Perjeta

Perjeta Tác dụng không mong muốn

pertuzumab

Nhà sản xuất:

Roche
Thông tin kê toa chi tiết tiếng Việt
Tác dụng không mong muốn
Thử nghiệm lâm sàng
Tính an toàn của Perjeta được đánh giá trên hơn 6000 bệnh nhân trong các nghiên cứu pha I-III ở những bệnh nhân có những bệnh ác tính khác nhau, và điều trị chủ yếu với Perjeta kết hợp với các thuốc điều trị ung thư khác. Những nghiên cứu này bao gồm các nghiên cứu then chốt CLEOPATRA (n=808), NEOSPHERE (n=417), TRYPHAENA (n=225), và APHINITY (n=4804) [liệt kê trong Bảng 7]. Tính an toàn của Perjeta qua các nghiên cứu nói chung là nhất quán, mặc dù tần suất và các phản ứng bất lợi hay gặp nhất thay đổi tùy thuộc vào việc sử dụng Perjeta đơn trị liệu hay kết hợp chung với các thuốc điều trị ung thư khác.
Ung thư vú di căn và giai đoạn sớm
Bảng 7 tóm tắt các ADRs của nhóm điều trị bằng Perjeta trong các nghiên cứu then chốt sau:
• CLEOPATRA, trong đó Perjeta kết hợp với Herceptin và docetaxel ở những bệnh nhân ung thư vú di căn (MBC) (n=453)
• NEOSPHERE (n=309) và TRYPHAENA (n=218), trong đó điều trị tân bổ trợ với Perjeta kết hợp với Herceptin và hóa trị cho bệnh nhân có khối u tiến triển tại chỗ, dạng viêm hoặc ung thư vú giai đoạn sớm
• APHINITY, trong đó điều trị bổ trợ với Perjeta kết hợp với Herceptin và phác đồ chứa anthracycline hoặc không chứa anthracycline, phác đồ chứa taxan cho bệnh nhân ung thư vú giai đoạn sớm (n=2364).
Vì Perjeta được sử dụng với Herceptin và hóa trị, rất khó để xác định mối quan hệ nhân quả của một phản ứng bất lợi cho một loại thuốc riêng biệt.
Mức độ xảy ra các tác dụng không mong muốn được phân loại như sau: rất thường gặp (≥1/10), thường gặp (từ ≥1/100 đến <1/10), ít gặp (từ ≥1/1000 đến <1/100), hiếm (từ ≥1/10.000 đến <1/1000), rất hiếm (từ <1/10.000).
ADRs thường gặp nhất (≥30%) từ dữ liệu tổng hợp này là tiêu chảy, rụng tóc, buồn nôn, mệt mỏi, giảm bạch cầu trung tính và nôn. Các ADRs mức độ 3-4 thường gặp nhất theo NCI- CTCAE (≥10%) là giảm bạch cầu trung tính và sốt do giảm bạch cầu trung tính.
- xem Bảng 7.

