MabThera

MabThera Dược động học

rituximab

Nhà sản xuất:

Roche
Thông tin kê toa chi tiết tiếng Việt
Dược động học
Hấp thu
Dạng tiêm dưới da (1400mg)

SparkThera (BP22333)
MabThera với liều cố định 1400 mg được tiêm dưới da trong thời gian duy trì, sau khi dùng ít nhất một chu kỳ MabThera tiêm tĩnh mạch với liều 375 mg/m2, ở những bệnh nhân FL người trước đây đã đáp ứng với MabThera tiêm tĩnh mạch trong lúc điều trị tấn công. Trị số trung bình dự đoán Cmax ở phác đồ mỗi hai tháng (q2m) MabThera tiêm dưới da và phác đồ mỗi hai tháng MabThera tiêm tĩnh mạch tương đương nhau là 201 và 209 μg/mL. Tương tự, phác đồ mỗi 3 tháng MabThera tiêm dưới da và phác đồ mỗi 3 tháng MabThera tiêm tĩnh mạch có trị số trung bình dự đoán Cmax tương đương nhau là 189 và 184 μg/mL. Các Tmax trung bình trong MabThera tiêm dưới da là khoảng 3 ngày so với Tmax vào lúc kết thúc hoặc gần kết thúc truyền đối với nhóm MabThera tiêm mạch.
SABRINA (BO22334)
MabThera với liều cố định 1400 mg được dùng 6 chu kỳ tiêm dưới da trong điều trị tấn công mỗi 3 tuần, sau chu kỳ đầu tiên dùng MabThera tiêm tĩnh mạch với liều 375 mg/m2, ở những bệnh nhân FL chưa được điều trị trước đó, kết hợp với hóa trị liệu.
Cmax của rituximab trong huyết thanh ở chu kỳ 7 tương tự nhau giữa hai nhóm điều trị, với các giá trị trung bình nhân (CV%) của MabThera tiêm mạch và MabThera tiêm dưới da lần lượt là 250,63 (19,01) μg/mL và 236,82 (29,41) μg/mL, tương ứng với kết quả tỷ lệ trung bình nhân (Cmax, SC/Cmax, IV) là 0,941 (CI 90%: 0,872, 1,015).
Dựa trên một phân tích dược động học dân số, tỷ lệ sinh khả dụng tuyệt đối đã được ước tính là 71% (95% CI: 70,0-72,1).
Phân bố
U lympho không Hodgkin
Dạng tiêm truyền tĩnh mạch
Dựa trên phân tích dược động học dân số ở 298 bệnh nhân u lympho không Hodgkin sử dụng nhiều đợt tiêm truyền MabThera IV đơn trị hay phối hợp với CHOP, ước tính điển hình của thanh thải không chuyên biệt (CL1), thanh thải chuyên biệt (CL2) có thể bị ảnh hưởng bởi số lượng tế bào B hay kích thước khối u, và thể tích phân phối khoang trung tâm (V1) lần lượt là 0,14 L/ngày, 0,59 L/ngày, và 2,7 L/ngày.
Ước tính trung vị thời gian bán thải pha cuối của rituximab là 22 ngày (trong khoảng 61 đến 52 ngày). Số lượng tế bào có CD19 dương tính lúc ban đầu và kích thước của khối u cũng ảnh hưởng đến sự biến thiên của thanh thải chuyên biệt CL2 của rituximab ghi nhận từ 161 bệnh nhân sử dụng 375 mg/m2 tiêm truyền trong 4 tuần. Bệnh nhân có CL2 cao khi có số tế bào CD19 dương tính cao hay khối u lớn. Tuy nhiên, phần lớn những biến thiên giữa các cá thể về CL2 vẫn tồn tại sau khi điều chỉnh số lượng tế bào CD19 dương tính và kích thước khối u. V1 thay đổi theo diện tích bề mặt cơ thể (BSA) và điều trị CHOP. Sự biến thiên của V1 (27,1% và 19,0%) do sự thay đổi của diện tích bề mặt cơ thể (trong khoảng 1,53 đến 2,32 m2) và điều trị CHOP đồng thời là tương đối nhỏ. Tuổi, giới tính, chủng tộc, và tình trạng hoạt động cơ thể đánh giá theo WHO không ảnh hưởng đến dược động học của rituximab. Phân tích này gợi ý cho thấy việc chỉnh liều của rituximab theo bất kỳ biến số đánh giá nào khó có thể làm giảm một cách đáng kể các biến thiên về dược động học.
