Neupogen

Neupogen

filgrastim

Nhà sản xuất:

Amgen Manufacturing

Nhà phân phối:

Zuellig Pharma
Thông tin kê toa chi tiết tiếng Việt
Thành phần
Mỗi ống tiêm chứa sẵn thuốc 0,5 mL: Filgrastim 30 MU (300 μg).
Filgrastim (yếu tố kích thích cụm bạch cầu hạt của người methionyl tái tổ hợp) được sản xuất bằng kỹ thuật ADN tái tổ hợp (r-DNA) trong E. coli (K12).
Tá dược: Natri acetat*, sorbitol (E420), polysorbat 80, nước pha tiêm.
*Natri acetat được hình thành bằng cách chuẩn độ acid acetic băng với natri hydroxid.
Mô tả
Dung dịch trong suốt, không màu.
Dược lý
Các đặc tính dược lực học
Nhóm dược lý trị liệu:
Các cytokin, mã ATC: L03AA02.
Yếu tố kích thích cụm tế bào hạt của người (G-CSF) là một glycoprotein điều hòa sự sản xuất và phóng thích các bạch cầu trung tính có chức năng từ tủy xương. Neupogen chứa r-metHuG-CSF (filgrastim) làm tăng rõ rệt số lượng bạch cầu trung tính ở máu ngoại vi trong vòng 24 giờ, với sự tăng nhẹ bạch cầu đơn nhân. Ở một số bệnh nhân bị giảm bạch cầu trung tính mạn tính nặng (SCN), filgrastim cũng có thể làm tăng nhẹ về số lượng bạch cầu ưa eosin và bạch cầu ưa base lưu hành so với lúc ban đầu; một số trong những bệnh nhân này có thể có biểu hiện tăng bạch cầu ưa eosin hoặc tăng bạch cầu ưa base trước khi điều trị. Sự tăng số lượng bạch cầu trung tính là phụ thuộc liều ở liều khuyến cáo. Các bạch cầu trung tính được sản xuất đáp ứng với filgrastim cho thấy chức năng bình thường hoặc tăng cường như được thể hiện qua các thử nghiệm về chức năng hóa ứng động và thực bào. Sau khi kết thúc điều trị bằng filgrastim, số lượng bạch cầu trung tính lưu hành giảm 50% trong vòng 1-2 ngày và trở lại mức bình thường trong vòng 1-7 ngày.
Sử dụng filgrastim ở những bệnh nhân đang được dùng hóa trị liệu gây độc tế bào dẫn đến làm giảm có ý nghĩa về tỷ lệ mắc, mức độ nặng và thời gian bị giảm bạch cầu trung tính và giảm bạch cầu trung tính có sốt. Điều trị bằng filgrastim làm giảm có ý nghĩa về thời gian giảm bạch cầu trung tính có sốt, thời gian sử dụng kháng sinh và sự nhập viện sau khi hóa trị liệu cảm ứng đối với bệnh bạch cầu tủy bào cấp tính hoặc điều trị loại bỏ tủy sau đó ghép tủy xương. Tỷ lệ sốt và nhiễm trùng đã được ghi nhận không giảm ở một trong hai bối cảnh. Thời gian sốt không giảm ở bệnh nhân đang được điều trị loại bỏ tủy sau đó ghép tủy xương.
Sử dụng filgrastim, đơn độc hoặc sau hóa trị liệu, huy động các tế bào đầu dòng tạo máu vào trong máu ngoại vi. Những tế bào đầu dòng máu ngoại vi (PBPC) tự thân này có thể được thu thập và được truyền sau hóa trị liệu gây độc tế bào liều cao, thay thế hoặc bổ sung cho việc ghép tủy xương. Truyền tế bào đầu dòng máu ngoại vi (PBPC) làm tăng nhanh sự hồi phục tạo máu, giảm thời gian gặp nguy cơ biến chứng xuất huyết và sự cần thiết phải truyền tiểu cầu.
Những người nhận tế bào đầu dòng máu ngoại vi (PBPC) cùng loài được huy động bằng Neupogen đã có sự hồi phục tạo máu nhanh hơn có ý nghĩa, dẫn đến giảm có ý nghĩa về thời gian dẫn đến hồi phục tiểu cầu không được hỗ trợ khi so với ghép tủy xương cùng loài.
Một nghiên cứu hồi cứu ở châu Âu đánh giá việc sử dụng G-CSF sau ghép tủy xương cùng loài ở những bệnh nhân bị bệnh bạch cầu cấp đã cho thấy tăng nguy cơ về bệnh mảnh ghép chống lại vật chủ (GvHD), tỷ lệ tử vong liên quan đến điều trị (TRM) và tỷ lệ tử vong khi sử dụng G-CSF. Trong một nghiên cứu hồi cứu quốc tế riêng biệt ở bệnh nhân bị bệnh bạch cầu tủy bào cấp tính và mạn tính, không quan sát thấy ảnh hưởng đến nguy cơ về bệnh mảnh ghép chống lại vật chủ (GvHD), tỷ lệ tử vong liên quan đến điều trị (TRM) và tỷ lệ tử vong. Một phân tích tổng hợp các nghiên cứu về ghép cùng loài, bao gồm các kết quả của 9 thử nghiệm ngẫu nhiên theo thời gian, 8 nghiên cứu hồi cứu và 1 nghiên cứu bệnh-chứng đã không phát hiện ảnh hưởng đến nguy cơ về bệnh mảnh ghép chống lại vật chủ (GvHD) cấp tính, mạn tính hoặc tử vong liên quan đến điều trị sớm.
- xem Bảng 1.

Image from Drug Label Content

Sử dụng filgrastim cho việc huy động các tế bào đầu dòng máu ngoại vi (PBPC) ở những người cho bình thường trước khi ghép tế bào đầu dòng máu ngoại vi cùng loài
Ở những người cho bình thường, một liều 10 μg/kg/ngày tiêm dưới da trong 4-5 ngày liên tiếp cho phép thu thập ≥ 4 x 106 tế bào CD34+/kg thể trọng của người nhận ở đa số người cho sau 2 lần gạn tách bạch cầu.
Sử dụng filgrastim ở những bệnh nhân trẻ em hoặc người lớn bị giảm bạch cầu trung tính mạn tính nặng (SCN) (giảm bạch cầu trung tính nặng bẩm sinh, theo chu kỳ và tự phát) gây ra một sự tăng kéo dài về số lượng bạch cầu trung tính tuyệt đối trong máu ngoại vi cùng với giảm nhiễm trùng và các biến cố liên quan.
Sử dụng filgrastim ở bệnh nhân bị nhiễm HIV làm duy trì số lượng bạch cầu trung tính bình thường để cho phép dùng thuốc kháng virus và/hoặc thuốc ức chế tủy khác theo lịch trình. Không có bằng chứng về việc bệnh nhân bị nhiễm HIV được điều trị bằng filgrastim cho thấy sự tăng sao chép HIV.
Cũng như với các yếu tố tăng trưởng tạo máu khác, in vitro G-CSF đã cho thấy đặc tính kích thích tế bào nội mô của người.
Các đặc tính dược động học
Độ thanh thải của filgrastim đã cho thấy theo dược động học bậc 1 sau cả tiêm dưới da và tiêm tĩnh mạch. Thời gian bán thải cuối trong huyết thanh của filgrastim khoảng 3,5 giờ, với tốc độ thanh thải khoảng 0,6 mL/phút/kg. Truyền liên tục với Neupogen trong thời gian lên đến 28 ngày ở những bệnh nhân hồi phục từ ghép tủy xương tự thân đã dẫn đến không có bằng chứng nào về sự tích lũy thuốc và thời gian bán thải thì tương đương. Có mối tương quan tuyến tính rõ ràng giữa liều lượng và nồng độ filgrastim trong huyết thanh, dù tiêm tĩnh mạch hoặc tiêm dưới da. Sau khi tiêm dưới da liều khuyến cáo, nồng độ trong huyết thanh được duy trì trên 10 ng/mL trong 8-16 giờ. Thể tích phân bố trong máu khoảng 150 mL/kg.
