagliflozin 25mg giúp tỷ lệ bệnh nhân đạt được HbA1c mục tiêu dưới 7% cao hơn và số bệnh nhân cần điều trị cứu nguy do rối loạn đường huyết ít hơn so với empagliflozin 10mg và giả dược. Đã thấy cải thiện HbA1c có ý nghĩa lâm sàng ở tất cả các phân nhóm về giới tính, chủng tộc, vùng địa lý, thời gian khi được chẩn đoán đái tháo đường typ 2, chỉ số khối cơ thể, đề kháng insulin dựa vào Mô hình Đánh giá HOMA-IR và chức năng tế bào beta dựa vào HOMA-β. HbA1c cao hơn ở thời điểm ban đầu sẽ đi kèm với HbA1c giảm nhiều hơn. Đã quan sát thấy giảm HbA1c có ý nghĩa trên lâm sàng ở những bệnh nhân có eGFR > 30mL/phút/1,73m² (xem Liều lượng và Cách dùng, mục Bệnh nhân suy thận).
Đã quan sát thấy hiệu quả của JARDIANCE giảm ở những bệnh nhân từ 75 tuổi trở lên.
Empagliflozin đơn trị liệu
Tính an toàn và hiệu quả của empagliflozin (10mg và 25mg) trong đơn trị liệu đã được đánh giá trong một nghiên cứu mù đôi kéo dài 24 tuần, có đối chứng với giả dược và đối chứng với hoạt chất trên những bệnh nhân điều trị lần đầu.
Điều trị với JARDIANCE dẫn đến giảm đáng kể có ý nghĩa thống kê chỉ số HbA1c, trọng lượng cơ thể và huyết áp tâm thu (SBP) so với giả dược (Bảng 1) và giảm nồng độ đường trong huyết tương lúc đói (FPG) có ý nghĩa lâm sàng. Đã quan sát thấy một số bệnh nhân giảm huyết áp tâm trương (DBP) so với giả dược nhưng không đạt tới mức giảm có ý nghĩa thống kê (giảm 1,0 mmHg đối với empagliflozin 10mg, giảm 1,9 mmHg đối với empagliflozin 25mg, giảm 0,5 đối với giả dược, và tăng 0,7 mmHg đối với sitagliptin).
Trong một phân tích đã xác định trước bệnh nhân (N=201) với HbA1c ban đầu từ ≥ 8,5% đến ≤ 10%, empagliflozin làm giảm HbA1c so với thời điểm ban đầu, giảm 1,44% ở nhóm dùng empagliflozin 10mg, giảm 1,43% ở nhóm dùng empagliflozin 25mg, tăng 0,01% ở nhóm dùng giả dược, và giảm 1,04% ở nhóm dùng sitagliptin.
Trong phần mở rộng mù đôi có đối chứng với giả dược của nghiên cứu này, giảm HbA1c (thay đổi từ thời điểm ban đầu giảm 0,65 khi dùng empagliflozin 10mg, giảm 0,76% khi dùng empagliflozin 25mg, tăng 0,13% khi dùng giả dược, và giảm 0,53% khi dùng sitagliptin), trọng lượng cơ thể (thay đổi so với thời điểm ban đầu, giảm 2,24kg khi dùng empagliflozin 10mg, giảm 2,45kg khi dùng empagliflozin 25mg, giảm 0,43kg khi dùng giả dược và tăng 0,10kg khi dùng sitagliptin) và huyết áp (huyết áp tâm thu SBP: thay đổi so với thời điểm ban đầu, giảm 4,1 mmHg khi dùng empagliflozin 10mg, giảm 4,2 mmHg khi dùng empagliflozin 25mg, giảm 0,7 mmHg khi dùng giả dược và giảm 0,3 mmHg khi dùng sitagliptin; huyết áp tâm trương DBP: thay đổi so với thời điểm ban đầu, giảm 1,6 mmHg khi dùng empagliflozin 10mg, giảm 1,6 mmHg khi dùng empagliflozin 25mg, giảm 0,6 mmHg khi dùng giả dược và giảm 0,1 mmHg khi dùng sitagliptin) được duy trì cho tới tuần điều trị thứ 76.
Điều trị với JARDIANCE hàng ngày cải thiện đáng kể chất đánh dấu chức năng của tế bào beta HOMA-B.
- xem Bảng 1.

