Luvox

Luvox

fluvoxamine

Nhà sản xuất:

Mylan Laboratories SAS

Nhà phân phối:

Abbott
Thông tin kê toa chi tiết tiếng Việt
Thành phần
Mỗi viên: Fluvoxamine maleate 100 mg.
Mô tả
Viên nén bao phim hình oval, hai mặt lồi, có khía, màu trắng đến trắng nhạt dùng đường uống. Có thể bẻ viên nén thành hai phần bằng nhau.
Thành phần tá dược:
Nhân viên: mannitol (E421), tinh bột ngô, tinh bột tiền gelatin hóa, natri stearyl fumarate, keo sillic khan.
Bao phim: hypromellose, polyethylene glycol 6000, bột talc, titaniumdioxyde (E171).
Dược lực học
Nhóm dược lý-điều trị: Thuốc chống trầm cảm, thuốc ức chế chọn lọc sự tái thu hồi serotonin (SSRI).
Mã ATC: N06AB08
Các nghiên cứu về gắn kết thụ thể đã chứng minh rằng fluvoxamine là chất ức chế tái thu hồi serotonin mạnh ở nghiên cứu in vitro cũng như in vivo và có ái lực thấp với các phân nhóm thụ thể serotonin. Khả năng gắn kết của fluvoxamine vào các thụ thể alpha adrenergic, beta adrenergic, histaminergic, muscarinic, cholinergic hoặc dopaminergic không đáng kể.
Fluvoxamine có ái lực cao với thụ thể sigma-1, với vai trò là một chất chủ vận ở liều điều trị.
Dược động học
Hấp thu
Fluvoxamine được hấp thu hoàn toàn khi uống. Nồng độ đỉnh trong huyết tương đạt được trong 3-8 giờ sau dùng thuốc. Sinh khả dụng tuyệt đối trung bình là 53% do có chuyển hóa ban đầu.
Dược động học của Luvox không chịu ảnh hưởng khi dùng trong bữa ăn.
Phân bố
Trong nghiên cứu in vitro, fluvoxamine gắn với protein huyết tương là 80%. Thể tích phân bố (Vd) ở người là 25 lít/kg.
Chuyển hóa
Fluvoxamine chuyển hóa chính qua gan. Mặc dù nghiên cứu in vitro cho thấy CYP2D6 là isoenzyme chính tham gia vào chuyển hóa fluvoxamine, nhưng nồng độ thuốc trong huyết tương của những người chuyển hóa yếu qua xúc tác CYP2D6 không cao hơn nhiều so với những người chuyển hóa tốt qua isoenzyme này.
Thời gian bán thải trung bình trong huyết tương là khoảng 13-15 giờ sau khi dùng liều đơn fluvoxamine, và kéo dài hơn (17-22 giờ) khi dùng liều lặp lại. Nồng độ thuốc trong huyết tương đạt trạng thái ổn định trong 10-14 ngày.
Fluvoxamine chuyển hóa mạnh qua gan, chủ yếu qua sự oxy hóa khử methyl và tạo ít nhất 9 chất chuyển hóa, rồi đào thải qua thận. Hai chất chuyển hóa chính cho thấy hoạt tính dược lý không đáng kể. Các chất chuyển hóa khác có thể không có hoạt tính dược lý.
Fluvoxamine là chất ức chế mạnh CYP1A2 và CYP2C19; ức chế vừa phải đối với CYP2C9, CYP2D6 và CYP3A4.
Fluvoxamine có dược động học tuyến tính khi dùng liều đơn. Các nồng độ ở trạng thái ổn định cao hơn các nồng độ tính toán từ dữ liệu dùng liều đơn và việc tăng không theo tỷ lệ này càng rõ hơn khi dùng liều hàng ngày cao hơn.
Các đối tượng đặc biệt
Dược động học của fluvoxamine tương đương ở người lớn khỏe mạnh, bệnh nhân cao tuổi và bệnh nhân suy thận. Chuyển hóa của fluvoxamine bị suy yếu ở bệnh nhân suy gan.
Nồng độ của fluvoxamine trong huyết tương lúc trạng thái ổn định ở trẻ em (6-11 tuổi) cao gấp 2 lần so với thanh thiếu niên (12-17 tuổi). Nồng độ thuốc trong huyết tương của thanh thiếu niên tương đương người lớn.
