Pradaxa

Pradaxa Cảnh báo và thận trọng

dabigatran

Nhà sản xuất:

Boehringer Ingelheim
Thông tin kê toa chi tiết tiếng Việt
Cảnh báo và thận trọng
Suy gan
Bệnh nhân có men gan cao > 2 lần giới hạn trên của giá trị bình thường (ULN) đã được loại trừ trong thử nghiệm lâm sàng chính. Chưa có kinh nghiệm điều trị ở nhóm bệnh nhân này, do đó không khuyến cáo sử dụng PRADAXA trên nhóm đối tượng suy gan.
Nguy cơ xuất huyết
Giống như các thuốc chống đông khác, nên sử dụng PRADAXA thận trọng trong các trường hợp có tăng nguy cơ gây chảy máu và trong tình huống có sử dụng đồng thời các thuốc có ảnh hưởng đến sự cầm máu bằng cách ức chế kết tập tiểu cầu. Chảy máu có thể xuất hiện tại bất cứ vị trí nào trong quá trình điều trị với PRADAXA. Nên tìm kiếm nơi chảy máu nếu hemoglobin và/hoặc hematocrit hoặc huyết áp giảm mà không giải thích được nguyên nhân.
Đối với tình trạng đe dọa tính mạng hoặc chảy máu không kiểm soát được, khi có yêu cầu phải loại bỏ nhanh tác dụng chống đông máu của dabigatran, cần có sẵn tác nhân đặc hiệu (PRAXBIND, idarucizumab) để loại bỏ tác dụng của PRADAXA (xem Phẫu thuật và Thủ thuật can thiệp - giai đoạn trước khi phẫu thuật và Quá liều).
Điều trị với PRADAXA không yêu cầu theo dõi chống đông máu thường quy.
Tuy nhiên, việc theo dõi hoạt tính chống đông máu của dabigatran có thể hữu ích để tránh hấp thu quá mức dabigatran khi có nhiều yếu tố nguy cơ.
Xét nghiệm INR không tin cậy ở những bệnh nhân đang điều trị với PRADAXA và đã có báo cáo về tăng INR dương tính giả. Do vậy, không nên tiến hành xét nghiệm INR.
Thời gian pha loãng thrombin (dTT), thời gian đông máu ecarin (ECT) và thời gian thromboplastin từng phần hoạt hóa (aPTT) có thể cung cấp thông tin hữu ích, nhưng các xét nghiệm này chưa được tiêu chuẩn hóa và các kết quả cần được diễn giải một cách thận trọng (xem mục Dược lực học).
Bảng 11 chỉ ra ngưỡng các xét nghiệm đông máu giá trị đáy có liên quan đến tăng nguy cơ chảy máu (xem mục Dược lực học).
- xem Bảng 11.