Image from Drug Label Content

Empagliflozin kết hợp với metformin
Một nghiên cứu mù đôi, có đối chứng với giả dược kéo dài 24 tuần được tiến hành để đánh giá tính an toàn và hiệu quả của empagliflozin ở những bệnh nhân không kiểm soát đầy đủ với metformin.
Điều trị với JARDIANCE dẫn đến cải thiện có ý nghĩa thống kê giá trị HbA1c và trọng lượng cơ thể và giảm có ý nghĩa lâm sàng FPG và huyết áp so với giả dược (Bảng 2).
Trong phần mở rộng mù đôi, có đối chứng với giả dược của nghiên cứu này, giảm HbA1c (thay đổi so với thời điểm ban đầu, giảm 0,62% ở nhóm dùng empagliflozin 10mg, giảm 0,74% ở nhóm dùng empagliflozin 25mg và giảm 0,01% ở nhóm dùng giả dược), trọng lượng cơ thể (thay đổi so với thời điểm ban đầu, giảm 2,39kg ở nhóm dùng empagliflozin 10mg, giảm 2,65kg khi dùng empagliflozin 25mg và giảm 0,46kg khi dùng giả dược) và huyết áp (SBP: thay đổi so với thời điểm ban đầu, giảm 5,2 mmHg ở nhóm dùng empagliflozin 10mg, giảm 4,5 mmHg ở nhóm dùng empagliflozin 25mg và tăng 0,8 mmHg ở nhóm dùng giả dược, DBP: thay đổi so với thời điểm ban đầu, giảm 2,5 mmHg ở nhóm dùng empagliflozin 10mg, giảm 1,9 mmHg ở nhóm dùng empagliflozin 25mg và giảm 0,5 mmHg ở nhóm dùng giả dược) được duy trì cho đến tuần 76.
- xem Bảng 2.

Image from Drug Label Content

Liệu pháp kết hợp empagliflozin và metformin trên bệnh nhân dùng thuốc lần đầu
Một nghiên cứu thiết kế kiểu giai thừa kéo dài 24 tuần được tiến hành để đánh giá tính an toàn và hiệu quả của empagliflozin ở những bệnh nhân dùng thuốc lần đầu. Điều trị với empagliflozin kết hợp metformin (5 mg và 500 mg; 5 mg và 1000 mg; 12,5 mg và 500 mg, và 12,5 mg và 1000 mg hai lần mỗi ngày) cho thấy sự cải thiện đáng kể có ý nghĩa thống kê giá trị HbA1c và dẫn đến giảm nhiều hơn đáng kể FPG và trọng lượng cơ thể so với việc dùng mỗi thuốc đơn độc. Tỷ lệ bệnh nhân có HbA1c lúc ban đầu ≥ 7,0%, điều trị với empagliflozin kết hợp metformin đạt được mục tiêu HbA1c < 7,0% lớn hơn so với dùng mỗi thuốc đơn độc (Bảng 3 và 4).
- xem Bảng 3 & Bảng 4.

Image from Drug Label Content


Image from Drug Label Content

Empagliflozin kết hợp với liệu pháp phối hợp metformin và sulphonylurea
Một nghiên cứu mù đôi, có đối chứng với giả dược kéo dài 24 tuần được tiến hành để đánh giá tính an toàn và hiệu quả của empagliflozin ở những bệnh nhân không được điều trị thoả đáng với liệu pháp phối hợp metformin và sulphonylurea. Điều trị với JARDIANCE cho thấy sự cải thiện đáng kể có ý nghĩa thống kê trên HbA1c và trọng lượng cơ thể, và sự giảm có ý nghĩa lâm sàng trên FPG và huyết áp so với giả dược (Bảng 5).
Trong phần mở rộng mù đôi, có đối chứng với giả dược của nghiên cứu này, giảm HbA1c (thay đổi so với thời điểm ban đầu: giảm 0,74% khi dùng empagliflozin 10mg, giảm 0,72% khi dùng empagliflozin 25mg và giảm 0,03% khi dùng giả dược), trọng lượng cơ thể (thay đổi so với thời điểm ban đầu: giảm 2,44kg khi dùng empagliflozin 10mg, giảm 2,28kg khi dùng empagliflozin 25mg và giảm 0,63kg khi dùng giả dược) và huyết áp (thay đổi so với thời điểm ban đầu: SBP: giảm 3,8 mmHg khi dùng empagliflozin 10mg, giảm 3,7 mmHg khi dùng empagliflozin 25mg và giảm 1,6 mmHg khi dùng giả dược; DBP: thay đổi so với thời điểm ban đầu: giảm 2,6 mmHg khi dùng empagliflozin 10mg, giảm 2,3 mmHg khi dùng empagliflozin 25mg và giảm 1,4 mmHg khi dùng giả dược) được duy trì cho đến tuần 76.
- xem Bảng 5.