An toàn tiền lâm sàng
Khả năng gây ung thư và gây đột biến
Không có bằng chứng về khả năng gây ung thư hoặc gây đột biến với fluvoxamine.
Khả năng sinh sản và độc tính thai sản
Các nghiên cứu sinh sản ở động vật cho thấy khả năng sinh sản bị suy giảm, tăng tử vong phôi thai và giảm trọng lượng thai nhi. Các ảnh hưởng đã được quan sát thấy ở liều gấp 2 lần liều điều trị ở người. Ngoài ra, tỷ lệ tử vong trẻ sơ sinh tăng lên ở nghiên cứu tiền và hậu sinh cũng đã được ghi nhận.
Sự phụ thuộc về thể chất và tâm lý
Khả năng lạm dụng, dung nạp và lệ thuộc về thể chất đã được nghiên cứu ở mô hình loài linh trưởng không phải người. Kết quả là không tìm thấy bằng chứng về sự phụ thuộc.
Chỉ định/Công dụng
Cơn trầm cảm chủ yếu.
Rối loạn ám ảnh cưỡng chế (OCD).
Liều dùng/Hướng dẫn sử dụng
Trầm cảm
Liều khởi đầu khuyến cáo là 50 hoặc 100 mg, nên dùng đơn liều vào buổi tối. Bác sỹ có thể tăng liều dần dần đến khi đạt được liều có hiệu lực. Liều có hiệu lực thường là 100 mg mỗi ngày và nên được điều chỉnh dựa trên đáp ứng của từng bệnh nhân. Liều dùng hàng ngày không nên cao hơn 300 mg. Liều lớn hơn 150 mg nên được chia thành nhiều liều nhỏ.
Theo hướng dẫn của Tổ chức Y tế thế giới, nên tiếp tục dùng thuốc chống trầm cảm trong ít nhất là 6 tháng sau khi hồi phục khỏi cơn trầm cảm. Ngoài ra, một liều hàng ngày cố định 100 mg được khuyến cáo để dự phòng trầm cảm tái phát.
Rối loạn ám ảnh cưỡng chế
Người lớn

Liều khởi đầu được khuyến cáo là 50 mg/ngày trong 3-4 ngày. Liều có hiệu lực thường từ 100 mg đến 300 mg mỗi ngày. Bác sỹ nên tăng liều dần đến khi đạt được liều có hiệu lực, tối đa là 300 mg mỗi ngày.
Liều lên đến 150 mg có thể dùng đơn liều, tốt nhất uống vào buổi tối. Liều hàng ngày lớn hơn 150 mg nên chia thành 2 hoặc 3 liều nhỏ hơn.
Nếu bệnh nhân đáp ứng tốt với thuốc, có thể tiếp tục điều trị ở liều đã điều chỉnh trên mỗi cá nhân. Nếu không có cải thiện trong vòng 10 tuần, bác sỹ nên cân nhắc lại việc điều trị với fluvoxamine. Mặc dù chưa có các nghiên cứu hệ thống chỉ ra rằng việc điều trị với fluvoxamine kéo dài trong bao lâu, nhưng vì OCD là tình trạng mãn tính, nên việc cân nhắc tiếp tục điều trị trên 10 tuần ở những bệnh nhân đáp ứng là hợp lý. Liều dùng nên được điều chỉnh cẩn trọng dựa trên từng bệnh nhân để đảm bảo liều thấp nhất có hiệu quả. Quá trình điều trị của bệnh nhân nên được bác sỹ đánh giá định kỳ. Nhiều bệnh nhân được khuyến cáo trị liệu thêm tâm lý hành vi khi có đáp ứng tốt với liệu pháp dùng thuốc.
Trẻ em và thanh thiếu niên
Liều khởi đầu khuyến cáo cho trẻ em trên 8 tuổi và thanh thiếu niên là 25 mg/ngày, nên uống vào buổi tối trước khi đi ngủ. Tăng liều dần thêm 25 mg cho mỗi 4-7 ngày tùy vào mức độ dung nạp cho đến khi đạt được liều điều trị có hiệu lực. Liều điều trị có hiệu lực thường từ 50 mg đến 200 mg mỗi ngày, liều tối đa ở trẻ em không nên vượt quá 200 mg/ngày. Nếu liều hàng ngày lớn hơn 50 mg/ngày, nên chia thành 2 liều để uống. Nếu 2 liều không bằng nhau thì nên dùng liều lớn hơn vào buổi tối trước khi đi ngủ.
