Neupogen

Neupogen Cảnh báo

filgrastim

Nhà sản xuất:

Amgen Manufacturing

Nhà phân phối:

Zuellig Pharma
Thông tin kê toa chi tiết tiếng Việt
Cảnh báo
Các cảnh báo và thận trọng đặc biệt liên quan đến chỉ định
Quá mẫn
Quá mẫn, bao gồm cả phản ứng phản vệ, xảy ra lúc điều trị khởi đầu hoặc sau đó đã được báo cáo ở những bệnh nhân được điều trị bằng Neupogen. Ngừng dùng Neupogen vĩnh viễn ở bệnh nhân bị quá mẫn có ý nghĩa lâm sàng. Không được dùng Neupogen cho bệnh nhân có tiền sử quá mẫn với filgrastim hoặc pegfilgrastim.
Các phản ứng bất lợi ở phổi
Các phản ứng bất lợi ở phổi, đặc biệt là bệnh phổi kẽ, đã được báo cáo sau khi dùng G-CSF. Bệnh nhân có tiền sử gần đây bị thâm nhiễm phổi hoặc viêm phổi có thể có nguy cơ cao hơn. Khởi phát các dấu hiệu ở phổi như ho, sốt và khó thở kết hợp với các dấu hiệu X-quang về thâm nhiễm phổi và suy giảm chức năng phổi có thể là dấu hiệu ban đầu của hội chứng suy hô hấp cấp (ARDS). Nên ngừng Neupogen và sử dụng điều trị thích hợp.
Viêm cầu thận
Viêm cầu thận đã được báo cáo ở những bệnh nhân sử dụng filgrastim và pegfilgrastim. Thông thường các biến cố viêm cầu thận được giải quyết sau khi giảm liều hoặc ngừng sử dụng filgrastim và pegfilgrastim. Khuyến cáo theo dõi xét nghiệm nước tiểu.
Hội chứng rò rỉ mao mạch
Hội chứng rò rỉ mao mạch, có thể đe dọa tính mạng nếu điều trị chậm trễ đã được báo cáo sau khi sử dụng yếu tố kích thích cụm bạch cầu hạt và được đặc trưng bởi hạ huyết áp, giảm albumin máu, phù và cô đặc máu. Những bệnh nhân có các triệu chứng của hội chứng rò rỉ mao mạch cần được theo dõi chặt chẽ và được điều trị triệu chứng tiêu chuẩn, có thể bao gồm nhu cầu chăm sóc đặc biệt (xem phần Tác dụng không mong muốn).
Lách to và vỡ lách
Nhìn chung, các trường hợp lách to không có triệu chứng và vỡ lách đã được báo cáo ở bệnh nhân và những người cho tặng cơ quan bình thường sau khi dùng Neupogen. Một số trường hợp vỡ lách đã tử vong. Do đó cần theo dõi kích thước lách cẩn thận (ví dụ khám lâm sàng, siêu âm). Nên xem xét chẩn đoán vỡ lách ở những người cho và/hoặc bệnh nhân báo cáo đau vùng bụng trên bên trái hoặc đau mỏm vai trái. Giảm liều dùng Neupogen đã được ghi nhận làm chậm hoặc dừng quá trình phì đại lách ở bệnh nhân giảm bạch cầu mạn tính nặng, và 3% bệnh nhân bị yêu cầu cắt lách.
Sự tăng trưởng tế bào ác tính
Yếu tố kích thích cụm bạch cầu hạt có thể thúc đẩy sự tăng trưởng của tế bào tủy in vitro và các tác dụng tương tự có thể được quan sát thấy trên một số tế bào ngoài tủy in vitro.
Hội chứng loạn sản tủy hoặc bệnh bạch cầu tủy bào mạn tính
Độ an toàn và hiệu quả của việc sử dụng Neupogen ở bệnh nhân bị hội chứng loạn sản tủy hoặc bệnh bạch cầu tủy bào mạn tính chưa được xác định. Neupogen không được chỉ định để sử dụng trong những tình trạng này. Cần đặc biệt chú ý để chẩn đoán phân biệt sự chuyển dạng nguyên bào của bệnh bạch cầu tủy bào mạn tính với bệnh bạch cầu tủy bào cấp tính.