Image from Drug Label Content

Thông tin thêm về các phản ứng bất lợi chọn lọc
Rối loạn chức năng thất trái (LVD)
Trong thử nghiệm then chốt CLEOPATRA, tỷ lệ bệnh nhân bị LVD trong suốt quá trình điều trị ở nhóm dùng giả dược cao hơn nhóm dùng Perjeta (8,6% và 6,6%, theo thứ tự). Tỷ lệ bệnh nhân bị LVD có biểu hiện triệu chứng cũng thấp hơn ở nhóm dùng Perjeta (1,8% ở nhóm giả dược với 1,5% nhóm điều trị với Perjeta) (xem phần Cảnh báo và thận trọng).
Trong nghiên cứu NEOSPHERE, những bệnh nhân dùng 4 chu kì tân bổ trợ Perjeta, tỷ lệ LVD (trong suốt quá trình điều trị) ở nhóm dùng Perjeta, Herceptin và docetaxel cao hơn (7,5%) so với nhóm dùng Herceptin và docetaxel (1,9%). Có 1 trường hợp bệnh nhân có triệu chứng LVD ở nhóm dùng Perjeta và Herceptin.
Trong nghiên cứu TRYPHAENA, tỷ lệ bệnh nhân bị LVD (trong suốt quá trình điều trị) là 8,3% ở nhóm dùng Perjeta, Herceptin và 5-fluorouracil, epirubicin và cyclophosphamide (FEC) theo sau đó dùng Perjeta, Herceptin và docetaxel; 9,3% ở nhóm bệnh nhân dùng FEC theo sau đó dùng Perjeta, Herceptin và docetaxel; 6,6% ở nhóm bệnh nhân dùng Perjeta phối hợp với TCH. Tỷ lệ bệnh nhân có triệu chứng LVD (suy tim sung huyết) là 1,3% ở nhóm dùng FEC theo sau đó dùng Perjeta, Herceptin và docetaxel (đã loại trừ một bệnh nhân có triệu chứng LVD trong quá trình điều trị với FEC trước khi điều trị Perjeta, Herceptin và docetaxel) và 1,3% ở nhóm điều trị với Perjeta kết hợp với TCH. Không có bệnh nhân trong nhóm điều trị bằng Perjeta, Herceptin và FEC theo sau đó dùng Perjeta, Herceptin và docetaxel có triệu chứng LVD.
Trong giai đoạn tân bổ trợ trong nghiên cứu BERENICE, tỷ lệ xuất hiện LVD có triệu chứng mức độ III/IV theo phân loại của NYHA (suy tim sung huyết theo NCI-CTCAE v.4) là 1,5% ở nhóm điều trị với phác đồ hóa trị liều cao AC, theo sau với Perjeta kết hợp với Herceptin và paclitaxel và không có bệnh nhân (0%) nào có triệu chứng LVD trong nhóm điều trị bằng FEC theo sau với Perjeta kết hợp với Herceptin và docetaxel. Tỷ lệ xuất hiện LVD không có triệu chứng (phân suất tống máu giảm theo NCI-CTCAE v.4) là 7% trong nhóm điều trị với phác đồ hóa trị liều dày AC, theo sau với Perjeta kết hợp với Herceptin và paclitaxel và 3,5% ở nhóm điều trị bằng FEC theo sau với Perjeta kết hợp với Herceptin và docetaxel.
Trong nghiên cứu APHINITY, tỷ lệ xuất hiện triệu chứng suy tim sung huyết (NYHA độ III hoặc IV) với điểm suy giảm phân suất tống máu ít nhất là 10% so với trước khi điều trị và đến <50% là <1% (0,6% bệnh nhân được điều trị bằng Perjeta so với 0,2% bệnh nhân điều trị giả dược). Trong số những bệnh nhân bị suy tim có triệu chứng, 46,7% bệnh nhân được điều trị bằng Perjeta và 66,7% bệnh nhân điều trị giả dược đã hồi phục (được định nghĩa là 2 lần đo LVEF liên tiếp trên 50%) tại thời điểm lấy dữ liệu. Phần lớn các biến cố được báo cáo ở những bệnh nhân được điều trị bằng anthracycline. Sự suy giảm LVEF ít nhất 10% so với trước khi điều trị và <50% không có triệu chứng hoặc triệu chứng nhẹ (NYHA độ II) được báo cáo ở 2,7% số bệnh nhân điều trị bằng Perjeta và 2,8% số bệnh nhân điều trị bằng giả dược, trong đó 79,7% số bệnh nhân điều trị bằng Perjeta và 80,6% số bệnh nhân điều trị bằng giả dược đã hồi phục tại thời điểm lấy dữ liệu.
Phản ứng liên quan đến tiêm truyền