Các triệu chứng cai thuốc gặp phải khi ngưng dùng fluvoxamine
Cần tránh dừng điều trị đột ngột. Khi ngưng dùng fluvoxamine, liều dùng nên được giảm từ từ trong một khoảng thời gian ít nhất là 1 hoặc 2 tuần để giảm nguy cơ các phản ứng cai thuốc (xem mục Cảnh báo và thận trọng và mục Tác dụng không mong muốn). Nếu các triệu chứng không dung nạp thuốc xảy ra sau giảm liều hoặc ngưng điều trị thì cân nhắc kê lại liều dùng trước. Sau đó, bác sỹ có thể tiếp tục giảm liều nhưng mức độ từ từ hơn.
Suy gan hoặc suy thận
Bệnh nhân đang bị suy gan hoặc suy thận nên bắt đầu với liều thấp Luvox và phải được theo dõi cẩn thận.
CÁCH DÙNG
Fluvoxamine dạng viên nén nên uống với nước và không nhai viên thuốc.
Chống chỉ định
Không dùng Luvox nếu bệnh nhân bị dị ứng (mẫn cảm) với hoạt chất hoặc bất kì tá dược nào.
Chống chỉ định Luvox kết hợp với tizanidine và các chất ức chế monoamine oxidase (MAOI) (xem mục Tương tác).
Điều trị với fluvoxamine có thể được bắt đầu:
- Sau 2 tuần ngưng dùng MAOIs không hồi phục, hoặc
- Vào ngày tiếp theo sau khi ngưng dùng MAOIs hồi phục (ví dụ moclobemide, linezolid).
Nên ngưng dùng fluvoxamine ít nhất 1 tuần trước khi bắt đầu điều trị với bất kỳ MAOI nào.
Fluvoxamine dạng viên giải phóng nhanh không nên dùng chung với pimozide và ramelteon (xem mục Tương tác).
Cảnh báo và thận trọng
Tự vẫn/ý tưởng tự vẫn hoặc triệu chứng lâm sàng xấu đi
Trầm cảm liên quan tới tăng nguy cơ có ý tưởng tự vẫn, tự hại và tự vẫn (những sự việc liên quan đến tự vẫn). Nguy cơ này tồn tại cho tới khi có thuyên giảm rõ rệt. Vì sự cải thiện bệnh có thể chưa đạt được trong vài tuần đầu điều trị hoặc lâu hơn, nên theo dõi bệnh nhân cẩn thận cho tới khi bệnh cải thiện. Theo kinh nghiệm chung trên lâm sàng, nguy cơ tự vẫn có thể tăng trong giai đoạn sớm của quá trình bình phục.
Các tình trạng tâm thần khác (mà được kê fluvoxamine) có thể liên quan với tăng nguy cơ xảy ra các sự việc liên quan tới tự vẫn. Ngoài ra, những tình trạng này lại có thể cùng mắc với rối loạn trầm cảm chủ yếu. Do vậy, cần theo dõi thận trọng khi điều trị bệnh nhân có các rối loạn tâm thần khác.
Những bệnh nhân tiền sử có các hiện tượng liên quan tới tự vẫn hoặc có mức độ báo động về ý tự vẫn trước khi điều trị sẽ có nguy cơ lớn hơn về ý tưởng tự vẫn và mưu đồ cố gắng tự vẫn, vì vậy cần theo dõi đặc biệt trong quá trình điều trị.
Đặc biệt giám sát chặt chẽ những bệnh nhân có nguy cơ cao trong giai đoạn bắt đầu điều trị và trong khi thay đổi liều lượng. Bệnh nhân (và người chăm sóc bệnh nhân) nên được thông báo để theo dõi các dấu hiệu lâm sàng nặng hơn, hành vi/ý tưởng tự vẫn hoặc những thay đổi bất thường về hành vi, lập tức xin ý kiến bác sỹ nếu những triệu chứng này xảy ra.