Các dữ liệu an toàn tiền lâm sàng
Filgrastim đã được khảo sát trong các nghiên cứu độc tính liều lặp lại với thời gian lên đến 1 năm, cho thấy những thay đổi được quy cho là do các tác dụng dược lý dự kiến bao gồm tăng bạch cầu, tăng sản tủy ở tủy xương, tạo máu ngoài tủy và lách to. Những thay đổi này đều hồi phục sau khi ngưng điều trị.
Ảnh hưởng của filgrastim đến sự phát triển trước khi sinh đã được nghiên cứu ở chuột cống và thỏ. Tiêm tĩnh mạch filgrastim (80 μg/kg/ngày) cho thỏ trong thời kỳ hình thành cơ quan gây độc cho thỏ mẹ và đã quan sát thấy tăng sẩy thai tự nhiên, mất phôi sau khi làm tổ, giảm kích thước lứa đẻ còn sống và cân nặng của thai trung bình.
Dựa trên dữ liệu báo cáo về một sản phẩm filgrastim khác tương tự như Neupogen, các phát hiện tương đương cộng với tăng dị tật thai đã được quan sát thấy ở liều 100 μg/kg/ngày là liều gây độc đối với thỏ mẹ, tương ứng với một nồng độ toàn thân gấp khoảng 50-90 lần nồng độ được quan sát thấy ở những bệnh nhân được điều trị với liều trên lâm sàng 5 μg/kg/ngày. Nồng độ không quan sát thấy tác động có hại đối với độc tính phôi-thai trong nghiên cứu này là 10 μg/kg/ngày, tương ứng với một nồng độ toàn thân gấp khoảng 3-5 lần so với nồng độ được quan sát thấy ở bệnh nhân điều trị với liều trên lâm sàng.
Ở chuột cống mang thai, không quan sát thấy độc tính đối với chuột mẹ hoặc thai ở liều lên đến 575 μg/kg/ngày. Con của chuột cống được dùng filgrastim trong các giai đoạn chu sinh và cho con bú đã cho thấy chậm trễ trong sự biệt hóa bên ngoài và chậm phát triển (≥ 20 μg/kg/ngày) và tỷ lệ sống còn giảm nhẹ (100 μg/kg/ngày).
Filgrastim không có ảnh hưởng được quan sát thấy trên khả năng sinh sản của chuột cống đực hoặc cái.
Chỉ định/Công dụng
Neupogen được chỉ định để làm giảm thời gian bị giảm bạch cầu trung tính và làm giảm tỷ lệ giảm bạch cầu trung tính có sốt ở bệnh nhân người lớn được điều trị bằng hóa trị liệu gây độc tế bào đã được thiết lập đối với bệnh ác tính (ngoại trừ bệnh bạch cầu tủy bào mạn tính và hội chứng loạn sản tủy) và để làm giảm thời gian bị giảm bạch cầu trung tính ở những bệnh nhân được điều trị loại bỏ tủy sau đó ghép tủy xương được xem là có tăng nguy cơ bị giảm bạch cầu trung tính nặng kéo dài.
Độ an toàn và hiệu quả của Neupogen tương tự nhau ở người lớn và trẻ em được dùng hóa trị liệu gây độc tế bào.
Neupogen được chỉ định để huy động các tế bào đầu dòng máu ngoại vi (PBPC).
Ở những bệnh nhân trẻ em hoặc người lớn bị giảm bạch cầu trung tính nặng bẩm sinh, theo chu kỳ hoặc tự phát với số lượng bạch cầu trung tính tuyệt đối (ANC) ≤ 0,5 x 109/L và có tiền sử nhiễm trùng nặng hoặc tái phát, việc sử dụng Neupogen dài hạn được chỉ định để làm tăng Số lượng bạch cầu trung tính và làm giảm tỷ lệ và thời gian bị các biến cố liên quan với nhiễm trùng.
Neupogen được chỉ định để điều trị giảm bạch cầu trung tính dai dẳng (số lượng bạch cầu trung tính tuyệt đối (ANC) ≤ 1,0 x 109/L) ở những bệnh nhân bị nhiễm HIV (virus gây suy giảm miễn dịch ở người) tiến triển nhằm làm giảm nguy cơ nhiễm khuẩn khi các lựa chọn khác để xử trí giảm bạch cầu trung tính không thích hợp.
Liều dùng/Hướng dẫn sử dụng
Việc điều trị bằng Neupogen chỉ nên được đưa ra trong sự kết hợp với một trung tâm ung thư có kinh nghiệm trong điều trị bằng G-CSF và huyết học và có các phương tiện chẩn đoán cần thiết. Các quy trình huy động và gạn tách máu nên được thực hiện trong sự hợp tác với một trung tâm ung thư-huyết học có kinh nghiệm chấp nhận được trong lĩnh vực này và khi việc theo dõi tế bào đầu dòng tạo máu có thể được thực hiện chính xác.
Hóa trị liệu gây độc tế bào đã được thiết lập
Liều lượng
Liều khuyến cáo của Neupogen là 0,5 MU (5 μg)/kg/ngày. Nên dùng liều Neupogen đầu tiên ít nhất 24 giờ sau hóa trị liệu gây độc tế bào. Trong các thử nghiệm lâm sàng ngẫu nhiên, một liều tiêm dưới da 230 μg/m2/ngày(4,0-8,4 μg/kg/ngày) đã được sử dụng.
Liều dùng hàng ngày bằng Neupogen nên tiếp tục cho đến khi đạt được mức bạch cầu trung tính thấp nhất theo dự kiến và số lượng bạch cầu trung tính đã hồi phục về mức bình thường. Sau khi hóa trị liệu đã được thiết lập đối với các khối u rắn, u lympho và bệnh bạch cầu lympho, dự kiến là thời gian điều trị cần thiết để thực hiện đầy đủ các tiêu chuẩn này sẽ lên đến 14 ngày. Sau điều trị cảm ứng và điều trị củng cố đối với bệnh bạch cầu tủy bào cấp tính, thời gian điều trị có thể dài hơn đáng kể (lên đến 38 ngày) tùy thuộc vào loại, liều dùng và lịch trình của hóa trị liệu gây độc tế bào được sử dụng.
Ở những bệnh nhân được dùng hóa trị liệu gây độc tế bào, tăng thoáng qua về số lượng bạch cầu trung tính thường gặp 1-2 ngày sau khi bắt đầu điều trị bằng Neupogen. Tuy nhiên, để có đáp ứng điều trị kéo dài, không nên ngừng điều trị bằng Neupogen trước khi đạt được mức bạch cầu trung tính thấp nhất theo dự kiến và số lượng bạch cầu trung tính đã hồi phục về mức bình thường. Không khuyến cáo ngừng sử dụng sớm điều trị bằng Neupogen trước thời điểm đạt được mức bạch cầu trung tính thấp nhất theo dự kiến.
Cách dùng
Neupogen có thể được dùng dưới dạng một liều tiêm dưới da hàng ngày hoặc truyền tĩnh mạch hàng ngày pha loãng trong dung dịch glucose 5% trong 30 phút (xem phần Những lưu ý đặc biệt khi hủy bỏ và xử lý khác). Đường tiêm dưới da được ưa thích hơn trong hầu hết các trường hợp. Có một số bằng chứng từ một nghiên cứu sử dụng liều đơn mà liều tiêm tĩnh mạch có thể rút ngắn thời gian tác dụng. Ý nghĩa lâm sàng của phát hiện này đối với việc sử dụng đa liều là không rõ ràng. Sự lựa chọn đường dùng nên tùy thuộc vào từng tình huống lâm sàng riêng biệt.
Ở bệnh nhân được điều trị loại bỏ tủy sau đó ghép tủy xương
Liều lượng
Liều khởi đầu khuyến cáo của Neupogen là 1,0 MU (10 μg)/kg/ngày. Nên dùng liều Neupogen đầu tiên ít nhất 24 giờ sau hóa trị liệu gây độc tế bào và ít nhất 24 giờ sau khi truyền tủy xương.