Image from Drug Label Content

Empagliflozin kết hợp pioglitazone (+/- metformin)
Tính an toàn và hiệu quả của empagliflozin đã được đánh giá trong một nghiên cứu mù đôi, có đối chứng với giả dược, kéo dài 24 tuần ở những bệnh nhân không được kiểm soát đầy đủ với một kết hợp của metformin và pioglitazone hoặc pioglitazone đơn trị liệu. Empagliflozin kết hợp với pioglitazone (liều ≥ 30 mg) cùng hoặc không cùng metformin dẫn đến giảm có ý nghĩa thống kê HbA1c, nồng độ đường trong huyết tương lúc đói và trọng lượng cơ thể và giảm huyết áp có ý nghĩa trên lâm sàng so với giả dược (Bảng 6).
Trong phần mở rộng mù đôi, có đối chứng với giả dược của nghiên cứu này, giảm HbA1c (thay đổi so với thời điểm ban đầu, giảm 0,61% ở nhóm dùng empagliflozin 10mg, giảm 0,70% ở nhóm dùng empagliflozin 25mg và giảm 0,01% ở nhóm dùng giả dược), giảm trọng lượng cơ thể (thay đổi so với thời điểm ban đầu, giảm 1,47kg ở nhóm dùng empagliflozin 10mg, giảm 1,21kg khi dùng empagliflozin 25mg và tăng 0,50kg khi dùng giả dược) và giảm huyết áp (SBP: thay đổi so với thời điểm ban đầu, giảm 1,7 mmHg ở nhóm dùng empagliflozin 10mg, giảm 3,4 mmHg ở nhóm dùng empagliflozin 25mg và tăng 0,3 mmHg ở nhóm dùng giả dược, DBP: thay đổi so với thời điểm ban đầu, giảm 1,3 mmHg ở nhóm dùng empagliflozin 10mg, giảm 2,0 mmHg ở nhóm dùng empagliflozin 25mg và tăng 0,2 mmHg ở nhóm dùng giả dược) được duy trì cho đến tuần 76.
- xem Bảng 6.

Image from Drug Label Content

Empagliflozin và linagliptin điều trị bệnh nhân dùng thuốc lần đầu
Sau 24 tuần điều trị với empagliflozin 25mg/linagliptin 5mg trên bệnh nhân dùng thuốc lần đầu cho thấy sự cải thiện rõ rệt có ý nghĩa thống kê trên A1C so với linagliptin 5mg nhưng không thấy sự khác biệt đáng kể có ý nghĩa thống kê giữa dạng phối hợp sẵn (FDC) empagliflozin 25mg/linagliptin 5mg và empagliflozin 25mg (Bảng 5). So với linagliptin 5mg, cả 2 liều của dạng phối hợp empagliflozin/linagliptin đều cho sự cải thiện tương đối có ý nghĩa thống kê với trọng lượng cơ thể. Sau 24 tuần điều trị với empagliflozin/linagliptin, cả huyết áp tâm thu (SBP) và huyết áp tâm trương (DBP) đều giảm, giảm 2,9/1,1 mmHg (không có ý nghĩa so với linagliptin 5mg với SBP và DBP) khi dùng empagliflozin 25mg/linagliptin 5mg và giảm 3,6/0,7 mmHg (p<0,05 so với linagliptin 5mg với SBP và không có ý nghĩa với DBP) khi dùng empagliflozin 10mg/linagliptin 5mg. Liệu pháp cứu nguy được dùng trên 2 bệnh nhân (1,5%) dùng empagliflozin 25mg/linagliptin 5mg và 1 bệnh nhân (0,7%) dùng empagliflozin 10mg/linagliptin 5mg so với 11 bệnh nhân (8,3%) dùng linagliptin 5mg, 1 bệnh nhân (0,8%) dùng empagliflozin 25mg và 4 bệnh nhân (3,0%) dùng empagliflozin 10mg. Giảm có ý nghĩa lâm sàng trên HbA1c (Bảng 7) và huyết áp tâm thu đã được ghi nhận tại tuần 52, giảm 2,0 mmHg (không có ý nghĩa so với linagliptin 5mg) khi dùng empagliflozin 25mg/linagliptin 5mg và giảm 1,7 mmHg (không có ý nghĩa so với linagliptin 5mg) khi dùng empagliflozin 10mg/linagliptin 5mg.
- xem Bảng 7.