Trẻ em
Fluvoxamine không nên được sử dụng trong điều trị bệnh ở trẻ em và thanh thiếu niên dưới 18 tuổi trừ khi bị rối loạn ám ảnh cưỡng bức.
Không khuyến cáo dùng fluvoxamine trong điều trị trầm cảm cho trẻ em vì thiếu kinh nghiệm lâm sàng trong điều trị.
Trong các nghiên cứu lâm sàng, trẻ em và thiếu niên được điều trị bằng thuốc trầm cảm có nhiều hành vi liên quan tự vẫn (ý tưởng/hoặc cố gắng tự vẫn) và biểu hiện thù địch (chủ yếu là gây hấn, tức giận và hành vi chống đối) hơn những trẻ em và thanh thiếu niên dùng giả dược. Khi nhu cầu lâm sàng cần đưa ra quyết định điều trị với fluvoxamine, nên theo dõi bệnh nhân chặt chẽ về các dấu hiệu muốn tự vẫn.
Hơn nữa, chưa có dữ liệu về an toàn dài hạn đối với sự tăng trưởng, trưởng thành và phát triển về nhận thức và hành vi ở trẻ em và thanh thiếu niên khi dùng fluvoxamine.
Người trẻ tuổi (18 đến 24 tuổi)
Một phân tích tổng hợp các nghiên cứu lâm sàng có đối chứng giả dược, người lớn dưới 25 tuổi bị rối loạn tâm thần có nguy cơ gia tăng hành vi tự vẫn khi dùng các thuốc chống trầm cảm so với dùng giả dược.
Người cao tuổi
Dữ liệu trên người cao tuổi không khác biệt có ý nghĩa lâm sàng so với người trẻ ở liều dùng hàng ngày. Tuy nhiên, chỉnh liều trên người cao tuổi nên chậm hơn và thực hiện cẩn trọng.
Chứng không yên/hiếu động bồn chồn về tâm thần vận động
Sử dụng fluvoxamine có liên quan đến phát triển chứng không yên, đặc trưng bởi sự bồn chồn khó chịu hoặc đau buồn và cần di chuyển thường xuyên kèm với mất khả năng đứng ngồi yên tĩnh. Phản ứng này hay gặp trong những tuần đầu tiên điều trị. Tăng liều thuốc có thể bất lợi nếu bệnh nhân gặp những triệu chứng này.
Suy gan và suy thận
Bệnh nhân bị suy gan hoặc suy thận nên khởi đầu với liều thấp và phải được giám sát cẩn thận.
Hiếm khi điều trị bằng fluvoxamine có liên quan đến tăng men gan. Trường hợp có tăng thường kèm theo các triệu chứng lâm sàng. Trong những trường hợp này nên ngưng điều trị.
Rối loạn hệ thần kinh
Mặc dù trong các nghiên cứu trên động vật fluvoxamine không gây co giật, bác sỹ nên cẩn trọng trước khi kê fluvoxamine cho bệnh nhân có tiền sử rối loạn co giật. Nên tránh dùng fluvoxamine cho bệnh nhân có động kinh không ổn định và với bệnh nhân động kinh có kiểm soát nên được theo dõi cẩn thận. Nên ngừng điều trị  với fluvoxamine nếu bệnh nhân gặp cơn co giật hoặc nếu tăng tần suất cơn co giật.
Hiếm gặp các báo cáo về phát triển hội chứng serotonin hoặc biểu hiện giống hội chứng rối loạn thần kinh ác tính do thuốc an thần khi điều trị bằng fluvoxamine, đặc biệt là khi phối hợp với các thuốc serotonergic và/hoặc các thuốc an thần khác (xem mục Tương tác). Các hội chứng đặc trưng bởi các triệu chứng gồm sốt cao, cứng đờ, co giật cơ, rối loạn thần kinh tự chủ gồm biến động nhanh các dấu hiệu sinh tồn, thay đổi tri giác gồm lú lẫn, kích thích, kích động, lơ mơ và hôn mê. Vì các hội chứng này có nguy cơ đe dọa tính mạng, nên ngừng dùng fluvoxamine khi có các hiện tượng này và ưu tiên điều trị triệu chứng trước.
