Neupogen

Neupogen Dược lý

filgrastim

Nhà sản xuất:

Amgen Manufacturing

Nhà phân phối:

Zuellig Pharma
Thông tin kê toa chi tiết tiếng Việt
Dược lý
Các đặc tính dược lực học
Nhóm dược lý trị liệu:
Các cytokin, mã ATC: L03AA02.
Yếu tố kích thích cụm tế bào hạt của người (G-CSF) là một glycoprotein điều hòa sự sản xuất và phóng thích các bạch cầu trung tính có chức năng từ tủy xương. Neupogen chứa r-metHuG-CSF (filgrastim) làm tăng rõ rệt số lượng bạch cầu trung tính ở máu ngoại vi trong vòng 24 giờ, với sự tăng nhẹ bạch cầu đơn nhân. Ở một số bệnh nhân bị giảm bạch cầu trung tính mạn tính nặng (SCN), filgrastim cũng có thể làm tăng nhẹ về số lượng bạch cầu ưa eosin và bạch cầu ưa base lưu hành so với lúc ban đầu; một số trong những bệnh nhân này có thể có biểu hiện tăng bạch cầu ưa eosin hoặc tăng bạch cầu ưa base trước khi điều trị. Sự tăng số lượng bạch cầu trung tính là phụ thuộc liều ở liều khuyến cáo. Các bạch cầu trung tính được sản xuất đáp ứng với filgrastim cho thấy chức năng bình thường hoặc tăng cường như được thể hiện qua các thử nghiệm về chức năng hóa ứng động và thực bào. Sau khi kết thúc điều trị bằng filgrastim, số lượng bạch cầu trung tính lưu hành giảm 50% trong vòng 1-2 ngày và trở lại mức bình thường trong vòng 1-7 ngày.
Sử dụng filgrastim ở những bệnh nhân đang được dùng hóa trị liệu gây độc tế bào dẫn đến làm giảm có ý nghĩa về tỷ lệ mắc, mức độ nặng và thời gian bị giảm bạch cầu trung tính và giảm bạch cầu trung tính có sốt. Điều trị bằng filgrastim làm giảm có ý nghĩa về thời gian giảm bạch cầu trung tính có sốt, thời gian sử dụng kháng sinh và sự nhập viện sau khi hóa trị liệu cảm ứng đối với bệnh bạch cầu tủy bào cấp tính hoặc điều trị loại bỏ tủy sau đó ghép tủy xương. Tỷ lệ sốt và nhiễm trùng đã được ghi nhận không giảm ở một trong hai bối cảnh. Thời gian sốt không giảm ở bệnh nhân đang được điều trị loại bỏ tủy sau đó ghép tủy xương.
Sử dụng filgrastim, đơn độc hoặc sau hóa trị liệu, huy động các tế bào đầu dòng tạo máu vào trong máu ngoại vi. Những tế bào đầu dòng máu ngoại vi (PBPC) tự thân này có thể được thu thập và được truyền sau hóa trị liệu gây độc tế bào liều cao, thay thế hoặc bổ sung cho việc ghép tủy xương. Truyền tế bào đầu dòng máu ngoại vi (PBPC) làm tăng nhanh sự hồi phục tạo máu, giảm thời gian gặp nguy cơ biến chứng xuất huyết và sự cần thiết phải truyền tiểu cầu.
Những người nhận tế bào đầu dòng máu ngoại vi (PBPC) cùng loài được huy động bằng Neupogen đã có sự hồi phục tạo máu nhanh hơn có ý nghĩa, dẫn đến giảm có ý nghĩa về thời gian dẫn đến hồi phục tiểu cầu không được hỗ trợ khi so với ghép tủy xương cùng loài.
Một nghiên cứu hồi cứu ở châu Âu đánh giá việc sử dụng G-CSF sau ghép tủy xương cùng loài ở những bệnh nhân bị bệnh bạch cầu cấp đã cho thấy tăng nguy cơ về bệnh mảnh ghép chống lại vật chủ (GvHD), tỷ lệ tử vong liên quan đến điều trị (TRM) và tỷ lệ tử vong khi sử dụng G-CSF. Trong một nghiên cứu hồi cứu quốc tế riêng biệt ở bệnh nhân bị bệnh bạch cầu tủy bào cấp tính và mạn tính, không quan sát thấy ảnh hưởng đến nguy cơ về bệnh mảnh ghép chống lại vật chủ (GvHD), tỷ lệ tử vong liên quan đến điều trị (TRM) và tỷ lệ tử vong. Một phân tích tổng hợp các nghiên cứu về ghép cùng loài, bao gồm các kết quả của 9 thử nghiệm ngẫu nhiên theo thời gian, 8 nghiên cứu hồi cứu và 1 nghiên cứu bệnh-chứng đã không phát hiện ảnh hưởng đến nguy cơ về bệnh mảnh ghép chống lại vật chủ (GvHD) cấp tính, mạn tính hoặc tử vong liên quan đến điều trị sớm.
- xem Bảng 1.

