Navelbine

Navelbine Cảnh báo

vinorelbine tartrate

Nhà sản xuất:

Pierre Fabre Medicament

Nhà phân phối:

DKSH
Thông tin kê toa chi tiết tiếng Việt
Cảnh báo
Thận trọng chung:
Navelbine 20 mg hoặc 30 mg viên nang mềm chỉ nên được dùng dưới sự giám sát y tế. Để việc giám sát điều trị của bạn dễ dàng hơn, hãy sử dụng những hướng dẫn dưới đây:
Điều trị nên bao gồm:
• Các xét nghiệm, trước mỗi lần sử dụng thuốc, về diễn biến của các thông số huyết học (số lượng tế bào máu toàn phần và từng phần) cùng với các thông số về chức năng gan và thận.
• Kiểm tra y tế.
Trong trường hợp sốt và run hay có các dấu hiệu lâm sàng gợi ý nhiễm trùng, thông báo cho bác sĩ ngay lập tức.
Khi bệnh nhân nhai hay ngậm thuốc sẽ gây kích ứng, nên súc miệng với nước hay dung dịch nước muối sinh lý.
Trong trường hợp viên thuốc bị vỡ vỏ nang, dung dịch thuốc sẽ gây kích ứng và làm tổn thương nếu tiếp xúc với da, niêm mạc, mắt. Những viên thuốc vỡ không được uống và nên trả lại nhà thuốc hoặc bác sĩ để huỷ thuốc đúng cách. Nếu có tiếp xúc với dung dịch thuốc, lập tức rửa sạch với nước hay dung dịch nước muối sinh lý.
Trong trường hợp bệnh nhân nôn trong vòng vài giờ sau khi uống thuốc, không được lặp lại liều. Điều trị hỗ trợ với thuốc đối kháng 5HT3 (ví dụ như ondansetron, granisetron) có thể làm giảm nôn (xem mục Tương tác).
Viên nang mềm Navelbine có thể gây nôn nhiều hơn dạng tiêm truyền tĩnh mạch. Do đó có thể điều trị dự phòng với thuốc chống nôn.
Do viên Navelbine có chứa sorbitol, bệnh nhân có vấn đề di truyền hiếm gặp về không dung nạp fructose không nên dùng.
Cần theo dõi xét nghiệm công thức máu chặt chẽ trong suốt quá trình điều trị (xác định nồng độ hemoglobin và số lượng bạch cầu, bạch cầu đa nhân trung tính và tiểu cầu vào ngày dùng thuốc).
Liều dùng nên được quyết định dựa vào tình trạng huyết học
• Nếu số lượng bạch cầu hạt trung tính <1.500/mm3 và/hoặc số lượng tiểu cầu <100.000/mm3, cần hoãn dùng thuốc cho đến khi trở về bình thường.
• Khi tăng liều từ 60 lên 80 mg/m2/tuần sau tuần thứ 3, xin xem mục Liều lượng và cách dùng.
• Đối với liều 80 mg/m2, nếu số lượng bạch cầu hạt trung tính <500/mm3 hoặc từ 500-1000/mm3 hơn 1 lần thì không những nên hoãn dùng thuốc mà còn phải giảm liều xuống 60 mg/m2/tuần. Có thể tăng lại liều từ 60 lên 80 mg/m2/tuần, xin xem mục Liều lượng và cách dùng.
Trong các thử nghiệm lâm sàng ở liều điều trị khởi đầu 80 mg/m2, một vài bệnh nhân gặp các biến chứng về chứng giảm bạch cầu quá mức, kèm theo tình trạng kém hoạt động. Do đó khuyến cáo rằng nên bắt đầu với liều 60 mg/m2, tăng dần lên 80 mg/m2 nếu liều này được dung nạp như mô tả trong mục Liều lượng và cách dùng.
Cần khảo sát kỹ nếu bệnh nhân có những triệu chứng và dấu hiệu lâm sàng gợi ý nhiễm trùng.
Cần thận trọng khi dùng chung Navelbine với những thuốc ức chế hay cảm ứng mạnh CYP3A4 (xem mục Tương tác). Không được dùng chung Navelbine với phenytoin (như mọi thuốc độc tế bào khác) hay itraconazole (như mọi vinca alkaloid khác).
Cần lưu ý khi kê đơn cho những bệnh nhân:
• Có tiền sử thiếu máu cơ tim cục bộ (xem mục Tác dụng không mong muốn).
• Có tình trạng hoạt động cơ thể kém.
Navelbine dạng uống không nên dùng đồng thời với xạ trị nếu trường chiếu xạ bao gồm gan.
Thuốc này chống chỉ định đặc biệt khi dùng chung với văc xin ngừa bệnh sốt vàng hay những văc xin sống giảm độc lực khác.
Navelbine dạng uống được nghiên cứu trên ở những bệnh nhân suy chức năng gan với liều như sau:
• 60 mg/m2 ở những bệnh nhân suy chức năng gan nhẹ (bilirubin <1,5 lần giới hạn trên bình thường, AST và/hoặc ALT từ 1,5-2,5 giới hạn trên bình thường);
• 50 mg/m2 ở những bệnh nhân suy chức năng gan vừa (bilirubin 1,5 – 3 lần giới hạn trên bình thường, bất kể mức độ AST và ALT).
Tính an toàn và dược động học của vinorelbine không thay đổi trên những bệnh nhân dùng liều thử nghiệm.
Navelbine viên uống chưa được nghiên cứu ở những bệnh nhân suy gan nặng do đó chống chỉ định dùng Navelbine trên những bệnh nhân này (xem mục Liều lượng và cách dùng, Chống chỉ định, Dược động học).
Do mức độ đào thải thuốc qua thận thấp nên không có cơ sở dược động học cho việc giảm liều Navelbine ở những bệnh nhân suy thận (xem mục Liều lượng và cách dùng, Dược động học).
Ảnh hưởng đến khả năng lái xe và vận hành máy móc: Hiện chưa có nghiên cứu về tác động của thuốc lên khả năng lái xe và vận hành máy móc, nhưng trên cơ sở dược động học, vinorelbine không gây ảnh hưởng đến khả năng lái xe và vận hành máy móc. Tuy nhiên, sự thận trọng là cần thiết ở những bệnh nhân được điều trị bằng vinorelbine vì một số tác dụng không mong muốn (xem mục Tác dụng không mong muốn).
Register or sign in to continue
Asia's one-stop resource for medical news, clinical reference and education
Sign up for free
Already a member? Sign in