Rối loạn chuyển hóa và dinh dưỡng
Cũng như các thuốc ức chế chọn lọc tái thu hồi serotonin (SSRIs) khác, hạ natri máu được báo cáo trong vài trường hợp hiếm gặp và tình trạng này có thể được hồi phục khi ngừng điều trị fluvoxamine. Một vài trường hợp liên quan đến hội chứng rối loạn bài tiết hormon chống lợi tiểu. Phần lớn các báo cáo này xảy ra ở bệnh nhân cao tuổi.
Rối loạn đường huyết có thể xảy ra (ví dụ tăng đường huyết, hạ đường huyết, giảm hấp thu glucose), đặc biệt trong giai đoạn đầu điều trị. Bệnh nhân có tiền căn tiểu đường, nên chỉnh liều các thuốc điều trị tiểu đường trong khi dùng cùng fluvoxamine.
Buồn nôn, đôi khi kèm nôn là những tác dụng phụ thường gặp nhất có liên quan đến điều trị bằng fluvoxamine. Tuy nhiên, tác dụng này thường dịu đi trong hai tuần đầu của quá trình điều trị.
Rối loạn mắt
Tật giãn đồng tử đã được báo cáo có liên quan đến SSRIs như fluvoxamine. Do vậy cần thận trọng khi kê đơn fluvoxamine cho bệnh nhân bị tăng áp suất trong mắt hoặc có nguy cơ tăng nhãn áp góc đóng cấp tính.
Rối loạn huyết học
Đã gặp các trường hợp bất thường về chảy máu ở da như bầm máu và ban xuất huyết cũng như các biểu hiện chảy máu khác như xuất huyết tiêu hóa hoặc xuất huyết phụ khoa sau khi dùng SSRIs. Cần thận trọng khi dùng SSRIs, đặc biệt nếu bệnh nhân là người cao tuổi hoặc bệnh nhân đang dùng thuốc tác động lên chức năng tiểu cầu (ví dụ thuốc an thần không điển hình, phenothiazine, thuốc chống trầm cảm 3 vòng (TCA), acetylsalicylic acid và thuốc chống viêm không steroid và thuốc làm tăng nguy cơ chảy máu). Cũng cần thận trọng nếu bệnh nhân có tiền sử với rối loạn chảy máu hoặc bất kỳ điều kiện dẫn tới nguy cơ đó, ví dụ giảm tiểu cầu hoặc rối loạn đông máu.
Rối loạn tim
Khi dùng cùng fluvoxamine, nồng độ trong huyết tương của terfenadine, astemizole hoặc cisapride có thể tăng lên, dẫn tới nguy cơ kéo dài khoảng QT/ xoắn đỉnh). Do vậy, không nên kết hợp fluvoxamine với các thuốc này.
Fluvoxamine có thể làm giảm nhẹ nhịp tim (2-6 nhịp mỗi phút).
Liệu pháp sốc điện (ECT)
Kinh nghiệm lâm sàng còn hạn chế đối với việc dùng đồng thời fluvoxamine và sốc điện, do đó cần thận trọng.
Phản ứng cai thuốc
Có thể gặp những phản ứng cai thuốc khi bệnh nhân ngừng điều trị với fluvoxamine, mặc dù những bằng chứng tiền lâm sàng và lâm sàng không cho thấy dùng thuốc này gây phụ thuộc thuốc. Các triệu chứng được báo cáo khi ngưng dùng fluvoxamine gồm: choáng váng, các rối loạn về giác quan bao gồm dị cảm (cảm giác kiến bò/buồn buồn trên da), rối loạn thị giác và cảm giác sốc điện, rối loạn giấc ngủ (bao gồm chứng mất ngủ và các giấc mơ dữ dội), bối rối, dễ bị kích thích, lẫn lộn, cảm xúc bất ổn, đau đầu, buồn nôn và/hoặc nôn, tiêu chảy, đổ mồ hôi, hồi hộp, rùng mình và lo âu (xem mục Tác dụng không mong muốn). Nhìn chung, các triệu chứng này ở mức độ từ nhẹ đến trung bình và tự qua khỏi; tuy nhiên ở một số bệnh nhân có thể bị nặng và kéo dài. Điều này thường xảy ra trong vòng vài ngày đầu ngưng điều trị. Do vậy, cần giảm liều fluvoxamine từ từ trước khi dừng điều trị và theo đáp ứng của từng bệnh nhân (xem mục Liều lượng và cách dùng).