203 bệnh nhân u lympho không Hodgkin chưa sử dụng rituximab trước đó được truyền MabThera IV 375 mg/m2 mỗi tuần trong 4 tuần. Nồng độ tối đa trung bình (Cmax) sau 4 lần truyền là 486 μg/mL (trong khoảng từ 77,5 đến 996,6 μg/mL). Nồng độ huyết thanh của rituximab cao nhất và thấp nhất tỉ lệ nghịch với giá trị ban đầu của số tế bào B có CD19 dương tính và kích thước của khối u. Nồng độ huyết thanh ở trạng thái ổn định cao hơn ở những bệnh nhân đáp ứng điều trị so với bệnh nhân không đáp ứng. Nồng độ huyết thanh cao hơn ở những bệnh nhân có phân loại (IWF) phân nhóm B, C, và D so với phân loại (IWF) phân nhóm A. Rituximab có thể được phát hiện trong huyết thanh của bệnh nhân 3-6 tháng sau khi hoàn thành đợt điều trị cuối cùng.
37 bệnh nhân u lympho không Hodgkin được truyền MabThera IV 375 mg/m2 mỗi tuần trong 8 tuần. Nồng độ tối đa trung bình (Cmax) tăng sau mỗi lần truyền tiếp theo, trung bình là 243 μg/mL (trong khoảng 16-582 μg/mL) sau lần truyền đầu tiên đến 550 μg/mL (trong khoảng 171-1177 μg/mL) sau lần truyền thứ tám.
Đặc tính dược động học của MabThera IV khi truyền 6 lần, mỗi lần 375 mg/m2 phối hợp với 6 liệu trình hóa trị CHOP tương tự với đặc tính dược động học của MabThera IV khi sử dụng đơn thuần.
Dạng tiêm dưới da (1400mg)
SparkThera (BP22333)
MabThera với liều cố định 1400 mg được tiêm dưới da trong giai đoạn duy trì, sau ít nhất một chu kỳ MabThera IV với liều 375 mg/m2, ở những bệnh nhân FL người trước đây đã đáp ứng với MabThera IV. Các giá trị trung bình được tiên đoán và giá trị trung bình nhân Ctrough ở chu kỳ 2 là cao hơn ở nhóm MabThera SC so với nhóm MabThera IV. Giá trị trung bình nhân của phác đồ mỗi 2 tháng MabThera SC và phác đồ mỗi 2 tháng MabThera IV lần lượt là 32,2 và 25,9 μg/mL và của phác đồ mỗi 3 tháng MabThera SC và phác đồ mỗi 3 tháng MabThera IV tương ứng là 12,1 và 10,9 μg/mL. Tương tự như vậy, các giá trị trung bình được tiên đoán và giá trị trung bình nhân AUCtau tại chu kỳ 2 ở nhóm MabThera SC cao hơn so với nhóm MabThera IV. Giá trị trung bình nhân của phác đồ mỗi 2 tháng MabThera SC và phác đồ mỗi 2 tháng MabThera IV lần lượt là 5430 và 4012 μg • ngày/mL và của phác đồ mỗi 3 tháng MabThera SC và phác đồ mỗi 3 tháng MabThera IV lần lượt là 5320 và 3947 μg • ngày/mL.
SABRINA (BO22334)
MabThera với liều cố định 1400 mg được dùng như một liều tiêm dưới da, vùng bụng, mỗi 3 tuần. Bệnh nhân FL CD20+, độ 1, 2, hoặc 3a chưa được điều trị trước đó được chọn ngẫu nhiên 1:1 để được tiêm dưới da MabThera (chu kỳ đầu tiên tiêm tĩnh mạch với liều 375 mg/m2, tiếp sau là 7 chu kỳ tiêm dưới da rituximab) hoặc MabThera tiêm tĩnh mạch với liều 375 mg/m2 (8 chu kỳ) kết hợp với tối đa 8 chu kỳ CHOP hoặc CVP hóa trị liệu được sử dụng mỗi ba tuần như là một phần của điều trị tấn công. Các giá trị trung bình và giá trị trung bình nhân Ctrough tại thời điểm tấn công chu kỳ 7 (trước liều Chu kỳ 8) là cao hơn ở nhóm tiêm dưới da MabThera so với nhóm MabThera tiêm tĩnh mạch. Giá trị trung bình nhân là 134,6 μg/mL ở nhóm MabThera SC so với 83,1 μg/mL ở nhóm MabThera IV.