Image from Drug Label Content

Trong một phân nhóm bệnh nhân đã được xác định trước, với HbA1c ban đầu ≥ 8,5%, HbA1c so với giá trị ban đầu giảm 1,9% ở tuần 24 khi dùng empagliflozin 25mg/linagliptin 5mg (p<0,0001 so với linagliptin 5mg, không có ý nghĩa so với empagliflozin 25mg) và giảm 2,0% ở tuần 52 (p<0,0001 so với linagliptin 5mg, p<0,05 so với empagliflozin 25mg); giảm 1,9% ở tuần 24 khi dùng empagliflozin 10mg/linagliptin 5 mg (p<0,0001 so với linagliptin 5mg, p<0,05 so với empagliflozin 10mg) và giảm 2,0% ở tuần 52 (p<0,0001 so với linagliptin 5mg, p<0,05 so với empagliflozin 10mg).
Empagliflozin và linagliptin kết hợp với metformin
Ở những bệnh nhân không được kiểm soát đầy đủ với việc điều trị bằng metformin trong 24 tuần, dùng dạng phối hợp sẵn (FDC) empagliflozin/linagliptin cả hai hàm lượng cho thấy có sự cải thiện đáng kể có ý nghĩa thống kê trên HbA1c và đường huyết khi đói so với dùng linagliptin 5mg và cả empagliflozin 10mg hay 25mg. So với linagliptin 5mg, cả hai hàm lượng của dạng phối hợp empagliflozin/linagliptin cho thấy sự cải thiện đáng kể có ý nghĩa thống kê trên cân nặng.
Tỷ lệ bệnh nhân với mức HbA1c ban đầu ≥ 7,0%, dùng dạng phối hợp empagliflozin/linagliptin đạt được mục tiêu HbA1c < 7% cao hơn so với dùng từng thành phần riêng lẻ (Bảng 8).
Sau 24 tuần điều trị với empagliflozin/linagliptin, cả huyết áp tâm thu và huyết áp tâm trương đều giảm, giảm 5,6/3,6 mmHg (p<0,001 so với linagliptin 5mg cho SBP và DBP) khi dùng empagliflozin 25mg/linagliptin 5mg và giảm 4,1/2,6 mmHg (p<0,05 so với linagliptin 5mg cho SBP, không có ý nghĩa với DBP) khi dùng empagliflozin 10mg/linagliptin 5mg. Ghi nhận thấy có sự giảm có ý nghĩa lâm sàng trên HbA1C (Bảng 6) và cả huyết áp tâm thu và huyết áp tâm trương ở tuần 52, giảm 3,8/1,6 mmHg (p<0,05 so với linagliptin 5mg với SBP và DBP) khi dùng empagliflozin 25mg/linagliptin 5mg và giảm 3,1/1,6 mmHg (p<0,05 so với linagliptin 5mg với SBP, không có ý nghĩa với DBP) khi dùng empagliflozin 10mg/linagliptin 5mg.
Sau 24 tuần, đã sử dụng liệu pháp cứu nguy trên 1 bệnh nhân (0,7%) dùng empagliflozin 25mg/linagliptin 5mg và trên 3 bệnh nhân (2,2%) dùng empagliflozin 10mg/linagliptin 5mg, so với 4 bệnh nhân (3,1%) dùng linagliptin 5mg; 6 bệnh nhân (4,3%) dùng empagliflozin 25mg và 1 bệnh nhân (0,7%) dùng empagliflozin 10mg.
- xem Bảng 8.

Image from Drug Label Content

Trong một phân nhóm bệnh nhân đã được xác định trước, với HbA1c ban đầu ≥ 8,5%, HbA1c so với giá trị ban đầu giảm 1,8% ở tuần 24 khi dùng empagliflozin 25mg/linagliptin 5mg (p<0,0001 so với linagliptin 5mg, p<0,001 so với empagliflozin 25mg) và giảm 1,8% ở tuần 52 (p<0,0001 so với linagliptin 5mg, p<0,05 so với empagliflozin 25mg); giảm 1,6% ở tuần 24 khi dùng empagliflozin 10mg/linagliptin 5mg (p<0,01 so với linagliptin 5mg, không có ý nghĩa so với empagliflozin 10mg) và giảm 1,5% ở tuần 52 (p<0,01 so với linagliptin 5mg, không có ý nghĩa so với empagliflozin 10mg).
Empagliflozin so với giả dược ở bệnh nhân không được kiểm soát đầy đủ bằng metformin và linagliptin
Ở bệnh nhân không được kiểm soát đầy đủ bằng metformin và linagliptin, việc điều trị trong vòng 24 tuần với cả hai mức liều (10 mg và 25 mg) empagliflozin cho thấy cải thiện có ý nghĩa thống kê các giá trị HbA1c, FPG và trọng lượng cơ thể so với giả dược (sử dụng thuốc nền linagliptin 5mg). Số bệnh nhân có HbA1c ban đầu ≥ 7,0% và điều trị đạt đích HbA1c < 7% ở nhóm dùng empagliflozin cao hơn có ý nghĩa thống kê so với nhóm dùng giả dược (sử dụng thuốc nền là linagliptin 5mg) (Bảng 9). Sau 24 tuần điều trị bằng empagliflozin, cả SBP và DBP đều giảm -2,6/-1,1 mmHg (SBP và DBP đều giảm không có ý nghĩa thống kê so với nhóm dùng giả dược) ở nhóm dùng empagliflozin 25mg/linagliptin 5mg và -1,3/-0,1 mmHg (SBP và DBP đều giảm không có ý nghĩa thống kê so với nhóm dùng giả dược) ở nhóm dùng empagliflozin 10mg/linagliptin 5mg.
Sau 24 tuần, phác đồ cứu nguy được sử dụng trên 4 (3,6%) bệnh nhân ở nhóm dùng empagliflozin 25mg/linagliptin 5mg và 2 (1,8%) bệnh nhân ở nhóm dùng empagliflozin 10mg/linagliptin 5mg so với 13 (12,0%) bệnh nhân ở nhóm dùng giả dược (sử dụng thuốc nền là linagliptin 5mg).
- xem Bảng 9.