Hưng cảm/hưng cảm nhẹ
Fluvoxamine cần được dùng thận trọng ở bệnh nhân có tiền sử hưng cảm/hưng cảm nhẹ. Cần ngưng dùng fluvoxamine trên bệnh nhân bắt đầu biểu hiện tình trạng hưng cảm.
Rối loạn chức năng tình dục
Các chất ức chế chọn lọc sự tái thu hồi serotonin (SSRI) có thể gây ra các triệu chứng rối loạn chức năng tình dục (xem mục Tác dụng không mong muốn). Đã có các báo cáo về rối loạn chức năng tình dục kéo dài, khi các triệu chứng tiếp diễn mặc dù đã ngưng sử dụng SSRIs.
Ảnh hưởng của thuốc lên khả năng lái xe và vận hành máy móc
Fluvoxamine với liều đến 150 mg cho thấy không ảnh hưởng khả năng lái xe và vận hành máy móc ở những người tình nguyện khỏe mạnh. Tuy nhiên buồn ngủ đã được ghi nhận trong khi điều trị bằng fluvoxamine. Vì vậy, cần thận trọng cho đến khi xác định được đáp ứng của từng cá nhân đối với thuốc.
Sử dụng ở phụ nữ có thai & cho con bú
Mang thai
Dữ liệu dịch tễ cho thấy dùng SSRIs khi mang thai, đặc biệt cuối thai kỳ có thể tăng nguy cơ trẻ sinh ra bị tăng áp phổi dai dẳng (PPHN). Khoảng 5 trường hợp trong 1.000 thai phụ được quan sát có nguy cơ này. Nhìn chung, tỷ lệ từ 1 đến 2 trường hợp PPHN trong 1000 phụ nữ mang thai.
Không nên dùng fluvoxamine trong thời kỳ mang thai trừ khi tình trạng lâm sàng của thai phụ cần phải điều trị fluvoxamine.
Các triệu chứng cai thuốc ở trẻ mới sinh đã được mô tả khi fluvoxamine được dùng ở cuối thai kỳ. Những biểu hiện gồm khó khăn khi cho bú và/hoặc khi hô hấp, cơn co giật, không ổn định về thân nhiệt, hạ đường huyết, run, trương lực cơ bất thường, hốt hoảng, xanh tím, kích thích, lờ đờ, lơ mơ, nôn, khó ngủ và luôn khóc lóc sau khi mẹ dùng SSRIs 3 tháng cuối thai kỳ và có thể cần kéo dài thời gian nằm viện.
Bài tiết qua sữa mẹ
Fluvoxamine được bài tiết một lượng nhỏ qua sữa mẹ. Do vậy, không nên dùng thuốc cho phụ nữ đang cho con bú.
Khả năng sinh sản
Các nghiên cứu về độc tính sinh sản ở động vật đã chỉ ra rằng fluvoxamine làm suy giảm khả năng sinh sản ở nam và nữ. Tính xác đáng của các phát hiện này đối với người chưa được biết.
Fluvoxamine không nên dùng ở bệnh nhân đang muốn mang thai trừ khi tình trạng lâm sàng của các bệnh nhân cần được điều trị với fluvoxamine.
Tương tác
Các thuốc ức chế monoamine oxidase (MAOI)
Không phối hợp fluvoxamine với các thuốc MAOI, kể cả linezolid do nguy cơ về hội chứng serotonin (xem mục Chống chỉ định).
Ảnh hưởng của fluvoxamine trên chuyển hóa oxy hóa các thuốc khác
Fluvoxamine có thể ức chế chuyển hóa của các thuốc được chuyển hóa cố định bởi isoenzyme cytochrome P450 (CYPs). Khả năng ức chế mạnh CYP1A2 và CYP2C19 đã được chứng minh trong các nghiên cứu in vitroin vivo. Các isoenzyme CYP2C9, CYP2D6 và CYP3Y4 bị ức chế ở mức độ yếu hơn. Các thuốc mà được chuyển hóa mạnh qua các isoenzyme này có thể cho nồng độ cao hơn hoặc thấp hơn (ví dụ trường hợp của các tiền chất như clopidogrel) trong huyết tương của hoạt chất/chất chuyển hóa, khi chúng được dùng cùng với fluvoxamine. Việc điều trị fluvoxamine cùng với các thuốc này nên được bắt đầu ở liều thấp nhất ở mức điều trị của các thuốc này. Nồng độ thuốc trong huyết tương, ảnh hưởng hoặc các tác dụng bất lợi của các thuốc được dùng phối hợp cần được kiểm soát chặt chẽ và nên giảm liều/tăng liều dùng của các thuốc đó nếu cần.