Tương tự như vậy, các giá trị trung bình và trung bình nhân AUC đo ở thời điểm tấn công chu kỳ 7 (trước liều Chu kỳ 8) là cao hơn ở nhóm MabThera SC so với nhóm MabThera IV. Trị số trung bình nhân AUC là 3778,9 μg • ngày/mL ở nhóm SC MabThera so với 2734,2 μg • ngày/mL ở nhóm MabThera IV.
Trong một phân tích dược động học dân số ở những bệnh nhân FL được truyền một hoặc nhiều liều MabThera IV đơn độc hoặc kết hợp với hóa trị liệu, các giá trị ước đoán của độ thanh thải không đặc hiệu (CL1), độ thanh thải đặc hiệu ban đầu (CL2) (có khả năng có đóng góp của các tế bào B hoặc khối u) và thể tích khoang trung tâm của sự phân phối (V1) là 0,194 L/ngày, 0,535 L/ngày, và 4,37 L, tương ứng. Thời gian bán thải trung bình của MabThera SC là 29,7 ngày (thay đổi từ 9,9-91,2 ngày).
Trong phân tích dữ liệu cuối cùng từ 403 bệnh nhân dùng MabThera SC và/hoặc IV trong các nghiên cứu BP22333 (277 bệnh nhân) và BO22334 (126 bệnh nhân), trọng lượng và diện tích bề mặt cơ thể trung bình tương ứng là 74,4kg (thay đổi từ 43,9-130kg) và 1,83 m2 (thay đổi từ 1,34-2,48 m2). Độ tuổi trung bình là 57,4 năm (thay đổi từ 23-87 tuổi). Không có khác biệt giữa các thông số về dân số học và về các tiêu chí cận lâm sàng của hai nghiên cứu.
Tuy nhiên, số lượng tế bào B ban đầu trong nghiên cứu BP22333 thấp hơn đáng kể so với nghiên cứu BO22334, vì bệnh nhân trong nghiên cứu BP22333 vào nghiên cứu đã nhận được tối thiểu là bốn chu kỳ của MabThera IV trong điều trị tấn công và ít nhất một chu kỳ duy trì MabThera IV, trong khi bệnh nhân trong nghiên cứu BO22334 đã không được dùng MabThera trước khi tham gia. Số liệu về lượng tế bào u ban đầu chỉ có sẵn đối với bệnh nhân trong nghiên cứu BO22334.
Diện tích bề mặt cơ thể được xác định là yếu tố đồng ảnh hưởng chính. Tất cả các thông số về độ thanh thải và thể tích tăng lên theo kích thước cơ thể. Trong số những yếu tố phụ thuộc đồng ảnh hưởng khác, thể tích trung tâm tăng và hằng số tỷ lệ hấp thu giảm theo tuổi (cho các bệnh nhân trong độ tuổi >60 tuổi), nhưng những sự phụ thuộc theo tuổi đã được chứng minh là không làm thay đổi đáng kể sự phơi nhiễm với MabThera. Chỉ 13 bệnh nhân được tầm soát thấy kháng thể kháng thuốc và không dẫn đến bất kỳ sự gia tăng độ thanh thải có ý nghĩa lâm sàng nào.
Bệnh bạch cầu lympho mạn tính
Dạng tiêm truyền tĩnh mạch: MabThera được truyền với liều 375 mg/m2 ở liệu trình đầu tiên sau đó tăng lên 500 mg/m2 mỗi liệu trình trong 5 liệu trình tiếp theo phối hợp fludarabine và cyclophosphamide ở bệnh nhân ung thư bạch cầu lympho mạn tính. Nồng độ tối đa trung bình (Cmax) (N=15) là 408 μg/mL (trong khoảng 97-764 μg/mL) sau lần truyền thứ 5 với liều 500 mg/m2.