Bệnh bạch cầu tủy bào cấp tính
Do dữ liệu về độ an toàn và hiệu quả còn hạn chế ở những bệnh nhân bị bệnh bạch cầu tủy bào cấp tính (AML) thứ phát, Neupogen nên được dùng thận trọng. Độ an toàn và hiệu quả của việc sử dụng Neupogen ở những bệnh nhân bị bệnh bạch cầu tủy bào cấp tính (AML) de novo < 55 tuổi có đặc điểm di truyền học tế bào xác đáng (t(8;21), t(15;17), và inv(16)) chưa được xác định.
Giảm tiểu cầu
Giảm tiểu cầu đã được báo cáo thường gặp ở những bệnh nhân được điều trị bằng Neupogen. Cần theo dõi chặt chẽ số lượng tiểu cầu, đặc biệt là trong vài tuần đầu tiên điều trị bằng Neupogen. Nên xem xét ngừng tạm thời hoặc giảm liều Neupogen ở những bệnh nhân mắc bệnh giảm bạch cầu mạn tính nặng có phát sinh giảm tiểu cầu (tiểu cầu < 100 x 109/L).
Tăng bạch cầu
Số lượng bạch cầu 100 x 109/L hoặc nhiều hơn đã được quan sát thấy dưới 5% bệnh nhân sử dụng Neupogen với liều trên 0,3 MU/kg/ngày (3 µg/kg/ngày). Không có phản ứng bất lợi nào có thể trực tiếp quy cho mức độ tăng bạch cầu này đã được báo cáo. Tuy nhiên, do nguy cơ tiềm ẩn liên quan với tăng bạch cầu nặng, cần thực hiện xét nghiệm số lượng bạch cầu ở các khoảng cách đều đặn trong khi điều trị bằng Neupogen. Nếu số lượng bạch cầu vượt quá 50 x109/L sau mức thấp nhất dự kiến, phải ngừng Neupogen ngay lập tức. Tuy nhiên, trong khoảng thời gian sử dụng Neupogen đối với việc huy động các tế bào đầu dòng máu ngoại vi (PBPC), nên ngừng sử dụng hoặc giảm liều Neupogen nếu số lượng bạch cầu tăng lên > 70 x 109/L.
Tính sinh miễn dịch
Cũng như với tất cả các protein điều trị, có một khả năng về tính sinh miễn dịch. Tỷ lệ thế hệ kháng thể kháng filgrastim thường là thấp. Kháng thể gắn kết xảy ra như dự kiến với tất cả các thuốc sinh học, tuy nhiên hiện nay chúng không liên quan với hoạt tính trung hòa.
Viêm động mạch chủ
Viêm động mạch chủ đã được báo cáo sau khi dùng G-CSF ở các đối tượng khỏe mạnh và bệnh nhân ung thư. Triệu chứng thu được bao gồm sốt, đau bụng, khó chịu, đau lưng và tăng dấu hiệu viêm (ví dụ protein phản ứng C và số lượng bạch cầu). Trong phần lớn các trường hợp, viêm động mạch chủ được chẩn đoán bằng chụp CT và thường hồi phục sau khi ngừng dùng GCSF. Xem thêm phần Tác dụng không mong muốn.
Cảnh báo và thận trọng đặc biệt liên quan đến bệnh kèm theo
Thận trọng đặc biệt ở bệnh nhân có đặc điểm hồng cầu hình liềm hoặc bệnh hồng cầu hình liềm
Các cơn hồng cầu hình liềm, gây tử vong trong một số trường hợp, đã được báo cáo với việc sử dụng Neupogen ở những bệnh nhân có đặc điểm hồng cầu hình liềm hoặc bệnh hồng cầu hình liềm. Bác sĩ cần thận trọng khi kê đơn Neupogen ở bệnh nhân có đặc điểm hồng cầu hình liềm hoặc bệnh hồng cầu hình liềm.
Loãng xương
Theo dõi mật độ xương có thể được chỉ định ở những bệnh nhân bị bệnh về xương do loãng xương có từ trước được điều trị liên tục bằng Neupogen trong hơn 6 tháng.