Image from Drug Label Content

Trong một phân nhóm định trước gồm các bệnh nhân có giá trị HbA1c ban đầu từ 8,5% trở lên, mức giảm HbA1c so với giá trị ban đầu ở nhóm empagliflozin 25mg/linagliptin 5mg tại thời điểm 24 tuần là -1,3% (p<0,0001 so với giả dược [sử dụng thuốc nền linagliptin 5mg]) và ở nhóm empagliflozin 10mg/linagliptin 5mg là -1,3% (p<0,0001 so với giả dược [sử dụng thuốc nền linagliptin 5mg]).
Empagliflozin kết hợp với metformin so với glimepiride, dữ liệu 2 năm
Trong một nghiên cứu so sánh tính an toàn và hiệu quả của empagliflozin 25mg so với glimepiride (4mg) ở những bệnh nhân không kiểm soát đường huyết đầy đủ với metformin đơn trị, điều trị với empagliflozin 25mg hàng ngày dẫn đến giảm HbA1c vượt trội và giảm FPG có ý nghĩa lâm sàng so với glimepiride (Bảng 10). Empagliflozin 25 mg dùng hàng ngày dẫn đến giảm có ý nghĩa thống kê trọng lượng cơ thể, huyết áp tâm thu và tâm trương (thay đổi so với thời điểm ban đầu, giảm huyết áp tâm trương 1,8 mmHg khi dùng empagliflozin và tăng 0,9 mmHg khi dùng glimepiride, p<0,0001).
Điều trị với empagliflozin 25 mg hàng ngày dẫn đến tỷ lệ thấp hơn có ý nghĩa thống kê về biến cố hạ đường huyết ở bệnh nhân so với glimepiride (2,5% với empagliflozin 25mg, 24,2% với glimepiride, p<0,0001).
- xem Bảng 10.

Image from Drug Label Content

Empagliflozin kết hợp với insulin MDI và metformin
Tính an toàn và hiệu quả của empagliflozin kết hợp với insulin dùng nhiều lần trong ngày cùng hoặc không cùng với metformin (71,0% bệnh nhân có dùng metformin) đã được đánh giá trong một thử nghiệm mù đôi, có kiểm chứng với giả dược kéo dài 52 tuần. Trong suốt 18 tuần đầu và 12 tuần cuối, liều insulin được giữ ổn định, nhưng được điều chỉnh từ tuần 19 đến tuần 40 để đạt được mức đường huyết trước khi ăn < 100 mg/dL [5,5 mmol/l], và đường huyết sau khi ăn < 140 mg/dL [7,8 mmol/L].
Ở tuần 18, empagliflozin cho thấy sự cải thiện đáng kể có ý nghĩa thống kê trên HbA1c so với giả dược (Bảng 11). Tỷ lệ bệnh nhân có HbA1c ban đầu ≥ 7.0% (19,5% ở nhóm dùng empagliflozin 10mg, 31,0% ở nhóm dùng empagliflozin 25mg) đạt được mục tiêu HbA1c < 7% lớn hơn so với nhóm dùng giả dược (15,1%).
Ở tuần 52, điều trị với empagliflozin làm giảm đáng kể có ý nghĩa thống kê HbA1c và insulin so với giả dược và giảm FPG (thay đổi so với ban đầu: giảm 0,3 mg/dL [0,02 mmol/L] ở nhóm dùng giả dược, giảm 19,7 mg/dL [1,09 mmol/L] ở nhóm dùng empagliflozin 10mg, và giảm 23,7 mg/dL [1,31 mmol/L] ở nhóm dùng empagliflozin 25mg), trọng lượng cơ thể, và huyết áp (SBP: thay đổi so với ban đầu: giảm 2,6 mmHg ở nhóm dùng giả dược, giảm 3,9 mmHg ở nhóm dùng empagliflozin 10mg và giảm 4,0 mmHg ở nhóm dùng empagliflozin 25mg, DBP: thay đổi so với thời điểm ban đầu: giảm 1,0 mmHg ở nhóm dùng giả dược, giảm 1,4 mmHg ở nhóm dùng empagliflozin 10mg và giảm 2,6 mmHg ở nhóm dùng empagliflozin 25mg).
- xem Bảng 11.