Một khi đã đạt được mức bạch cầu trung tính thấp nhất, liều hàng ngày của Neupogen nên được chuẩn độ dựa vào đáp ứng bạch cầu trung tính như sau:

Image from Drug Label Content

Cách dùng
Neupogen có thể được dùng dưới dạng truyền tĩnh mạch trong 30 phút hoặc 24 giờ hoặc truyền dưới da liên tục 24 giờ. Nên pha loãng Neupogen trong 20 mL dung dịch glucose 5% (xem phần Những lưu ý đặc biệt khi hủy bỏ và xử lý khác).
Đối với việc huy động các tế bào đầu dòng máu ngoại vi (PBPC) ở những bệnh nhân được điều trị ức chế tủy hoặc loại bỏ tủy sau đó ghép tế bào đầu dòng máu ngoại vi (PBPC) tự thân
Liều lượng
Liều khuyến cáo của Neupogen đối với việc huy động các tế bào đầu dòng máu ngoại vi (PBPC) khi được sử dụng đơn độc là 1,0 MU (10 μg)/kg/ngày trong 5-7 ngày liên tiếp. Thời gian gạn tách bạch cầu: một hoặc hai lần gạn tách bạch cầu vào ngày thứ 5 và ngày thứ 6 thường là đủ. Trong các trường hợp khác, gạn tách bạch cầu thêm có thể cần thiết. Nên duy trì liều Neupogen cho đến lần gạn tách bạch cầu cuối cùng.
Liều khuyến cáo của Neupogen đối với việc huy động các tế bào đầu dòng máu ngoại vi (PBPC) sau hóa trị liệu ức chế tủy là 0,5 MU (5 μg)/kg/ngày từ ngày đầu tiên sau khi hoàn thành hóa trị liệu cho đến khi đạt được mức bạch cầu trung tính thấp nhất theo dự kiến và số lượng bạch cầu trung tính đã hồi phục về mức bình thường. Gạn tách bạch cầu nên được thực hiện trong thời gian khi số lượng bạch cầu trung tính tuyệt đối (ANC) tăng từ < 0,5 x 109/L đến > 5,0 x 109/L. Đối với những bệnh nhân không được dùng hóa trị liệu mạnh, một lần gạn tách bạch cầu là đủ. Trong các trường hợp khác, gạn tách bạch cầu thêm được khuyến cáo.
Cách dùng
Neupogen đối với việc huy động các tế bào đầu dòng máu ngoại vi (PBPC) khi được sử dụng đơn độc:
Neupogen có thể được dùng dưới dạng truyền dưới da liên tục 24 giờ hoặc tiêm dưới da. Đối với các lần truyền, cần pha loãng Neupogen trong 20 mL dung dịch glucose 5% (xem phần Những lưu ý đặc biệt khi hủy bỏ và xử lý khác).
Neupogen đối với việc huy động các tế bào đầu dòng máu ngoại vi (PBPC) sau hóa trị liệu ức chế tủy:
Neupogen nên được dùng bằng đường tiêm dưới da.
Đối với việc huy động các tế bào đầu dòng máu ngoại vi (PBPC) ở những người cho bình thường trước khi ghép tế bào đầu dòng máu ngoại vi (PBPC) cùng loài
Liều lượng
Đối với việc huy động các tế bào đầu dòng máu ngoại vi (PBPC) ở những người cho bình thường, nên dùng Neupogen với liều 1,0 MU (10 μg)/kg/ngày trong 4-5 ngày liên tiếp. Nên bắt đầu gạn tách bạch cầu vào ngày thứ 5 và tiếp tục cho đến ngày thứ 6 nếu cần thiết để thu thập 4 x 106 tế bào CD34+/kg thể trọng của người nhận.
Cách dùng
Neupogen nên được dùng bằng đường tiêm dưới da.
Ở bệnh nhân bị giảm bạch cầu trung tính mạn tính nặng (SCN)
Liều lượng
Giảm bạch cầu trung tính bẩm sinh: liều khởi đầu khuyến cáo là 1,2 MU (12 μg)/kg/ngày, dưới dạng một liều đơn hoặc chia làm nhiều lần.
Giảm bạch cầu trung tính theo chu kỳ hoặc tự phát: liều khởi đầu khuyến cáo là 0,5 MU (5 μg)/kg/ngày dưới dạng một liều đơn hoặc chia làm nhiều lần.
Điều chỉnh liều: Neupogen nên được dùng hàng ngày bằng cách tiêm dưới da cho đến khi số lượng bạch cầu trung tính đã đạt được và có thể được duy trì ở mức hơn 1,5 x 109/L. Khi đã đạt được đáp ứng, nên xác định liều thấp nhất có hiệu quả để duy trì mức này. Cần sử dụng hàng ngày dài hạn để duy trì số lượng bạch cầu trung tính đầy đủ. Sau 1-2 tuần điều trị, liều khởi đầu có thể được tăng gấp đôi hoặc giảm một nửa tùy thuộc vào đáp ứng của bệnh nhân. Sau đó có thể điều chỉnh liều theo từng bệnh nhân mỗi 1-2 tuần để duy trì số lượng bạch cầu trung tính trung bình từ 1,5 x 109/L đến 10 x 109/L. Có thể xem xét một lịch trình tăng liều nhanh hơn ở những bệnh nhân có biểu hiện nhiễm trùng nặng. Trong các thử nghiệm lâm sàng, 97% bệnh nhân đáp ứng đã có đáp ứng hoàn toàn với liều ≤24 μg/kg/ngày. Độ an toàn dài hạn của việc sử dụng Neupogen trên 24 μg/kg/ngày ở những bệnh nhân bị giảm bạch cầu trung tính mạn tính nặng (SCN) chưa được xác định.
Cách dùng
Giảm bạch cầu trung tính bẩm sinh, tự phát hoặc theo chu kỳ: Neupogen nên được dùng bằng đường tiêm dưới da.
Ở bệnh nhân bị nhiễm HIV (virus gây suy giảm miễn dịch ở người)
Liều lượng
Đối với việc đảo ngược sự giảm bạch cầu trung tính:
Liều khởi đầu khuyến cáo của Neupogen là 0,1 MU (1 μg)/kg/ngày, với sự chuẩn độ lên đến tối đa 0,4 MU (4 μg)/kg/ngày cho đến khi số lượng bạch cầu trung tính bình thường đã đạt được và có thể được duy trì (số lượng bạch cầu trung tính tuyệt đối (ANC) > 2,0 x 109/L). Trong các nghiên cứu lâm sàng, > 90% bệnh nhân đã đáp ứng ở những liều này, đạt được sự đảo ngược việc giảm bạch cầu trung tính trung bình là 2 ngày.
Ở một số lượng nhỏ bệnh nhân (< 10%), các liều lên đến 1,0 MU (10 μg)/kg/ngày đã được yêu cầu để đạt được sự đảo ngược việc giảm bạch cầu trung tính.
Để duy trì số lượng bạch cầu trung tính bình thường:
Khi đã đạt được sự đảo ngược việc giảm bạch cầu trung tính, nên xác định liều thấp nhất có hiệu quả để duy trì số lượng bạch cầu trung tính bình thường. Khuyến cáo điều chỉnh liều khởi đầu sang dùng thuốc cách ngày với 30 MU (300 μg)/ngày. Điều chỉnh liều hơn nữa có thể cần thiết, như được xác định bởi số lượng bạch cầu trung tính tuyệt đối (ANC) của bệnh nhân, để duy trì số lượng bạch cầu trung tính ở mức > 2,0 x 109/L. Trong các nghiên cứu lâm sàng, liều dùng 30 MU (300 μg)/ngày trong 1-7 ngày/tuần là cần thiết để duy trì ANC> 2,0 x 109/L, với tần suất dùng liều thuốc trung bình là 3 ngày/tuần. Có thể cần phải sử dụng dài hạn để duy trì ANC> 2,0 x 109/L.
Cách dùng
Đảo ngược giảm bạch cầu trung tính hoặc duy trì số lượng bạch cầu trung tính bình thường: Neupogen nên được dùng bằng đường tiêm dưới da.