Thận trọng đặc biệt ở bệnh nhân ung thư
Neupogen không nên được sử dụng để tăng liều hóa trị liệu gây độc tế bào vượt quá phác đồ liều dùng đã được thiết lập.
Các nguy cơ liên quan với tăng liều hóa trị liệu
Cần đặc biệt thận trọng khi điều trị cho bệnh nhân được dùng hóa trị liệu liều cao vì sự cải thiện kết quả khối u chưa được chứng minh, liều tăng cường của các thuốc hóa trị liệu có thể dẫn đến tăng độc tính bao gồm các tác dụng trên tim, phổi, thần kinh và da (xin tham khảo thông tin kê đơn của các thuốc hóa trị liệu đặc hiệu được sử dụng).
Ảnh hưởng của hóa trị liệu lên hồng cầu và tiểu cầu
Điều trị bằng Neupogen đơn độc không loại trừ giảm tiểu cầu và thiếu máu do hóa trị liệu ức chế tủy. Do khả năng được dùng hóa trị liều cao (ví dụ liều đầy đủ trong liệu trình đã được kê đơn) bệnh nhân có thể có nguy cơ cao về giảm tiểu cầu và thiếu máu. Khuyến cáo theo dõi thường xuyên số lượng tiểu cầu và hematocrit. Cần thận trọng đặc biệt khi dùng các thuốc hóa trị liệu đơn độc hoặc phối hợp đã được biết là gây giảm tiểu cầu nặng.
Việc sử dụng Neupogen huy động các tế bào đầu dòng máu ngoại vi (PBPC) đã cho thấy là làm giảm cường độ và thời gian giảm tiểu cầu sau hóa trị ức chế tủy hoặc loại bỏ tủy.
Các thận trọng đặc biệt khác
Các ảnh hưởng của Neupogen ở bệnh nhân có tế bào tủy đầu dòng giảm có ý nghĩa chưa được nghiên cứu. Neupogen tác dụng chủ yếu trên tiền chất của bạch cầu trung tính để phát huy hiệu quả của nó trong việc làm tăng số lượng bạch cầu trung tính. Do đó ở những bệnh nhân có tiền chất bị giảm, đáp ứng bạch cầu trung tính có thể bị giảm (như những người được điều trị bằng xạ trị hoặc hóa trị liệu mạnh hoặc những người có thâm nhiễm tủy xương do khối u).
Rối loạn mạch, bao gồm cả bệnh tắc tĩnh mạch và rối loạn thể tích dịch, thỉnh thoảng đã được báo cáo ở những bệnh nhân dùng hóa trị liệu liều cao sau đó là ghép.
Đã có báo cáo về bệnh mảnh ghép chống lại vật chủ (GvHD) và tử vong ở bệnh nhân được dùng G-CSF sau khi ghép tủy xương cùng loài (xem phần Tác dụng không mong muốnCác đặc tính dược lực học).
Tăng hoạt tính tạo máu của tủy xương đáp ứng với trị liệu bằng yếu tố tăng trưởng có liên quan với kết quả chụp hình ảnh xương dương tính thoáng qua. Điều này nên được xem xét khi giải thích kết quả chụp hình ảnh xương.
Thận trọng đặc biệt ở bệnh nhân được huy động các tế bào đầu dòng máu ngoại vi (PBPC)
Huy động
Không có so sánh ngẫu nhiên theo thời gian về hai phương pháp huy động được khuyến cáo (Neupogen đơn độc hoặc kết hợp với hóa trị liệu ức chế tủy) trong cùng một nhóm bệnh nhân. Mức độ thay đổi giữa các bệnh nhân riêng biệt và giữa các xét nghiệm về tế bào CD34+ có nghĩa là khó so sánh trực tiếp giữa các nghiên cứu khác nhau. Do đó khó khuyến cáo một phương pháp tối ưu. Nên xem xét lựa chọn phương pháp huy động liên quan đến mục tiêu chung của điều trị cho một bệnh nhân riêng biệt.
Sử dụng thuốc gây độc tế bào trước đó
Những bệnh nhân đã được điều trị ức chế tủy trước đó rất mạnh có thể không cho thấy sự huy động đầy đủ các tế bào đầu dòng máu ngoại vi (PBPC) để đạt hiệu suất tối thiểu được khuyến cáo (≥ 2,0 x 106 tế bào CD34+/kg) hoặc tăng nhanh sự hồi phục tiểu cầu ở cùng một mức độ.