Trong các nghiên cứu then chốt pha III, phản ứng liên quan đến tiêm truyền được định nghĩa là bất kỳ biến cố nào như quá mẫn, phản ứng phản vệ, phản ứng cấp tính do tiêm truyền hoặc hội chứng giải phóng cytokine xảy ra trong thời gian tiêm truyền hoặc trong cùng ngày tiêm truyền. Trong nghiên cứu then chốt CLEOPATRA, liều đầu tiên của Perjeta được cho vào ngày trước khi điều trị với Herceptin và docetaxel để quan sát theo dõi các phản ứng liên quan đến Perjeta. Vào ngày đầu tiên khi chỉ truyền Perjeta, tần suất chung của các phản ứng liên quan đến tiêm truyền là 9,8% trong nhóm điều trị với giả dược và 13,2% trong nhóm điều trị với Perjeta, đa số các phản ứng là nhẹ và vừa. Phản ứng liên quan đến tiêm truyền thường xảy ra nhiều nhất (≥1,0%) trong nhóm Perjeta là sốt, rét run, mệt mỏi, đau đầu, suy nhược, quá mẫn và nôn.
Trong chu kỳ thứ hai, khi tất cả các thuốc được truyền cùng một ngày, phản ứng liên quan đến tiêm truyền xảy ra nhiều nhất (≥1,0%) trong nhóm điều trị với Perjeta là mệt mỏi quá mẫn với thuốc, rối loạn vị giác, quá mẫn, đau cơ và nôn (xem phần Cảnh báo và thận trọng).
Trong nghiên cứu tân bổ trợ và bổ trợ, Perjeta được dùng cùng một ngày như các loại thuốc điều trị khác. Các phản ứng do tiêm truyền xảy ra với tỷ lệ 18,6% - 25,0% số bệnh nhân dùng Perjeta ở ngày đầu tiên (kết hợp với Herceptin và hóa trị). Loại và mức độ nghiêm trọng của biến cố phù hợp với các phản ứng quan sát được trong nghiên cứu CLEOPATRA, với mức độ nghiêm trọng của các phản ứng là nhẹ hoặc trung bình.
Phản ứng quá mẫn/phản ứng phản vệ
Trong nghiên cứu then chốt CLEOPATRA tần suất chung các phản ứng quá mẫn/phản vệ được báo cáo là 9,3% trong nhóm điều trị với giả dược và 11,3% trong nhóm điều trị với Perjeta, trong đó độ 3-4 theo NCI-CTCAE (phiên bản 3), lần lượt là 2,5% và 2,0% theo thứ tự đó. Tính chung, 2 bệnh nhân trong nhóm điều trị với giả dược và 4 bệnh nhân trong nhóm điều trị với Perjeta bị phản ứng phản vệ (xem phần Cảnh báo và thận trọng).
Nói chung, đa số các phản ứng quá mẫn có mức độ nhẹ hay vừa đã được giải quyết qua điều trị. Dựa vào các thay đổi trong điều trị nghiên cứu, đa số các phản ứng đều được đánh giá là thứ phát sau khi truyền docetaxel.
Trong các nghiên cứu tân bổ trợ và bổ trợ, các biến cố quá mẫn/phản ứng phản vệ phù hợp với những biến cố quan sát được trong nghiên cứu CLEOPATRA. Trong nghiên cứu NEOSPHERE, hai bệnh nhân trong nhóm dùng Perjeta và docetaxel bị phản ứng phản vệ. Trong cả 2 nghiên cứu TRYPHAENA và APHINITY, tỷ lệ toàn bộ các phản ứng quá mẫn/phản ứng phản vệ là cao nhất ở nhóm dùng Perjeta và TCH (13,2% và 7,6% theo thứ tự), trong đó tỷ lệ biến cố độ 3-4 theo NCI-CTCAE là 2,6% và 1,3% theo thứ tự.
Các bất thường về xét nghiệm
Trong các nghiên cứu then chốt CLEOPATRA, NEOSPHERE, và APHINITY tỉ lệ các biến cố giảm số lượng bạch cầu trung tính bất lợi độ 3-4 theo NCI-CTCAE tương tự như nhau trong nhóm điều trị bằng Perjeta và nhóm đối chứng.
Kinh nghiệm sau khi lưu hành
Các phản ứng không mong muốn đã được báo cáo trong giai đoạn sau khi lưu hành Perjeta dựa trên báo cáo tự nguyện và các trường hợp nghiên cứu bài bản. Các phản ứng bất lợi liệt kê trong Bảng 8 được phân loại theo hệ cơ quan của MedDRA.
- xem Bảng 8.

Image from Drug Label Content

Các bất thường về xét nghiệm
Các bất thường về xét nghiệm từ các báo cáo hậu tiếp thị phù hợp với dữ liệu từ các thử nghiệm lâm sàng của Perjeta.
Register or sign in to continue
Asia's one-stop resource for medical news, clinical reference and education
Sign up for free
Already a member? Sign in