Image from Drug Label Content

Empagliflozin kết hợp điều trị với insulin nền
Tính an toàn và hiệu quả của empagliflozin (10mg hoặc 25 mg) kết hợp điều trị với insulin nền cùng hoặc không cùng với metformin và/hoặc sulfonylurea được đánh giá trong một nghiên cứu mù đôi, có đối chứng với giả dược kéo dài 78 tuần. Trong giai đoạn khởi đầu 18 tuần liều của insulin được giữ ổn định, nhưng được điều chỉnh sau 60 tuần để đạt được FPG < 110 mg/dL. Ở tuần 18, empagliflozin (10mg hoặc 25mg) cho thấy giá trị HbA1c cải thiện có ý nghĩa thống kê so với giả dược. Tỉ lệ bệnh nhân có HbA1c ban đầu ≥ 7,0% đạt được HbA1c mục tiêu < 7% lớn hơn so với giả dược. Ở tuần 78, empagliflozin làm giảm HbA1c và liều insulin có ý nghĩa thống kê so với giả dược (Bảng 12).
Ở tuần 78, empagliflozin làm giảm FPG 10,51 mg/dL [giảm 0,58 mmol/L] khi dùng empagliflozin 10mg, giảm 17,43 mg/dL [0,3 mmol/L] khi dùng empagliflozin 25mg và giảm 5,48 mg/dL [giảm 0,97 mmol/L] đối với giả dược, trọng lượng cơ thể (giảm 2,47kg khi dùng empagliflozin 10mg, giảm 1,96kg ở nhóm dùng empagliflozin 25mg và tăng 1,16kg ở nhóm dùng giả dược, p<0,0001), huyết áp (SBP: giảm 4,1 mmHg đối với empagliflozin 10mg, giảm 2,4 mmHg ở nhóm dùng empagliflozin 25mg và tăng 0,1 mmHg ở nhóm dùng giả dược; DBP: giảm 2,9 mmHg đối với empagliflozin 10mg, giảm 1,5 mmHg ở nhóm dùng empagliflozin 25mg và giảm 0,3 mmHg ở nhóm dùng giả dược).
- xem Bảng 12.

Image from Drug Label Content

Empagliflozin kết hợp điều trị với ức chế dipeptidyl peptidase 4 (DPP-4)
Tính an toàn và hiệu quả của empagliflozin kết hợp điều trị với các chất ức chế DPP-4 và metformin, cùng hoặc không cùng với một thuốc chống đái tháo đường dạng uống được đánh giá ở 160 bệnh nhân có nguy cơ tim mạch cao. Điều trị với empagliflozin trong 28 tuần làm giảm HbA1c so với giả dược (thay đổi so với thời điểm ban đầu giảm 0,54% ở nhóm dùng empagliflozin 10mg, giảm 0,52% ở nhóm dùng empagliflozin 25mg và giảm 0,02 ở nhóm dùng giả dược).
Bệnh nhân suy thận, dữ liệu từ nghiên cứu có đối chứng với giả dược kéo dài 52 tuần
Tính an toàn và hiệu quả của empagliflozin kết hợp điều trị sẵn có với thuốc chống đái tháo đường được đánh giá ở những bệnh nhân suy thận nhẹ đến vừa trong một nghiên cứu mù đôi, có đối chứng với giả dược kéo dài 52 tuần.
Điều trị với JARDIANCE dẫn đến giảm HbA1c có ý nghĩa thống kê và cải thiện có ý nghĩa lâm sàng FPG (nồng độ đường huyết lúc đói), trọng lượng cơ thể và huyết áp so với giả dược ở tuần 24 (Bảng 13). Cải thiện HbA1c, FPG, trọng lượng cơ thể và huyết áp được duy trì cho đến 52 tuần.
- xem Bảng 13.

Image from Drug Label Content

Nồng độ đường 2 giờ sau khi ăn
Điều trị với empagliflozin (10mg hoặc 25mg) kết hợp metformin hoặc metformin và sulfonylurea dẫn đến cải thiện có ý nghĩa trên lâm sàng nồng độ đường 2 giờ sau khi ăn (xét nghiệm dung nạp đường sau ăn) sau 24 tuần (điều trị kết hợp với metformin, tăng 5,9 mg/dL ở nhóm dùng giả dược (n=57), giảm 46,0 mg/dL ở nhóm dùng empagliflozin 10mg (n=52); giảm 44,6 mg/dL ở nhóm dùng empagliflozin 25mg (n=58); bổ sung vào điều trị metformin và sulphonylurea, giảm 2,3 mg/dL ở nhóm dùng giả dược (n=35), giảm 35,7 mg/dL ở nhóm dùng empagliflozin 10mg (n=44) và giảm 36,6 mg/dL ở nhóm dùng empagliflozin 25mg (n=46).
Bệnh nhân có HbA1c cao ở thời điểm ban đầu >10%
Trong một phân tích gộp đã được định trước cho 3 nghiên cứu, điều trị với empagliflozin nhãn mở ở những bệnh nhân tăng đường huyết nghiêm trọng (N=184, giá trị HbA1c trung bình tại thời điểm ban đầu là 11,15%) dẫn đến giảm HbA1c có ý nghĩa lâm sàng so với thời điểm ban đầu (giảm 3,27%) ở tuần 24.
Trọng lượng cơ thể
Trong một phân tích gộp đã được định trước cho 4 nghiên cứu có đối chứng với giả dược, điều trị với empagliflozin dẫn đến giảm trọng lượng cơ thể so với giả dược ở tuần thứ 24 (giảm 2,04kg ở nhóm dùng empagliflozin 10mg, giảm 2,26kg ở nhóm dùng empagliflozin 25mg và giảm 0,16kg ở nhóm dùng giả dược).
Huyết áp
Tính an toàn và hiệu quả của empagliflozin (10mg hoặc 25mg) đã được đánh giá trong một nghiên cứu mù đôi, có đối chứng với giả dược kéo dài 12 tuần ở những bệnh nhân đái tháo đường typ 2 và tăng huyếp áp đang sử dụng thuốc chống đái tháo đường khác và với tối đa 2 loại thuốc chống tăng huyết áp (Bảng 14). Điều trị với empagliflozin một lần mỗi ngày dẫn đến cải thiện HbA1c có ý nghĩa thống kê, huyết áp tâm thu và tâm trương 24 giờ khi xác định bằng thiết bị đo huyết áp tự động. Điều trị với empagliflozin làm giảm huyết áp tâm thu ở tư thế ngồi (thay đổi so với thời điểm ban đầu, giảm 0,67 mmHg khi dùng giả dược, giảm 4,60 mmHg khi dùng empagliflozin 10mg và giảm 5,47 mmHg khi dùng empagliflozin 25mg) và huyết áp tâm trương ở tư thế ngồi (thay đổi so với thời điểm ban đầu, giảm 1,13 mmHg khi dùng giả dược, giảm 3,06 mmHg khi dùng empagliflozin 10mg và giảm 3,02 mmHg khi dùng empagliflozin 25mg).
- xem Bảng 14.