Một số thuốc gây độc tế bào biểu hiện độc tính đặc biệt đối với kho dự trữ tế bào đầu dòng tạo máu và có thể ảnh hưởng bất lợi đến sự huy động tế bào đầu dòng. Các thuốc như melphalan, carmustine (BCNU) và carboplatin, khi được dùng trong những khoảng thời gian dài trước khi nỗ lực huy động các tế bào đầu dòng có thể làm giảm hiệu suất của tế bào đầu dòng. Tuy nhiên, việc sử dụng melphalan, carboplatin hoặc BCNU cùng với Neupogen đã cho thấy là có hiệu quả đối với việc huy động các tế bào đầu dòng. Khi sự ghép tế bào đầu dòng máu ngoại vi (PBPC) được dự kiến, nên lập kế hoạch về quy trình huy động tế bào gốc sớm trong liệu trình điều trị của bệnh nhân. Cần đặc biệt chú ý số lượng tế bào đầu dòng được huy động ở những bệnh nhân này trước khi sử dụng hóa trị liệu liều cao. Nếu hiệu suất không đầy đủ, được đo bằng các tiêu chuẩn trên, nên xem xét các dạng điều trị thay thế, không cần đến sự hỗ trợ của tế bào đầu dòng.
Đánh giá hiệu suất của tế bào đầu dòng
Khi đánh giá số lượng tế bào đầu dòng thu được ở những bệnh nhân được điều trị bằng Neupogen, cần đặc biệt chú ý đến phương pháp định lượng. Kết quả phân tích đếm tế bào dòng chảy về số lượng tế bào CD34+ khác nhau tùy thuộc vào phương pháp chính xác được sử dụng và khuyến cáo về số lượng dựa trên các nghiên cứu trong các phòng thí nghiệm khác cần phải được diễn giải thận trọng.
Phân tích thống kê mối quan hệ giữa số lượng tế bào CD34+ được tái truyền và tỷ lệ hồi phục tiểu cầu sau hóa trị liệu liều cao cho thấy một mối quan hệ phức tạp nhưng liên tục.
Khuyến cáo về hiệu suất tối thiểu ≥ 2,0 x 106 tế bào CD34+/kg được dựa trên kinh nghiệm đã công bố dẫn đến sự tái tạo máu đầy đủ. Hiệu suất vượt quá lượng này dường như tương quan với sự hồi phục nhanh hơn, hiệu suất dưới lượng này tương quan với sự hồi phục chậm hơn.
Thận trọng đặc biệt ở những người cho bình thường được huy động các tế bào đầu dòng máu ngoại vi (PBPC)
Việc huy động các tế bào đầu dòng máu ngoại vi (PBPC) không đem lại lợi ích lâm sàng trực tiếp cho những người cho bình thường và chỉ nên xem xét cho mục đích ghép tế bào gốc cùng loài.
Chỉ nên xem xét huy động các tế bào đầu dòng máu ngoại vi (PBPC) ở những người cho đã đáp ứng đủ tiêu chuẩn lâm sàng và xét nghiệm bình thường về cho tế bào gốc với sự chú ý đặc biệt đến các giá trị xét nghiệm huyết học và bệnh nhiễm trùng.
Độ an toàn và hiệu quả của Neupogen chưa được đánh giá ở những người cho bình thường < 16 tuổi hoặc > 60 tuổi.
Giảm tiểu cầu thoáng qua (tiểu cầu < 100 x 109/L) sau khi dùng filgrastim và gạn tách bạch cầu đã được quan sát thấy ở 35% đối tượng nghiên cứu. Trong số này, hai trường hợp tiểu cầu < 50 x109/L đã được báo cáo và được quy cho là do quy trình gạn tách bạch cầu.
Nếu cần nhiều hơn một lần gạn tách bạch cầu, phải đặc biệt chú ý đến những người cho có tiểu cầu < 100 × 109/L trước khi gạn tách bạch cầu; nói chung không nên thực hiện gạn tách máu nếu tiểu cầu < 75 x 109/L.
Không nên thực hiện gạn tách bạch cầu ở những người cho đang được điều trị chống đông hoặc những người đã biết khiếm khuyết về cầm máu.