Người cao tuổi
Các thử nghiệm lâm sàng với Neupogen đã bao gồm một số lượng nhỏ các bệnh nhân cao tuổi nhưng các nghiên cứu đặc biệt đã không được thực hiện ở nhóm này và do đó khuyển cáo liều lượng cụ thể không thể được thực hiện.
Bệnh nhân suy thận
Các nghiên cứu về Neupogen ở những bệnh nhân bị suy chức năng thận hoặc gan nặng cho thấy nó thể hiện hồ sơ dược động học và dược lực học tương tự với hồ sơ đã quan sát thấy ở người bình thường. Không cần thiết điều chỉnh liều trong những trường hợp này.
Sử dụng ở trẻ em trong bối cảnh giảm bạch cầu trung tính mạn tính nặng (SCN) và ung thư
65% bệnh nhân được nghiên cứu trong chương trình thử nghiệm về giảm bạch cầu trung tính mạn tính nặng (SCN) là dưới 18 tuổi. Hiệu quả điều trị thấy rõ ràng ở nhóm tuổi này, trong đó bao gồm hầu hết các bệnh nhân bị giảm bạch cầu trung tính bẩm sinh. Không có sự khác biệt trong hồ sơ về an toàn đối với bệnh nhân trẻ em được điều trị giảm bạch cầu trung tính mạn tính nặng (SCN).
Dữ liệu từ các nghiên cứu lâm sàng ở bệnh nhân trẻ em cho thấy độ an toàn và hiệu quả của Neupogen tương tự nhau ở cả người lớn và trẻ em được dùng hóa trị liệu gây độc tế bào.
Các khuyến cáo về liều dùng ở bệnh nhân trẻ em tương tự như ở người lớn được dùng hóa trị liệu gây độc tế bào và ức chế tủy.
Quá liều
Những ảnh hưởng của quá liều Neupogen chưa được xác định. Ngừng điều trị bằng Neupogen thường dẫn đến giảm 50% về số lượng bạch cầu trung tính lưu hành trong vòng 1-2 ngày và trở lại mức bình thường trong vòng 1-7 ngày.
Không có dữ liệu về sử dụng thuốc quá liều, không dùng quá liều chỉ định của thuốc.
Tích cực theo dõi để có biện pháp xử trí kịp thời.
Chống chỉ định
Quá mẫn với hoạt chất hoặc với bất kỳ tá dược nào được liệt kê trong phần Thành phần.
Cảnh báo
Các cảnh báo và thận trọng đặc biệt liên quan đến chỉ định
Quá mẫn
Quá mẫn, bao gồm cả phản ứng phản vệ, xảy ra lúc điều trị khởi đầu hoặc sau đó đã được báo cáo ở những bệnh nhân được điều trị bằng Neupogen. Ngừng dùng Neupogen vĩnh viễn ở bệnh nhân bị quá mẫn có ý nghĩa lâm sàng. Không được dùng Neupogen cho bệnh nhân có tiền sử quá mẫn với filgrastim hoặc pegfilgrastim.
Các phản ứng bất lợi ở phổi
Các phản ứng bất lợi ở phổi, đặc biệt là bệnh phổi kẽ, đã được báo cáo sau khi dùng G-CSF. Bệnh nhân có tiền sử gần đây bị thâm nhiễm phổi hoặc viêm phổi có thể có nguy cơ cao hơn. Khởi phát các dấu hiệu ở phổi như ho, sốt và khó thở kết hợp với các dấu hiệu X-quang về thâm nhiễm phổi và suy giảm chức năng phổi có thể là dấu hiệu ban đầu của hội chứng suy hô hấp cấp (ARDS). Nên ngừng Neupogen và sử dụng điều trị thích hợp.
Viêm cầu thận
Viêm cầu thận đã được báo cáo ở những bệnh nhân sử dụng filgrastim và pegfilgrastim. Thông thường các biến cố viêm cầu thận được giải quyết sau khi giảm liều hoặc ngừng sử dụng filgrastim và pegfilgrastim. Khuyến cáo theo dõi xét nghiệm nước tiểu.
Hội chứng rò rỉ mao mạch
Hội chứng rò rỉ mao mạch, có thể đe dọa tính mạng nếu điều trị chậm trễ đã được báo cáo sau khi sử dụng yếu tố kích thích cụm bạch cầu hạt và được đặc trưng bởi hạ huyết áp, giảm albumin máu, phù và cô đặc máu. Những bệnh nhân có các triệu chứng của hội chứng rò rỉ mao mạch cần được theo dõi chặt chẽ và được điều trị triệu chứng tiêu chuẩn, có thể bao gồm nhu cầu chăm sóc đặc biệt (xem phần Tác dụng không mong muốn).
Lách to và vỡ lách
Nhìn chung, các trường hợp lách to không có triệu chứng và vỡ lách đã được báo cáo ở bệnh nhân và những người cho tặng cơ quan bình thường sau khi dùng Neupogen. Một số trường hợp vỡ lách đã tử vong. Do đó cần theo dõi kích thước lách cẩn thận (ví dụ khám lâm sàng, siêu âm). Nên xem xét chẩn đoán vỡ lách ở những người cho và/hoặc bệnh nhân báo cáo đau vùng bụng trên bên trái hoặc đau mỏm vai trái. Giảm liều dùng Neupogen đã được ghi nhận làm chậm hoặc dừng quá trình phì đại lách ở bệnh nhân giảm bạch cầu mạn tính nặng, và 3% bệnh nhân bị yêu cầu cắt lách.
Sự tăng trưởng tế bào ác tính
Yếu tố kích thích cụm bạch cầu hạt có thể thúc đẩy sự tăng trưởng của tế bào tủy in vitro và các tác dụng tương tự có thể được quan sát thấy trên một số tế bào ngoài tủy in vitro.
Hội chứng loạn sản tủy hoặc bệnh bạch cầu tủy bào mạn tính
Độ an toàn và hiệu quả của việc sử dụng Neupogen ở bệnh nhân bị hội chứng loạn sản tủy hoặc bệnh bạch cầu tủy bào mạn tính chưa được xác định. Neupogen không được chỉ định để sử dụng trong những tình trạng này. Cần đặc biệt chú ý để chẩn đoán phân biệt sự chuyển dạng nguyên bào của bệnh bạch cầu tủy bào mạn tính với bệnh bạch cầu tủy bào cấp tính.
Bệnh bạch cầu tủy bào cấp tính
Do dữ liệu về độ an toàn và hiệu quả còn hạn chế ở những bệnh nhân bị bệnh bạch cầu tủy bào cấp tính (AML) thứ phát, Neupogen nên được dùng thận trọng. Độ an toàn và hiệu quả của việc sử dụng Neupogen ở những bệnh nhân bị bệnh bạch cầu tủy bào cấp tính (AML) de novo < 55 tuổi có đặc điểm di truyền học tế bào xác đáng (t(8;21), t(15;17), và inv(16)) chưa được xác định.
Giảm tiểu cầu
Giảm tiểu cầu đã được báo cáo thường gặp ở những bệnh nhân được điều trị bằng Neupogen. Cần theo dõi chặt chẽ số lượng tiểu cầu, đặc biệt là trong vài tuần đầu tiên điều trị bằng Neupogen. Nên xem xét ngừng tạm thời hoặc giảm liều Neupogen ở những bệnh nhân mắc bệnh giảm bạch cầu mạn tính nặng có phát sinh giảm tiểu cầu (tiểu cầu < 100 x 109/L).
Tăng bạch cầu
Số lượng bạch cầu 100 x 109/L hoặc nhiều hơn đã được quan sát thấy dưới 5% bệnh nhân sử dụng Neupogen với liều trên 0,3 MU/kg/ngày (3 µg/kg/ngày). Không có phản ứng bất lợi nào có thể trực tiếp quy cho mức độ tăng bạch cầu này đã được báo cáo. Tuy nhiên, do nguy cơ tiềm ẩn liên quan với tăng bạch cầu nặng, cần thực hiện xét nghiệm số lượng bạch cầu ở các khoảng cách đều đặn trong khi điều trị bằng Neupogen. Nếu số lượng bạch cầu vượt quá 50 x109/L sau mức thấp nhất dự kiến, phải ngừng Neupogen ngay lập tức. Tuy nhiên, trong khoảng thời gian sử dụng Neupogen đối với việc huy động các tế bào đầu dòng máu ngoại vi (PBPC), nên ngừng sử dụng hoặc giảm liều Neupogen nếu số lượng bạch cầu tăng lên > 70 x 109/L.