Image from Drug Label Content

Trong một phân tích gộp đã định trước cho 4 nghiên cứu có đối chứng với giả dược, điều trị với empagliflozin dẫn đến giảm huyết áp tâm thu (empagliflozin 10mg làm giảm 3,9 mmHg, empagliflozin 25mg giảm 4,3 mmHg) so với giả dược (giảm 0,5 mmHg) và giảm huyết áp tâm trương (empagliflozin 10mg giảm 1,8 mmHg, empagliflozin 25mg giảm 2,0 mmHg) so với giả dược (giảm 0,5 mmHg) ở tuần thứ 24 và duy trì cho đến tuần thứ 52.
Các kết quả xét nghiệm
Tăng hematocrit
Kết quả của phân tích gộp về tính an toàn (gộp tất cả bệnh nhân mắc đái tháo đường, n=13.402) cho thấy giá trị hematocrit thay đổi trung bình là 3,4% và 3,6% tương ứng ở nhóm sử dụng empagliflozin 10mg và 25mg so với giá trị ban đầu, trong khi đó ở nhóm sử dụng giả dược giá trị này là -0,1%. Trong nghiên cứu EMPA-REG OUTCOME®, giá trị hematocrit trở về ban đầu sau khoảng 30 ngày sau khi ngừng điều trị.
Tăng lipid máu
Kết quả của phân tích gộp về tính an toàn (gộp tất cả bệnh nhân mắc đái tháo đường, n=13.402) cho thấy ở nhóm sử dụng empagliflozin 10mg và 25mg, giá trị cholesterol toàn phần tăng tương ứng 4,9% và 5,7% so với nhóm chứng là 3,5%, giá trị HDL-cholesterol tăng tương ứng 3,3% và 3,6% so với nhóm chứng là 0,4%, giá trị LDL-cholesterol tăng 9,5% và 10,0% so với nhóm chứng là 7,5%, giá trị triglycerid tăng 9,2% và 9,9% so với ở nhóm chứng là 10,5%.
Tác dụng trên tim mạch
Nghiên cứu EMPA-REG OUTCOME® là thử nghiệm lâm sàng đa trung tâm, đa quốc gia, ngẫu nhiên, mù đôi có đối chứng đánh giá tác dụng của JARDIANCE với vai trò bổ trợ cho điều trị chuẩn trong việc làm giảm biến cố tim mạch ở bệnh nhân đái tháo đường type 2 và có một hoặc nhiều yếu tố nguy cơ tim mạch, bao gồm bệnh mạch vành, bệnh mạch ngoại vi, tiền sử nhồi máu cơ tim hoặc tiền sử đột quỵ. Tiêu chí chính của nghiên cứu là thời gian xuất hiện đầu tiên của một trong các biến cố: tử vong do bệnh tim mạch, nhồi máu cơ tim không tử vong hoặc đột quỵ không tử vong (Biến cố Tim mạch chính (MACE-3)). Các tiêu chí bổ sung là các tiêu chí có ý nghĩa lâm sàng bao gồm: tử vong do bệnh tim mạch, tiêu chí gộp của nhập viện do suy tim hoặc tử vong do bệnh tim mạch, tử vong do mọi nguyên nhân và tiêu chí gộp của bệnh thận mới hoặc tiến triển.
Tổng số 7020 bệnh nhân được điều trị bằng JARDIANCE (empagliflozin 10mg: 2345, empagliflozin 25mg: 2342, giả dược: 2333) và theo dõi trong thời gian có trung vị là 3,1 năm. Quần thể bệnh nhân nghiên cứu gồm 72,4% người da trắng, 21,6% người châu Á và 5,1% người da đen. Độ tuổi trung bình là 63 và 72,4% bệnh nhân là nam giới. Tại thời điểm ban đầu, xấp xỉ 81% bệnh nhân được điều trị bằng thuốc ức chế hệ renin-angiotensin, 65% điều trị bằng thuốc chẹn beta, 43% sử dụng thuốc lợi tiểu, 89% sử dụng thuốc chống đông và 81% sử dụng thuốc hạ lipid máu. Khoảng 74% bệnh nhân được sử dụng metformin, 48% sử dụng insulin và 43% sử dụng các sulfonylure.
Khoảng một nửa số bệnh nhân (52,2%) có eGFR trong khoảng 60-90 mL/phút/1,73m2, 17,8% trong khoảng 45-60 mL/phút/1,73m2 và 7,7% trong khoảng 30-45 mL/phút/1,73m2. Giá trị trung bình của huyết áp tâm thu là 136 mmHg, huyết áp tâm trương là 76 mmHg, LDL 86 mg, HDL 44 mg/dL và tỷ số albumin niệu/creatinin (UARC) là 175 mg/g tại thời điểm ban đầu.
Mức độ giảm nguy cơ tử vong do bệnh tim mạch và tử vong do mọi nguyên nhân
JARDIANCE vượt trội trong làm giảm tiêu chí chính, là tiêu chí gộp của tử vong, nhồi máu cơ tim không tử vong và đột quỵ không tử vong so với placebo. Thuốc làm giảm có ý nghĩa thống kê tỷ lệ tử vong do bệnh tim mạch, nhưng ít thay đổi nguy cơ nhồi máu cơ tim không tử vong và nguy cơ đột quỵ không tử vong (Bảng 15 và Hình 1).
JARDIANCE cũng đồng thời cải thiện thời gian sống thêm (Bảng 15 và Hình 2), do làm giảm tỷ lệ tử vong do bệnh tim mạch. Không có sự khác biệt có ý nghĩa thống kê giữa empagliflozin và placebo trong việc làm giảm tỷ lệ tử vong do các bệnh khác.
- xem Bảng 15, Hình 1 & Hình 2.