Nên theo dõi những người cho được dùng G-CSF để huy động các tế bào đầu dòng máu ngoại vi (PBPC) cho đến khi các chỉ số huyết học trở về bình thường.
Các bất thường về di truyền học tế bào thoáng qua đã được quan sát thấy ở những người cho bình thường sau khi dùng G-CSF. Chưa rõ ý nghĩa của những thay đổi này. Tuy nhiên, không thể loại trừ nguy cơ thúc đẩy một clon tế bào tủy ác tính. Khuyến cáo rằng trung tâm gạn tách máu nên thực hiện một bảng ghi chép có hệ thống và theo dõi những người cho tế bào gốc trong ít nhất 10 năm để đảm bảo theo dõi về an toàn dài hạn.
Thận trọng đặc biệt ở người nhận tế bào đầu dòng máu ngoại vi (PBPC) cùng loài được huy động bằng Neupogen
Dữ liệu hiện nay cho thấy sự tương tác về miễn dịch giữa ghép tế bào đầu dòng máu ngoại vi (PBPC) cùng loài và người nhận có thể liên quan với tăng nguy cơ về bệnh mảnh ghép chống lại vật chủ (GvHD) cấp và mạn tính khi so với ghép tủy xương.
Thận trọng đặc biệt ở bệnh nhân bị giảm bạch cầu trung tính mạn tính nặng (SCN)
Không nên dùng Neupogen cho những bệnh nhân bị giảm bạch cầu trung tính bẩm sinh nặng phát triển bệnh bạch cầu hoặc có bằng chứng về sự phát triển bệnh bạch cầu.
Số lượng tế bào máu
Các thay đổi tế bào máu khác xảy ra, bao gồm thiếu máu thoáng qua và tăng tế bào tủy đầu dòng đòi hỏi phải theo dõi chặt chẽ số lượng tế bào.
Biến đổi sang bệnh bạch cầu hoặc hội chứng loạn sản tủy
Cần thận trọng đặc biệt trong việc chẩn đoán phân biệt giảm bạch cầu trung tính mạn tính nặng (SCN) với các rối loạn tạo máu khác như thiếu máu bất sản, loạn sản tủy và bệnh bạch cầu tủy bào. Nên thực hiện đếm huyết cầu toàn phần có phân loại, số lượng tiểu cầu và đánh giá về hình thái tủy xương và karyotype (kiểu nhân) trước khi điều trị.
Có một tần suất thấp (khoảng 3%) về hội chứng loạn sản tủy (MDS) hoặc bệnh bạch cầu ở những bệnh nhân trong thử nghiệm lâm sàng bị giảm bạch cầu trung tính mạn tính nặng (SCN) được điều trị bằng Neupogen. Quan sát này đã được thực hiện chỉ ở bệnh nhân bị giảm bạch cầu trung tính bẩm sinh. Hội chứng loạn sản tủy (MDS) và bệnh bạch cầu là những biến chứng tự nhiên của bệnh và có mối liên quan không chắc chắn với việc điều trị bằng Neupogen. Một phân nhóm khoảng 12% bệnh nhân đã có đánh giá di truyền học tế bào bình thường lúc ban đầu, sau đó được tìm thấy có những bất thường, bao gồm thiếu một nhiễm sắc thể số 7 khi đánh giá lặp lại thường xuyên. Hiện nay chưa rõ liệu điều trị dài hạn cho bệnh nhân bị giảm bạch cầu trung tính mạn tính nặng (SCN) sẽ làm cho bệnh nhân dễ bị biến đổi sang bất thường về di truyền học tế bào, hội chứng loạn sản tủy (MDS) hoặc bệnh bạch cầu hay không. Khuyến cáo nên thực hiện xét nghiệm tủy xương về hình thái học và di truyền học tế bào trên các bệnh nhân ở những khoảng cách đều đặn (khoảng mỗi 12 tháng).
Các thận trọng đặc biệt khác
Các nguyên nhân gây giảm bạch cầu thoáng qua, như nhiễm trùng do virus cần được loại trừ.
Huyết niệu thường gặp và protein niệu xảy ra ở một số lượng nhỏ bệnh nhân. Cần thực hiện xét nghiệm nước tiểu thường xuyên để theo dõi các trường hợp này.