Tính sinh miễn dịch
Cũng như với tất cả các protein điều trị, có một khả năng về tính sinh miễn dịch. Tỷ lệ thế hệ kháng thể kháng filgrastim thường là thấp. Kháng thể gắn kết xảy ra như dự kiến với tất cả các thuốc sinh học, tuy nhiên hiện nay chúng không liên quan với hoạt tính trung hòa.
Viêm động mạch chủ
Viêm động mạch chủ đã được báo cáo sau khi dùng G-CSF ở các đối tượng khỏe mạnh và bệnh nhân ung thư. Triệu chứng thu được bao gồm sốt, đau bụng, khó chịu, đau lưng và tăng dấu hiệu viêm (ví dụ protein phản ứng C và số lượng bạch cầu). Trong phần lớn các trường hợp, viêm động mạch chủ được chẩn đoán bằng chụp CT và thường hồi phục sau khi ngừng dùng GCSF. Xem thêm phần Tác dụng không mong muốn.
Cảnh báo và thận trọng đặc biệt liên quan đến bệnh kèm theo
Thận trọng đặc biệt ở bệnh nhân có đặc điểm hồng cầu hình liềm hoặc bệnh hồng cầu hình liềm
Các cơn hồng cầu hình liềm, gây tử vong trong một số trường hợp, đã được báo cáo với việc sử dụng Neupogen ở những bệnh nhân có đặc điểm hồng cầu hình liềm hoặc bệnh hồng cầu hình liềm. Bác sĩ cần thận trọng khi kê đơn Neupogen ở bệnh nhân có đặc điểm hồng cầu hình liềm hoặc bệnh hồng cầu hình liềm.
Loãng xương
Theo dõi mật độ xương có thể được chỉ định ở những bệnh nhân bị bệnh về xương do loãng xương có từ trước được điều trị liên tục bằng Neupogen trong hơn 6 tháng.
Thận trọng đặc biệt ở bệnh nhân ung thư
Neupogen không nên được sử dụng để tăng liều hóa trị liệu gây độc tế bào vượt quá phác đồ liều dùng đã được thiết lập.
Các nguy cơ liên quan với tăng liều hóa trị liệu
Cần đặc biệt thận trọng khi điều trị cho bệnh nhân được dùng hóa trị liệu liều cao vì sự cải thiện kết quả khối u chưa được chứng minh, liều tăng cường của các thuốc hóa trị liệu có thể dẫn đến tăng độc tính bao gồm các tác dụng trên tim, phổi, thần kinh và da (xin tham khảo thông tin kê đơn của các thuốc hóa trị liệu đặc hiệu được sử dụng).
Ảnh hưởng của hóa trị liệu lên hồng cầu và tiểu cầu
Điều trị bằng Neupogen đơn độc không loại trừ giảm tiểu cầu và thiếu máu do hóa trị liệu ức chế tủy. Do khả năng được dùng hóa trị liều cao (ví dụ liều đầy đủ trong liệu trình đã được kê đơn) bệnh nhân có thể có nguy cơ cao về giảm tiểu cầu và thiếu máu. Khuyến cáo theo dõi thường xuyên số lượng tiểu cầu và hematocrit. Cần thận trọng đặc biệt khi dùng các thuốc hóa trị liệu đơn độc hoặc phối hợp đã được biết là gây giảm tiểu cầu nặng.
Việc sử dụng Neupogen huy động các tế bào đầu dòng máu ngoại vi (PBPC) đã cho thấy là làm giảm cường độ và thời gian giảm tiểu cầu sau hóa trị ức chế tủy hoặc loại bỏ tủy.
Các thận trọng đặc biệt khác
Các ảnh hưởng của Neupogen ở bệnh nhân có tế bào tủy đầu dòng giảm có ý nghĩa chưa được nghiên cứu. Neupogen tác dụng chủ yếu trên tiền chất của bạch cầu trung tính để phát huy hiệu quả của nó trong việc làm tăng số lượng bạch cầu trung tính. Do đó ở những bệnh nhân có tiền chất bị giảm, đáp ứng bạch cầu trung tính có thể bị giảm (như những người được điều trị bằng xạ trị hoặc hóa trị liệu mạnh hoặc những người có thâm nhiễm tủy xương do khối u).
Rối loạn mạch, bao gồm cả bệnh tắc tĩnh mạch và rối loạn thể tích dịch, thỉnh thoảng đã được báo cáo ở những bệnh nhân dùng hóa trị liệu liều cao sau đó là ghép.
Đã có báo cáo về bệnh mảnh ghép chống lại vật chủ (GvHD) và tử vong ở bệnh nhân được dùng G-CSF sau khi ghép tủy xương cùng loài (xem phần Tác dụng không mong muốnCác đặc tính dược lực học).
Tăng hoạt tính tạo máu của tủy xương đáp ứng với trị liệu bằng yếu tố tăng trưởng có liên quan với kết quả chụp hình ảnh xương dương tính thoáng qua. Điều này nên được xem xét khi giải thích kết quả chụp hình ảnh xương.
Thận trọng đặc biệt ở bệnh nhân được huy động các tế bào đầu dòng máu ngoại vi (PBPC)
Huy động
Không có so sánh ngẫu nhiên theo thời gian về hai phương pháp huy động được khuyến cáo (Neupogen đơn độc hoặc kết hợp với hóa trị liệu ức chế tủy) trong cùng một nhóm bệnh nhân. Mức độ thay đổi giữa các bệnh nhân riêng biệt và giữa các xét nghiệm về tế bào CD34+ có nghĩa là khó so sánh trực tiếp giữa các nghiên cứu khác nhau. Do đó khó khuyến cáo một phương pháp tối ưu. Nên xem xét lựa chọn phương pháp huy động liên quan đến mục tiêu chung của điều trị cho một bệnh nhân riêng biệt.
Sử dụng thuốc gây độc tế bào trước đó
Những bệnh nhân đã được điều trị ức chế tủy trước đó rất mạnh có thể không cho thấy sự huy động đầy đủ các tế bào đầu dòng máu ngoại vi (PBPC) để đạt hiệu suất tối thiểu được khuyến cáo (≥ 2,0 x 106 tế bào CD34+/kg) hoặc tăng nhanh sự hồi phục tiểu cầu ở cùng một mức độ.
Một số thuốc gây độc tế bào biểu hiện độc tính đặc biệt đối với kho dự trữ tế bào đầu dòng tạo máu và có thể ảnh hưởng bất lợi đến sự huy động tế bào đầu dòng. Các thuốc như melphalan, carmustine (BCNU) và carboplatin, khi được dùng trong những khoảng thời gian dài trước khi nỗ lực huy động các tế bào đầu dòng có thể làm giảm hiệu suất của tế bào đầu dòng. Tuy nhiên, việc sử dụng melphalan, carboplatin hoặc BCNU cùng với Neupogen đã cho thấy là có hiệu quả đối với việc huy động các tế bào đầu dòng. Khi sự ghép tế bào đầu dòng máu ngoại vi (PBPC) được dự kiến, nên lập kế hoạch về quy trình huy động tế bào gốc sớm trong liệu trình điều trị của bệnh nhân. Cần đặc biệt chú ý số lượng tế bào đầu dòng được huy động ở những bệnh nhân này trước khi sử dụng hóa trị liệu liều cao. Nếu hiệu suất không đầy đủ, được đo bằng các tiêu chuẩn trên, nên xem xét các dạng điều trị thay thế, không cần đến sự hỗ trợ của tế bào đầu dòng.