Image from Drug Label Content

Sử dụng filgrastim cho việc huy động các tế bào đầu dòng máu ngoại vi (PBPC) ở những người cho bình thường trước khi ghép tế bào đầu dòng máu ngoại vi cùng loài
Ở những người cho bình thường, một liều 10 μg/kg/ngày tiêm dưới da trong 4-5 ngày liên tiếp cho phép thu thập ≥ 4 x 106 tế bào CD34+/kg thể trọng của người nhận ở đa số người cho sau 2 lần gạn tách bạch cầu.
Sử dụng filgrastim ở những bệnh nhân trẻ em hoặc người lớn bị giảm bạch cầu trung tính mạn tính nặng (SCN) (giảm bạch cầu trung tính nặng bẩm sinh, theo chu kỳ và tự phát) gây ra một sự tăng kéo dài về số lượng bạch cầu trung tính tuyệt đối trong máu ngoại vi cùng với giảm nhiễm trùng và các biến cố liên quan.
Sử dụng filgrastim ở bệnh nhân bị nhiễm HIV làm duy trì số lượng bạch cầu trung tính bình thường để cho phép dùng thuốc kháng virus và/hoặc thuốc ức chế tủy khác theo lịch trình. Không có bằng chứng về việc bệnh nhân bị nhiễm HIV được điều trị bằng filgrastim cho thấy sự tăng sao chép HIV.
Cũng như với các yếu tố tăng trưởng tạo máu khác, in vitro G-CSF đã cho thấy đặc tính kích thích tế bào nội mô của người.
Các đặc tính dược động học
Độ thanh thải của filgrastim đã cho thấy theo dược động học bậc 1 sau cả tiêm dưới da và tiêm tĩnh mạch. Thời gian bán thải cuối trong huyết thanh của filgrastim khoảng 3,5 giờ, với tốc độ thanh thải khoảng 0,6 mL/phút/kg. Truyền liên tục với Neupogen trong thời gian lên đến 28 ngày ở những bệnh nhân hồi phục từ ghép tủy xương tự thân đã dẫn đến không có bằng chứng nào về sự tích lũy thuốc và thời gian bán thải thì tương đương. Có mối tương quan tuyến tính rõ ràng giữa liều lượng và nồng độ filgrastim trong huyết thanh, dù tiêm tĩnh mạch hoặc tiêm dưới da. Sau khi tiêm dưới da liều khuyến cáo, nồng độ trong huyết thanh được duy trì trên 10 ng/mL trong 8-16 giờ. Thể tích phân bố trong máu khoảng 150 mL/kg.
Các dữ liệu an toàn tiền lâm sàng
Filgrastim đã được khảo sát trong các nghiên cứu độc tính liều lặp lại với thời gian lên đến 1 năm, cho thấy những thay đổi được quy cho là do các tác dụng dược lý dự kiến bao gồm tăng bạch cầu, tăng sản tủy ở tủy xương, tạo máu ngoài tủy và lách to. Những thay đổi này đều hồi phục sau khi ngưng điều trị.
Ảnh hưởng của filgrastim đến sự phát triển trước khi sinh đã được nghiên cứu ở chuột cống và thỏ. Tiêm tĩnh mạch filgrastim (80 μg/kg/ngày) cho thỏ trong thời kỳ hình thành cơ quan gây độc cho thỏ mẹ và đã quan sát thấy tăng sẩy thai tự nhiên, mất phôi sau khi làm tổ, giảm kích thước lứa đẻ còn sống và cân nặng của thai trung bình.
Dựa trên dữ liệu báo cáo về một sản phẩm filgrastim khác tương tự như Neupogen, các phát hiện tương đương cộng với tăng dị tật thai đã được quan sát thấy ở liều 100 μg/kg/ngày là liều gây độc đối với thỏ mẹ, tương ứng với một nồng độ toàn thân gấp khoảng 50-90 lần nồng độ được quan sát thấy ở những bệnh nhân được điều trị với liều trên lâm sàng 5 μg/kg/ngày. Nồng độ không quan sát thấy tác động có hại đối với độc tính phôi-thai trong nghiên cứu này là 10 μg/kg/ngày, tương ứng với một nồng độ toàn thân gấp khoảng 3-5 lần so với nồng độ được quan sát thấy ở bệnh nhân điều trị với liều trên lâm sàng.
Ở chuột cống mang thai, không quan sát thấy độc tính đối với chuột mẹ hoặc thai ở liều lên đến 575 μg/kg/ngày. Con của chuột cống được dùng filgrastim trong các giai đoạn chu sinh và cho con bú đã cho thấy chậm trễ trong sự biệt hóa bên ngoài và chậm phát triển (≥ 20 μg/kg/ngày) và tỷ lệ sống còn giảm nhẹ (100 μg/kg/ngày).
Filgrastim không có ảnh hưởng được quan sát thấy trên khả năng sinh sản của chuột cống đực hoặc cái.
Register or sign in to continue
Asia's one-stop resource for medical news, clinical reference and education
Sign up for free
Already a member? Sign in