Viêm khớp dạng thấp
Dạng tiêm truyền tĩnh mạch: Sau hai lần truyền tĩnh mạch rituximab với liều 1000 mg, cách nhau 2 tuần, thời gian bán thải pha cuối trung bình là 20,8 ngày (trong khoảng 8,58 đến 35,9 ngày), độ thanh thải toàn thân trung bình là 0,23 L/ngày (trong khoảng 0,091 đến 0,67 L/ngày), và thể tích phân bố ở trạng thái ổn định là 4,6 L (trong khoảng 1,7 đến 7,51 L). Phân tích dược động học dân số trên cùng dữ liệu cho các giá trị trung bình tương đương đối với độ thanh thải toàn thân và thời gian bán thải, lần lượt là 0,26 L/ngày và 20,4 ngày. Phân tích dược động học dân số cho thấy BSA (diện tích bề mặt cơ thể) và giới tính là những yếu tố có ý nghĩa nhất để giải thích sự biến thiên giữa các cá thể về thông số dược động học. Sau khi hiệu chỉnh về BSA, những bệnh nhân nam có thể tích phân bố lớn hơn và độ thanh thải nhanh hơn những bệnh nhân nữ. Sự khác nhau về dược động học có liên quan đến giới không được xem là có ý nghĩa về mặt lâm sàng và không cần phải điều chỉnh liều. Dược động học của rituximab được đánh giá trong 4 nghiên cứu dùng liều rituximab liều 500 mg và 1000 mg vào ngày thứ nhất và ngày thứ 15. Trong tất cả các nghiên cứu này, dược động học của rituximab là tỷ lệ theo liều trên các khoảng liều giới hạn đã được nghiên cứu. Cmax trung bình của rituximab trong huyết thanh sau lần truyền lần đầu tiên dao động từ 157 đến 171 μg/mL cho liều 2 x 500 mg và dao động từ 298 đến 341 μg/mL cho liều 2 x 1000 mg. Sau lần truyền thứ hai, Cmax trung bình dao động từ 183 đến 198 μg/mL cho liều 2 x 500 mg và dao động từ 355 đến 404 μg/mL cho liều 2 x 1000 mg. Thời gian bán thải trung bình dao động từ 15 đến 16,5 ngày đối với nhóm liều 2 x 500 mg và 17 đến 21 ngày đối với nhóm dùng liều 2 x 1000 mg. Cmax trung bình cao hơn 16 đến 19% sau lần truyền lần thứ hai so với lần truyền đầu tiên cho cả hai chế độ liều.
Dược động học của rituximab được đánh giá sau hai liều IV 500 mg và 1000 mg sau khi điều trị lại trong chu kỳ thứ hai. Cmax trung bình của rituximab trong huyết thanh sau lần truyền đầu tiên là 170 đến 175 μg/mL đối với liều 2 x 500 mg và 317-337 μg/mL đối với liều 2 x 1000 mg. Cmax sau lần truyền lần thứ hai là 207 μg/mL đối với liều 2 x 500 mg và dao động từ 377 đến 386 μg/mL đối với liều 2 x 1000 mg. Thời gian bán thải trung bình sau lần truyền thứ hai, sau đợt thứ hai, là 19 ngày đối với liều 2 x 500 mg và dao động từ 21 đến 22 ngày đối với liều 2 x 1000 mg. Các thông số dược động học của rituximab có thể so sánh được trong 2 chu kỳ điều trị.
Các thông số dược động học trong nhóm bệnh nhân đáp ứng không đầy đủ với yếu tố chống hoại tử khối u (anti-TNF), theo chế độ liều tương tự (2 x 1000 mg, IV, cách nhau 2 tuần), tương tự với nồng độ đỉnh trung bình là 369 μg/mL và một thời gian bán thải trung bình là 19,2 ngày.
U hạt kèm viêm đa mạch (u hạt Wegener (GPA) và viêm đa vi mạch (MPA))
Dang tiêm truyền tĩnh mạch
Dựa trên phân tích dược động học dân số trên dữ liệu 97 bệnh nhân GPA và MPA đã sử dụng 375 mg/m2 MabThera IV mỗi tuần một lần với tổng cộng bốn liều, thời gian bán thải trung bình ước tính là 23 ngày (thay đổi từ 9-49 ngày).
Độ thanh thải trung bình và thể tích phân phối của rituximab tương ứng là 0,313 L/ngày (thay đổi từ 0,116-0,726 L/ngày) và 4,50 L (thay đổi từ 2,25-7,39 L).
Các thông số PK của rituximab ở các bệnh nhân GPA và MPA tương tự như những gì đã được ghi nhận ở những bệnh nhân RA (xem mục Phân bố).
Đào thải: Xem phần Phân bố.
Dược động học ở những đối tượng đặc biệt: Chưa có số liệu về dược động học ở những bệnh nhân bị suy gan hoặc suy thận.
Register or sign in to continue
Asia's one-stop resource for medical news, clinical reference and education
Sign up for free
Already a member? Sign in