Đánh giá hiệu suất của tế bào đầu dòng
Khi đánh giá số lượng tế bào đầu dòng thu được ở những bệnh nhân được điều trị bằng Neupogen, cần đặc biệt chú ý đến phương pháp định lượng. Kết quả phân tích đếm tế bào dòng chảy về số lượng tế bào CD34+ khác nhau tùy thuộc vào phương pháp chính xác được sử dụng và khuyến cáo về số lượng dựa trên các nghiên cứu trong các phòng thí nghiệm khác cần phải được diễn giải thận trọng.
Phân tích thống kê mối quan hệ giữa số lượng tế bào CD34+ được tái truyền và tỷ lệ hồi phục tiểu cầu sau hóa trị liệu liều cao cho thấy một mối quan hệ phức tạp nhưng liên tục.
Khuyến cáo về hiệu suất tối thiểu ≥ 2,0 x 106 tế bào CD34+/kg được dựa trên kinh nghiệm đã công bố dẫn đến sự tái tạo máu đầy đủ. Hiệu suất vượt quá lượng này dường như tương quan với sự hồi phục nhanh hơn, hiệu suất dưới lượng này tương quan với sự hồi phục chậm hơn.
Thận trọng đặc biệt ở những người cho bình thường được huy động các tế bào đầu dòng máu ngoại vi (PBPC)
Việc huy động các tế bào đầu dòng máu ngoại vi (PBPC) không đem lại lợi ích lâm sàng trực tiếp cho những người cho bình thường và chỉ nên xem xét cho mục đích ghép tế bào gốc cùng loài.
Chỉ nên xem xét huy động các tế bào đầu dòng máu ngoại vi (PBPC) ở những người cho đã đáp ứng đủ tiêu chuẩn lâm sàng và xét nghiệm bình thường về cho tế bào gốc với sự chú ý đặc biệt đến các giá trị xét nghiệm huyết học và bệnh nhiễm trùng.
Độ an toàn và hiệu quả của Neupogen chưa được đánh giá ở những người cho bình thường < 16 tuổi hoặc > 60 tuổi.
Giảm tiểu cầu thoáng qua (tiểu cầu < 100 x 109/L) sau khi dùng filgrastim và gạn tách bạch cầu đã được quan sát thấy ở 35% đối tượng nghiên cứu. Trong số này, hai trường hợp tiểu cầu < 50 x109/L đã được báo cáo và được quy cho là do quy trình gạn tách bạch cầu.
Nếu cần nhiều hơn một lần gạn tách bạch cầu, phải đặc biệt chú ý đến những người cho có tiểu cầu < 100 × 109/L trước khi gạn tách bạch cầu; nói chung không nên thực hiện gạn tách máu nếu tiểu cầu < 75 x 109/L.
Không nên thực hiện gạn tách bạch cầu ở những người cho đang được điều trị chống đông hoặc những người đã biết khiếm khuyết về cầm máu.
Nên theo dõi những người cho được dùng G-CSF để huy động các tế bào đầu dòng máu ngoại vi (PBPC) cho đến khi các chỉ số huyết học trở về bình thường.
Các bất thường về di truyền học tế bào thoáng qua đã được quan sát thấy ở những người cho bình thường sau khi dùng G-CSF. Chưa rõ ý nghĩa của những thay đổi này. Tuy nhiên, không thể loại trừ nguy cơ thúc đẩy một clon tế bào tủy ác tính. Khuyến cáo rằng trung tâm gạn tách máu nên thực hiện một bảng ghi chép có hệ thống và theo dõi những người cho tế bào gốc trong ít nhất 10 năm để đảm bảo theo dõi về an toàn dài hạn.
Thận trọng đặc biệt ở người nhận tế bào đầu dòng máu ngoại vi (PBPC) cùng loài được huy động bằng Neupogen
Dữ liệu hiện nay cho thấy sự tương tác về miễn dịch giữa ghép tế bào đầu dòng máu ngoại vi (PBPC) cùng loài và người nhận có thể liên quan với tăng nguy cơ về bệnh mảnh ghép chống lại vật chủ (GvHD) cấp và mạn tính khi so với ghép tủy xương.
Thận trọng đặc biệt ở bệnh nhân bị giảm bạch cầu trung tính mạn tính nặng (SCN)
Không nên dùng Neupogen cho những bệnh nhân bị giảm bạch cầu trung tính bẩm sinh nặng phát triển bệnh bạch cầu hoặc có bằng chứng về sự phát triển bệnh bạch cầu.
Số lượng tế bào máu
Các thay đổi tế bào máu khác xảy ra, bao gồm thiếu máu thoáng qua và tăng tế bào tủy đầu dòng đòi hỏi phải theo dõi chặt chẽ số lượng tế bào.
Biến đổi sang bệnh bạch cầu hoặc hội chứng loạn sản tủy
Cần thận trọng đặc biệt trong việc chẩn đoán phân biệt giảm bạch cầu trung tính mạn tính nặng (SCN) với các rối loạn tạo máu khác như thiếu máu bất sản, loạn sản tủy và bệnh bạch cầu tủy bào. Nên thực hiện đếm huyết cầu toàn phần có phân loại, số lượng tiểu cầu và đánh giá về hình thái tủy xương và karyotype (kiểu nhân) trước khi điều trị.
Có một tần suất thấp (khoảng 3%) về hội chứng loạn sản tủy (MDS) hoặc bệnh bạch cầu ở những bệnh nhân trong thử nghiệm lâm sàng bị giảm bạch cầu trung tính mạn tính nặng (SCN) được điều trị bằng Neupogen. Quan sát này đã được thực hiện chỉ ở bệnh nhân bị giảm bạch cầu trung tính bẩm sinh. Hội chứng loạn sản tủy (MDS) và bệnh bạch cầu là những biến chứng tự nhiên của bệnh và có mối liên quan không chắc chắn với việc điều trị bằng Neupogen. Một phân nhóm khoảng 12% bệnh nhân đã có đánh giá di truyền học tế bào bình thường lúc ban đầu, sau đó được tìm thấy có những bất thường, bao gồm thiếu một nhiễm sắc thể số 7 khi đánh giá lặp lại thường xuyên. Hiện nay chưa rõ liệu điều trị dài hạn cho bệnh nhân bị giảm bạch cầu trung tính mạn tính nặng (SCN) sẽ làm cho bệnh nhân dễ bị biến đổi sang bất thường về di truyền học tế bào, hội chứng loạn sản tủy (MDS) hoặc bệnh bạch cầu hay không. Khuyến cáo nên thực hiện xét nghiệm tủy xương về hình thái học và di truyền học tế bào trên các bệnh nhân ở những khoảng cách đều đặn (khoảng mỗi 12 tháng).
Các thận trọng đặc biệt khác
Các nguyên nhân gây giảm bạch cầu thoáng qua, như nhiễm trùng do virus cần được loại trừ.
Huyết niệu thường gặp và protein niệu xảy ra ở một số lượng nhỏ bệnh nhân. Cần thực hiện xét nghiệm nước tiểu thường xuyên để theo dõi các trường hợp này.
Độ an toàn và hiệu quả ở trẻ sơ sinh và bệnh nhân bị giảm bạch cầu trung tính tự miễn chưa được xác định.
Thận trọng đặc biệt ở bệnh nhân bị nhiễm HIV (virus gây suy giảm miễn dịch ở người)
Số lượng tế bào máu
Cần theo dõi chặt chẽ số lượng bạch cầu trung tính tuyệt đối (ANC), đặc biệt là trong vài tuần đầu tiên điều trị bằng Neupogen. Một số bệnh nhân có thể đáp ứng rất nhanh và tăng đáng kể về số lượng bạch cầu trung tính với liều khởi đầu của Neupogen. Khuyến cáo đo số lượng bạch cầu trung tính tuyệt đối hàng ngày trong 2-3 ngày đầu tiên dùng Neupogen. Sau đó, khuyến cáo nên đo số lượng bạch cầu trung tính tuyệt đối ít nhất 2 lần mỗi tuần trong 2 tuần đầu tiên và sau đó 1 lần mỗi tuần hoặc 1 lần mỗi 2 tuần trong thời gian điều trị duy trì. Trong thời gian dùng thuốc cách quãng với Neupogen 30 MU (300 µg)/ngày, có thể có sự dao động lớn về số lượng bạch cầu trung tính tuyệt đối của bệnh nhân theo thời gian. Để xác định nồng độ đáy của bệnh nhân hoặc mức thấp nhất về số lượng bạch cầu trung tính tuyệt đối, khuyến cáo nên lấy các mẫu máu để đo ANC ngay lập tức trước bất kỳ liều dùng theo lịch trình bằng Neupogen.