Độ an toàn và hiệu quả ở trẻ sơ sinh và bệnh nhân bị giảm bạch cầu trung tính tự miễn chưa được xác định.
Thận trọng đặc biệt ở bệnh nhân bị nhiễm HIV (virus gây suy giảm miễn dịch ở người)
Số lượng tế bào máu
Cần theo dõi chặt chẽ số lượng bạch cầu trung tính tuyệt đối (ANC), đặc biệt là trong vài tuần đầu tiên điều trị bằng Neupogen. Một số bệnh nhân có thể đáp ứng rất nhanh và tăng đáng kể về số lượng bạch cầu trung tính với liều khởi đầu của Neupogen. Khuyến cáo đo số lượng bạch cầu trung tính tuyệt đối hàng ngày trong 2-3 ngày đầu tiên dùng Neupogen. Sau đó, khuyến cáo nên đo số lượng bạch cầu trung tính tuyệt đối ít nhất 2 lần mỗi tuần trong 2 tuần đầu tiên và sau đó 1 lần mỗi tuần hoặc 1 lần mỗi 2 tuần trong thời gian điều trị duy trì. Trong thời gian dùng thuốc cách quãng với Neupogen 30 MU (300 µg)/ngày, có thể có sự dao động lớn về số lượng bạch cầu trung tính tuyệt đối của bệnh nhân theo thời gian. Để xác định nồng độ đáy của bệnh nhân hoặc mức thấp nhất về số lượng bạch cầu trung tính tuyệt đối, khuyến cáo nên lấy các mẫu máu để đo ANC ngay lập tức trước bất kỳ liều dùng theo lịch trình bằng Neupogen.
Nguy cơ liên quan với tăng liều thuốc ức chế tủy
Điều trị bằng Neupogen đơn độc không loại trừ giảm tiểu cầu và thiếu máu do các thuốc ức chế tủy. Như là kết quả của khả năng nhận được liều cao hơn hoặc một số lượng lớn hơn của các thuốc này với việc điều trị bằng Neupogen, bệnh nhân có thể có nguy cơ cao hơn về phát triển giảm tiểu cầu và thiếu máu. Khuyến cáo theo dõi thường xuyên số lượng tế bào máu (xem ở trên).
Nhiễm trùng và bệnh ác tính gây ức chế tủy
Giảm bạch cầu trung tính có thể do nhiễm trùng cơ hội thâm nhiễm tủy xương như phức hợp Mycobacterium avium hoặc bệnh ác tính như u lympho. Ở những bệnh nhân bị nhiễm trùng hoặc bệnh ác tính thâm nhiễm tủy xương đã biết, cần xem xét liệu pháp thích hợp để điều trị tình trạng có từ trước, ngoài việc sử dụng Neupogen để điều trị giảm bạch cầu trung tính. Tác dụng của Neupogen trên sự giảm bạch cầu trung tính do nhiễm trùng hoặc bệnh ác tính thâm nhiễm tủy xương chưa được xác định.
Tất cả bệnh nhân
Nắp kim của ống tiêm chứa sẵn thuốc có thể chứa cao su tự nhiên khô (một dẫn xuất của latex), có thể gây phản ứng dị ứng.
Neupogen chứa sorbitol (E420). Những bệnh nhân có vấn đề di truyền hiếm gặp về không dung nạp fructose không nên dùng thuốc này.
Neupogen chứa ít hơn 1 mmol (23 mg) natri mỗi 0,6 mg/mL, tức là về cơ bản không có natri.
Để cải thiện khả năng truy xuất nguồn gốc các yếu tố kích thích cụm bạch cầu hạt (G-CSF), tên thương mại của các sản phẩm đã dùng cần được ghi rõ trong hồ sơ bệnh nhân.
Tác động trên khả năng lái xe và vận hành máy móc
Neupogen có thể gây ảnh hưởng nhỏ đến khả năng lái xe và vận hành máy móc. Chóng mặt có thể xảy ra sau khi dùng Neupogen (xem phần Tác dụng không mong muốn).
Register or sign in to continue
Asia's one-stop resource for medical news, clinical reference and education
Sign up for free
Already a member? Sign in