Điều này có liên quan đặc biệt đối với những thuốc có chỉ số điều trị hẹp.
Ramelteon
Khi dùng viên nén fluvoxamine maleate 100 mg giải phóng tức thì, 2 lần mỗi ngày trong 3 ngày, sau đó dùng phối hợp 1 liều ramelteon 16 mg với viên nén fluvoxamine maleate giải phóng tức thì, diện tích dưới đường cong (AUC) của ramelteon tăng xấp xỉ 190 lần và Cmax tăng xấp xỉ 70 lần so với khi chỉ dùng ramelteon.
Phối hợp các thuốc có chỉ số điều trị hẹp
Cần theo dõi bệnh nhân cẩn thận khi dùng phối hợp fluvoxamine với các thuốc có chỉ số điều trị hẹp (như tacrine, theophylline, methadone, mexiletine, phenytoin, carbamazepin và cyclosporine) vì các thuốc này được chuyển hóa bởi các CYP có thể bị ức chế bởi fluvoxamine.
Khuyến cáo điều chỉnh liều các thuốc này nếu cần.
Do chỉ số điều trị hẹp của pimozide và khả năng kéo dài khoảng QT đã được ghi nhận, chống chỉ định sử dụng đồng thời pimozide và fluvoxamine (xem mục Chống chỉ định).
Thuốc chống trầm cảm 3 vòng và thuốc an thần
 Đã có báo cáo dùng fluvoxamine cùng các thuốc chống trầm cảm 3 vòng (ví dụ clomipramine, imipramine, amitriptyline) và các thuốc an thần (ví dụ clozapine, olazapine, quetiapine) làm tăng nồng độ thuốc trong huyết tương do các thuốc này được chuyển hóa chủ yếu bởi cytochrome P450 1A2. Nên cân nhắc giảm liều các thuốc này nếu ưu tiên hiệu quả điều trị của fluvoxamine.
Benzodiazepine
Nồng độ trong huyết tương của các benzodiazepine chuyển hóa bởi quá trình oxy hóa (ví dụ triazolam, midazolam, alprazolam và diazepam) có thể tăng hơn khi dùng kết hợp fluvoxamine. Nên giảm liều các benzodiazepine này khi điều trị cùng với fluvoxamine.
Các trường hợp tăng nồng độ thuốc trong huyết tương
Nồng độ của ropinirol trong huyết tương có thể tăng khi được phối hợp với fluvoxamine, vì vậy tăng nguy cơ quá liều. Với các nguyên nhân này, bác sỹ cần theo dõi chặt chẽ và giảm liều ropinirol (trong cả thời gian điều trị bằng fluvoxamine và sau khi ngưng dùng thuốc).
Vì nồng độ propranolol trong huyết tương tăng khi phối hợp với fluvoxamine, cần giảm liều propranolol khi dùng chung.
Khi sử dụng cùng với fluvoxamine, nồng độ warfarin trong huyết tương tăng đáng kể và kéo dài thời gian prothrombin.
Các trường hợp làm tăng tác dụng phụ
Có gặp một số trường hợp riêng biệt về độc tính trên tim khi phối hợp fluvoxamine với thioridazine.
Nồng độ caffeine trong máu sẽ tăng hơn khi đang điều trị bằng fluvoxamine. Vì thế, bệnh nhân đang tiêu thụ nhiều thức uống có chứa caffein nên giảm lượng dùng khi điều trị fluvoxamine để tránh các tác dụng không mong muốn của caffeine (như run, tim đập nhanh, buồn nôn, bồn chồn và mất ngủ).
Terfenadine, astemizole, cisapride, sidenafil: xem mục Cảnh báo và thận trọng.
Sự glucuronid hóa
Fluvoxamine không có ảnh hưởng tới các nồng độ của digoxin trong huyết tương.