Nguy cơ liên quan với tăng liều thuốc ức chế tủy
Điều trị bằng Neupogen đơn độc không loại trừ giảm tiểu cầu và thiếu máu do các thuốc ức chế tủy. Như là kết quả của khả năng nhận được liều cao hơn hoặc một số lượng lớn hơn của các thuốc này với việc điều trị bằng Neupogen, bệnh nhân có thể có nguy cơ cao hơn về phát triển giảm tiểu cầu và thiếu máu. Khuyến cáo theo dõi thường xuyên số lượng tế bào máu (xem ở trên).
Nhiễm trùng và bệnh ác tính gây ức chế tủy
Giảm bạch cầu trung tính có thể do nhiễm trùng cơ hội thâm nhiễm tủy xương như phức hợp Mycobacterium avium hoặc bệnh ác tính như u lympho. Ở những bệnh nhân bị nhiễm trùng hoặc bệnh ác tính thâm nhiễm tủy xương đã biết, cần xem xét liệu pháp thích hợp để điều trị tình trạng có từ trước, ngoài việc sử dụng Neupogen để điều trị giảm bạch cầu trung tính. Tác dụng của Neupogen trên sự giảm bạch cầu trung tính do nhiễm trùng hoặc bệnh ác tính thâm nhiễm tủy xương chưa được xác định.
Tất cả bệnh nhân
Nắp kim của ống tiêm chứa sẵn thuốc có thể chứa cao su tự nhiên khô (một dẫn xuất của latex), có thể gây phản ứng dị ứng.
Neupogen chứa sorbitol (E420). Những bệnh nhân có vấn đề di truyền hiếm gặp về không dung nạp fructose không nên dùng thuốc này.
Neupogen chứa ít hơn 1 mmol (23 mg) natri mỗi 0,6 mg/mL, tức là về cơ bản không có natri.
Để cải thiện khả năng truy xuất nguồn gốc các yếu tố kích thích cụm bạch cầu hạt (G-CSF), tên thương mại của các sản phẩm đã dùng cần được ghi rõ trong hồ sơ bệnh nhân.
Tác động trên khả năng lái xe và vận hành máy móc
Neupogen có thể gây ảnh hưởng nhỏ đến khả năng lái xe và vận hành máy móc. Chóng mặt có thể xảy ra sau khi dùng Neupogen (xem phần Tác dụng không mong muốn).
Sử dụng ở phụ nữ có thai & cho con bú
Phụ nữ có thai
Không có dữ liệu hoặc số lượng dữ liệu còn hạn chế từ việc sử dụng filgrastim ở phụ nữ mang thai. Các nghiên cứu trên động vật đã cho thấy độc tính đối với sinh sản. Tăng tỷ lệ mất phôi đã được quan sát thấy trên thỏ ở bội số cao của nồng độ lâm sàng và khi có độc tính ở thỏ mẹ (xem phần An toàn tiền lâm sàng). Có những báo cáo trong y văn trong đó sự đi qua nhau thai của filgrastim ở phụ nữ mang thai đã được chứng minh.
Neupogen không được khuyến cáo dùng trong khi mang thai.
Phụ nữ cho con bú
Chưa rõ liệu filgrastim/các chất chuyển hóa có được bài tiết qua sữa mẹ hay không. Không thể loại trừ nguy cơ đối với trẻ sơ sinh/trẻ nhỏ. Một quyết định phải được đưa ra liệu có nên ngừng cho con bú hoặc ngừng/tránh điều trị bằng Neupogen, có tính đến lợi ích của việc cho trẻ bú mẹ và lợi ích của việc điều trị đối với người mẹ.
Khả năng sinh sản
Filgrastim không ảnh hưởng đến hiệu suất sinh sản hoặc khả năng sinh sản ở chuột cống đực hay cái (xem phần An toàn tiền lâm sàng).
Tương tác
Độ an toàn và hiệu quả của Neupogen được dùng vào cùng ngày dưới dạng hóa trị liệu gây độc tế bào và ức chế tủy chưa được xác định chắc chắn. Do khả năng nhạy cảm của các tế bào tủy phân chia nhanh đối với hóa trị liệu gây độc tế bào, không khuyến cáo sử dụng Neupogen trong thời gian từ 24 giờ trước đến 24 giờ sau hóa trị liệu. Bằng chứng sơ bộ từ một số lượng nhỏ các bệnh nhân được điều trị đồng thời bằng Neupogen và 5-Fluorouracil cho thấy mức độ nặng của giảm bạch cầu trung tính có thể trầm trọng hơn.
Tương tác có thể có với các yếu tố tăng trưởng tạo máu khác và các cytokin chưa được nghiên cứu chuyên biệt trong các thử nghiệm lâm sàng.
Vì lithi thúc đẩy sự phóng thích bạch cầu trung tính, lithi có thể tăng cường tác dụng của Neupogen. Mặc dù tương tác này chưa được nghiên cứu chính thức, không có bằng chứng cho thấy sự tương tác như vậy sẽ có hại.
Tương kỵ
Neupogen không nên được pha loãng với dung dịch muối. Filgrastim pha loãng có thể được hấp phụ vào thủy tinh và vật liệu bằng nhựa.
Thuốc này không được trộn lẫn với các thuốc khác, ngoại trừ những thuốc được nêu trong phần Những lưu ý đặc biệt khi hủy bỏ và xử lý khác.
Tác dụng không mong muốn
Tóm tắt hồ sơ an toàn
Các phản ứng bất lợi nghiêm trọng nhất có thể xảy ra trong quá trình dùng Neupogen bao gồm: phản ứng phản vệ, các phản ứng bất lợi ở phổi nghiêm trọng (bao gồm bệnh phổi kẽ và hội chứng suy hô hấp cấp (ARDS)), hội chứng rò rỉ mao mạch, lách to/vỡ lách nghiêm trọng, biến đổi sang hội chứng loạn sản tủy hoặc bệnh bạch cầu ở bệnh nhân bị giảm bạch cầu trung tính mạn tính nặng (SCN), bệnh mảnh ghép chống lại vật chủ (GvHD) ở bệnh nhân ghép tủy xương cùng loài hoặc bệnh nhân ghép tế bào đầu dòng máu ngoại vi và cơn hồng cầu hình liềm ở bệnh nhân bị bệnh tế bào hình liềm.
Các phản ứng bất lợi rất thường gặp được báo cáo là sốt, đau cơ xương (bao gồm đau xương, đau lưng, đau khớp, đau cơ, đau ở chi, đau cơ xương, đau cơ xương ngực, đau cổ), thiếu máu, buồn nôn, và nôn. Trong các thử nghiệm lâm sàng ở bệnh nhân ung thư, đau cơ xương nhẹ hoặc vừa chiếm 10%, và nặng chiếm 3% bệnh nhân.
Bảng tóm tắt các phản ứng bất lợi
Dữ liệu trong các bảng dưới đây mô tả các phản ứng bất lợi được báo cáo từ các thử nghiệm lâm sàng và báo cáo tự phát. Trong mỗi nhóm tần suất, các tác dụng không mong muốn được trình bày theo thứ tự mức độ nghiêm trọng giảm dần.
- xem Bảng 2.

Image from Drug Label Content

Mô tả các phản ứng bất lợi được lựa chọn
Quá mẫn
Phản ứng loại quá mẫn bao gồm phản vệ, phát ban, nổi mề đay, phù mạch, khó thở và hạ huyết áp xảy ra lúc điều trị khởi đầu hoặc sau đó đã được báo cáo trong các nghiên cứu lâm sàng và trong kinh nghiệm hậu mãi. Nhìn chung, các báo cáo là thường gặp hơn sau khi tiêm tĩnh mạch. Trong một số trường hợp, các triệu chứng đã xảy ra trở lại khi dùng thuốc lại, cho thấy một mối quan hệ nhân quả. Phải ngừng dùng Neupogen vĩnh viễn ở những bệnh nhân đã gặp một phản ứng dị ứng nghiêm trọng.