Image from Drug Label Content


Image from Drug Label Content


Image from Drug Label Content

Giảm nguy cơ suy tim cần nhập viện hoặc tử vong do bệnh tim mạch
JARDIANCE làm giảm rõ rệt nguy cơ nhập viện do suy tim và tử vong do bệnh tim mạch hoặc nhập viện do suy tim so với giả dược (Bảng 16 và Hình 3).
- xem Bảng 16 & Hình 3.

Image from Drug Label Content


Image from Drug Label Content

Lợi ích trên tim mạch của JARDIANCE ghi nhận thống nhất qua các phân tích dưới nhóm được thể hiện trong Hình 4.
- xem Hình 4.

Image from Drug Label Content

Bệnh thận đái tháo đường
Trong quần thể nghiên cứu của thử nghiệm EMPA-REG OUTCOME®, nguy cơ xuất hiện bệnh thận mới mắc hoặc tiến triển (được định nghĩa là xuất hiện albumin niệu đại thể, creatinin huyết thanh tăng gấp đôi và bắt đầu sử dụng liệu pháp thay thế thận (lọc máu)) giảm một cách có ý nghĩa ở nhóm sử dụng empagliflozin so với giả dược (Bảng 17 và Hình 5).
JARDIANCE cho tỷ lệ bệnh nhân có albumin niệu đại thể tại thời điểm ban đầu trở thành albumin niệu vi thể hoặc albumin niệu bình thường cao hơn rõ rệt so với nhóm dùng giả dược (Tỷ số nguy cơ 1,82, KTC 95% 1,40; 2,37).
- xem Bảng 17 & Hình 5.

Image from Drug Label Content


Image from Drug Label Content

Nhóm được điều trị bằng empagliflozin có eGFR bảo tồn và eGFR tăng trong 4 tuần theo dõi sau khi ngừng điều trị. Tuy nhiên, nhóm sử dụng giả dược có eGFR giảm dần trong quá trình nghiên cứu và không thay đổi trong 4 tuần theo dõi sau khi ngừng điều trị.
- xem Hình 6.

Image from Drug Label Content

Nghiên cứu QTc
Trong một nghiên cứu chéo đôi ngẫu nhiên, có đối chứng giả dược và so sánh với chất có hoạt tính trên 30 đối tượng nghiên cứu khỏe mạnh, cả mức liều 25 mg và 200 mg empagliflozin đều không làm tăng QTc.
Register or sign in to continue
Asia's one-stop resource for medical news, clinical reference and education
Already a member? Sign in
Register or sign in to continue
Asia's one-stop resource for medical news, clinical reference and education
Already a member? Sign in