Đào thải qua thận
Fluvoxamine không gây ảnh hưởng tới nồng độ atenolol trong huyết tương.
Tương tác dược lực
Tác dụng serotonergic của fluvoxamine có thể tăng lên khi phối hợp với các chất serotonergic (bao gồm các triptan, tramadol, SSRI, các chế phẩm St. John's Wort) (xem mục Cảnh báo và thận trọng).
Fluvoxamine phối hợp với lithium đã được dùng trong việc điều trị các bệnh nhân nặng, kháng thuốc. Vì lithium (và có thể cả tryptophan) làm tăng tác dụng serotonergic của fluvoxamine, nên kết hợp này cần thận trọng đối với các bệnh nhân nặng và đề kháng thuốc.
Bệnh nhân đang dùng thuốc uống chống đông máu cùng với fluvoxamine cần được bác sỹ theo dõi cẩn trọng vì có thể tăng nguy cơ chảy máu.
Cũng như các thuốc điều trị tâm thần khác, không uống rượu khi đang dùng fluvoxamine.
Tương kỵ
Không áp dụng đối với thuốc viên.
Tác dụng không mong muốn
Những tác dụng phụ được ghi nhận trong các nghiên cứu lâm sàng ở những tần suất được liệt kê dưới dây, thường có liên quan đến bệnh trầm cảm và không nhất thiết liên quan đến việc điều trị.
Tần suất ước tính: rất thường gặp (> 1/10), thường gặp (> 1/100 đến < 1/10), ít gặp (> 1/1.000 đến < 1/100), hiếm gặp (> 1/10.000 đến < 1/1.000), rất hiếm gặp (< 1/10.000), không được biết (không thể ước tính từ các dữ liệu hiện có)

Image from Drug Label Content

Các triệu chứng cai thuốc gặp phải khi ngưng điều trị fluvoxamine
Ngưng dùng fluvoxamine (đặc biệt là đột ngột) thường dẫn tới các triệu chứng cai thuốc. Do vậy, khi không cần điều trị với fluvoxamine, nên giảm liều dần trước khi ngưng thuốc (xem mục Liều lượng và Cách dùng và mục Cảnh báo và thận trọng).
Quá liều
Triệu chứng
Triệu chứng được báo cáo gồm các vấn đề dạ dày-ruột (buồn nôn, nôn và tiêu chảy), buồn ngủ, choáng váng. Biến cố tim mạch (nhịp tim nhanh, nhịp tim chậm, hạ huyết áp), rối loạn chức năng gan, co giật và hôn mê.
Fluvoxamine có khoảng an toàn rộng khi dùng quá liều. Kể từ khi được lưu hành trên thị trường, rất hiếm gặp báo cáo tử vong khi dùng quá liều. Liều fluvoxamine cao nhất được biết bệnh nhân đã uống là 12 gram. Bệnh nhân này đã hồi phục hoàn toàn. Đôi khi, các biến chứng nghiêm trọng hơn đã được ghi nhận trong trường hợp cố ý dùng quá liều fluvoxamine kết hợp với các thuốc khác.
Điều trị
Không có thuốc giải độc đặc hiệu đối với fluvoxamine. Trong trường hợp quá liều phải rửa dạ dày càng sớm càng tốt sau khi uống và bắt đầu điều trị triệu chứng hỗ trợ.
Sử dụng than hoạt nhiều lần kết hợp với nhuận tràng thẩm thấu (nếu cần) cũng được khuyến cáo. Lợi niệu hay lọc máu không rõ mang lại kết quả.
Bảo quản
Không bảo quản trên 30°C. Giữ thuốc trong bao bì gốc, ở nơi khô ráo và tránh ánh sáng.
Hạn dùng: 24 tháng kể từ ngày sản xuất.
Phân loại MIMS
Thuốc chống trầm cảm
Phân loại ATC
N06AB08 - fluvoxamine ; Belongs to the class of selective serotonin reuptake inhibitors. Used in the management of depression.
Trình bày
Viên nén bao phim: hộp 2 vỉ x 15 viên.
Register or sign in to continue
Asia's one-stop resource for medical news, clinical reference and education
Already a member? Sign in
Register or sign in to continue
Asia's one-stop resource for medical news, clinical reference and education
Already a member? Sign in