Các phản ứng bất lợi ở phổi
Trong các nghiên cứu lâm sàng và bối cảnh hậu mãi, các phản ứng bất lợi ở phổi bao gồm bệnh phổi kẽ, phù phổi và thâm nhiễm phổi đã được báo cáo trong một số trường hợp với kết quả suy hô hấp hoặc hội chứng suy hô hấp cấp (ARDS), có thể gây tử vong (xem phần Cảnh báo và thận trọng).
Lách to và vỡ lách
Các trường hợp lách to và vỡ lách đã được báo cáo ít gặp sau khi dùng filgrastim. Một số trường hợp vỡ lách đã tử vong (xem phần Cảnh báo và thận trọng).
Hội chứng rò rỉ mao mạch
Những trường hợp hội chứng rò rỉ mao mạch đã được báo cáo trong bối cảnh hậu mãi với việc sử dụng yếu tố kích thích cụm bạch cầu hạt. Những trường hợp này thường xảy ra ở các bệnh nhân bị bệnh ác tính tiến triển, nhiễm khuẩn, dùng nhiều thuốc hóa trị liệu hoặc được gạn tách thành phần máu (xem phần Cảnh báo và thận trọng).
Viêm mạch ở da
Viêm mạch ở da đã được báo cáo ở những bệnh nhân được điều trị bằng Neupogen. Chưa rõ cơ chế viêm mạch ở bệnh nhân dùng Neupogen. Trong thời gian sử dụng dài hạn, viêm mạch ở da được báo cáo ở 2% bệnh nhân bị giảm bạch cầu trung tính mạn tính nặng (SCN).
Tăng bạch cầu
Tăng bạch cầu (số lượng bạch cầu (WBC) > 50 x 109/L) đã được quan sát thấy ở 41% người cho và giảm tiểu cầu thoáng qua (tiểu cầu < 100 x 109/L) sau khi dùng filgrastim và gạn tách bạch cầu đã được quan sát thấy ở 35% người cho (xem phần Cảnh báo và thận trọng).
Hội chứng Sweet
Các trường hợp hội chứng Sweet (viêm da cấp kèm sốt) đã được báo cáo ở bệnh nhân điều trị bằng Neupogen.
Bệnh giả gút (chứng vôi hóa sụn khớp)
Bệnh giả gút (chứng vôi hóa sụn khớp) đã được báo cáo ở những bệnh nhân ung thư được điều trị bằng Neupogen.
Bệnh mảnh ghép chống lại vật chủ (GvHD)
Đã có báo cáo về bệnh mảnh ghép chống lại vật chủ (GvHD) và tử vong ở bệnh nhân được dùng G-CSF sau khi ghép tủy xương cùng loài (xem phần Cảnh báo và thận trọngĐặc tính dược lực học).
Nhóm bệnh nhân trẻ em
Dữ liệu từ các nghiên cứu lâm sàng ở bệnh nhân trẻ em cho thấy độ an toàn và hiệu quả của Neupogen tương tự nhau ở cả người lớn và trẻ em được dùng hóa trị liệu gây độc tế bào cho thấy không có sự khác biệt liên quan đến tuổi về dược động học của filgrastim. Phản ứng bất lợi duy nhất luôn được báo cáo là đau cơ xương, không khác so với kinh nghiệm ở nhóm người lớn.
Không có đầy đủ dữ liệu để đánh giá thêm về việc sử dụng Neupogen ở các đối tượng trẻ em.
Các nhóm bệnh nhân đặc biệt khác
Sử dụng ở người cao tuổi
Không quan sát thấy sự khác biệt tổng thể về độ an toàn hoặc hiệu quả giữa các đối tượng trên 65 tuổi so với các đối tượng người lớn trẻ tuổi hơn (> 18 tuổi) được dùng hóa trị liệu gây độc tế bào và kinh nghiệm lâm sàng chưa xác định sự khác biệt về đáp ứng giữa các bệnh nhân cao tuổi và bệnh nhân người lớn trẻ tuổi hơn. Không có đầy đủ dữ liệu để đánh giá việc sử dụng Neupogen ở các đối tượng cao tuổi đối với các chỉ định khác của Neupogen đã được phê duyệt.
Bệnh nhân trẻ em bị giảm bạch cầu trung tính mạn tính nặng (SCN)
Các trường hợp giảm mật độ xương và loãng xương đã được báo cáo ở những bệnh nhân trẻ em bị giảm bạch cầu trung tính mạn tính nặng được điều trị dài hạn bằng Neupogen.
Báo cáo các phản ứng bất lợi nghi ngờ
Báo cáo các phản ứng bất lợi nghi ngờ sau khi có giấy phép lưu hành thuốc là điều quan trọng. Điều này cho phép theo dõi liên tục cân bằng lợi ích/nguy cơ của thuốc. Các chuyên gia y tế được yêu cầu báo cáo bất kỳ phản ứng bất lợi nghi ngờ nàotheo quy định của từng địa phương.
Thận trọng lúc dùng
Những lưu ý đặc biệt khi hủy bỏ và xử lý khác
Nếu cần thiết, Neupogen có thể được pha loãng trong glucose 5%.
Không khuyến cáo pha loãng đến nồng độ cuối cùng ít hơn 0,2 MU (2 μg)/mL vào bất cứ lúc nào.
Dung dịch phải được kiểm tra bằng mắt trước khi sử dụng. Chỉ được sử dụng dung dịch trong suốt, không có tiểu phân.
Đối với những bệnh nhân được điều trị bằng filgrastim pha loãng đến nồng độ dưới 1,5 MU (15 μg)/mL, albumin huyết thanh người (HSA) nên được thêm vào nồng độ cuối cùng 2 mg/mL.
Ví dụ: Trong một thể tích tiêm cuối cùng 20 mL, tổng liều filgrastim ít hơn 30 MU (300 μg) nên được dùng với 0,2 mL dung dịch albumin người 20% Ph Eur. được thêm vào.
Neupogen không chứa chất bảo quản. Do nguy cơ có thể có về nhiễm vi sinh vật, ống tiêm chứa sẵn thuốc Neupogen chỉ sử dụng một lần.
Khi pha loãng trong dung dịch glucose 5%, Neupogen tương thích với thủy tinh và một loạt các sản phẩm nhựa bao gồm PVC, polyolefin (một co-polymer của polypropylen và polyethylen) và polypropylen.
Bất kỳ phần thuốc nào không dùng hoặc vật liệu thải đi phải được hủy bỏ theo quy định của địa phương.
Bảo quản
Bảo quản ở 2-8°C.
Độ ổn định lý-hóa của dung dịch truyền đã pha loãng khi đang sử dụng đã được chứng minh trong 24 giờ ở 2-8°C. Theo quan điểm vi sinh vật học, nên sử dụng thuốc ngay lập tức. Nếu không dùng ngay, thời gian bảo quản khi đang sử dụng và điều kiện bảo quản trước khi sử dụng là trách nhiệm của người dùng thuốc và thường không được kéo dài quá 24 giờ ở 2-8°C, trừ khi việc pha loãng được thực hiện trong điều kiện vô khuẩn đã được kiểm soát và thẩm định.
Tình cờ tiếp xúc với nhiệt độ đông lạnh không ảnh hưởng xấu đến độ ổn định của Neupogen.
Giữ bao bì chứa trong hộp carton ngoài để tránh ánh sáng.
Phân loại ATC
L03AA02 - filgrastim ; Belongs to the class of colony stimulating factors. Used as immunostimulants.
Trình bày/Đóng gói
Dung dịch tiêm: hộp 1 ống tiêm chứa sẵn thuốc 0,5 mL.
Register or sign in to continue
Asia's one-stop resource for medical news, clinical reference and education
Sign up for free
Already a member? Sign in