Image from Drug Label Content

Phòng ngừa đột quỵ, thuyên tắc hệ thống ở bệnh nhân trưởng thành bị rung nhĩ không do bệnh van tim (NVAF) có một hoặc nhiều các yếu tố nguy cơ (SPAF)
Ở những bệnh nhân rung nhĩ trong thử nghiệm RE-LY điều trị với 150 mg hai lần mỗi ngày một giá trị aPTT cao hơn 2,0 - 3,0 lần giới hạn bình thường tại nồng độ đáy liên quan đến nguy cơ tăng chảy máu.
Các nghiên cứu dược động học cho thấy có tăng nồng độ thuốc ở những bệnh nhân suy giảm chức năng thận do tuổi tác. Chống chỉ định dùng PRADAXA trong những trường hợp suy thận nặng (CrCL < 30 mL/phút).
Nên ngừng sử dụng PRADAXA ở những bệnh nhân bị suy thận cấp.
Dữ liệu có sẵn ở bệnh nhân < 50 kg còn hạn chế (xem mục Dược động học).
Ngừng điều trị khi xảy ra chảy máu nghiêm trọng và tìm nguyên nhân chảy máu (xem mục Quá liều).
Không nên dùng đồng thời các thuốc có thể làm tăng nguy cơ xuất huyết hoặc nên dùng thận trọng với PRADAXA (xem mục Tương tác).
Các yếu tố, như suy giảm chức năng thận (CrCL 30-50 mL/phút), ≥ 75 tuổi, nhẹ cân < 50 kg, hoặc đang điều trị chất ức chế P-gp nhẹ đến vừa (ví dụ: amiodarone, quinidine hoặc verapamil) có liên quan đến tăng nồng độ dabigatran huyết tương. Sự xuất hiện của một hoặc nhiều hơn các yếu tố này có thể làm tăng nguy cơ chảy máu (xem Liều lượng và Cách dùng).
Việc sử dụng đồng thời PRADAXA với các trị liệu sau đây chưa được nghiên cứu và có thể gây tăng nguy cơ chảy máu: heparin không phân đoạn (ngoại trừ khi dùng với liều cần thiết để duy trì thông thương catheter tĩnh mạch hoặc động mạch trung tâm hoặc trong khi triệt đốt rung nhĩ qua đường catheter) và các dẫn xuất heparin, heparin trọng lượng phân tử thấp (LMWH), fondaparinux, desirudin, các thuốc làm tan huyết khối, các thuốc đối kháng thụ thể GPIIb/IIIa, ticlopidine, dextran, sulfinpyrazone, rivaroxaban, prasugrel, các thuốc đối kháng vitamin K, và các thuốc ức chế P-gp như, nhưng không chỉ giới hạn ở, itraconazole, tacrolimus, cyclosporine, ritonavir, tipranavir, nelfinavir và saquinavir.
Việc sử dụng đồng thời PRADAXA với dạng kết hợp liều cố định của các thuốc ức chế P-gp glecaprevir/pibrentasvir đã được chỉ ra là làm tăng hấp thu dabigatran và có thể làm tăng nguy cơ chảy máu.
Sử dụng đồng thời với dronedarone làm tăng hấp thu dabigatran và không được khuyến cáo (xem Dược động học - Dược động học trên các nhóm bệnh nhân cụ thể).
Sử dụng đồng thời với ticagrelor làm tăng hấp thu dabigatran và có thể cho thấy tương tác dược lực học dẫn đến tăng nguy cơ chảy máu.
Nguy cơ chảy máu có thể tăng lên ở những bệnh nhân điều trị đồng thời với các chất ức chế tái hấp thu có chọn lọc serotonin (SSRI) hoặc các thuốc ức chế tái hấp thu serotonin norepinephrine (SNRI).
Bảng 12 tóm tắt các yếu tố có thể tăng nguy cơ xuất huyết. Xin xem các chống chỉ định trong mục Chống chỉ định.
- xem Bảng 12.

Image from Drug Label Content

Sự hiện diện của các thương tổn, tình trạng bệnh lý, thủ thuật và/hoặc các thuốc điều trị có tác dụng dược lý (ví dụ NSAIDs, các thuốc chống kết tập tiểu cầu, thuốc ức chế tái hấp thu serotonin chọn lọc (SSRIs) và thuốc ức chế tái hấp thu serotonin-norepinephrine (SNRIs), xem mục Tương tác), làm tăng đáng kể nguy cơ chảy máu nghiêm trọng và yêu cầu đánh giá lợi ích, nguy cơ một cách cẩn trọng. Chỉ nên dùng Pradaxa nếu lợi ích điều trị vượt trội nguy cơ chảy máu.
Sử dụng các thuốc làm tiêu sợi huyết trong điều trị đột quỵ do thiếu máu cục bộ cấp
Việc sử dụng các thuốc làm tiêu sợi huyết trong điều trị đột quỵ do thiếu máu cục bộ cấp có thể được cân nhắc nếu bệnh nhân có thời gian thrombin (TT), hoặc thời gian đông máu Ecarin (ECT), hoặc thời gian thromboplastin từng phần hoạt hóa (aPTT) không vượt quá giới hạn trên (ULN) theo phạm vi tham khảo của mỗi nước.
Trong những trường hợp khi có tăng nguy cơ chảy máu (ví dụ mới được sinh thiết hoặc bị chấn thương nặng, viêm nội tâm mạc do vi khuẩn), nhìn chung cần được theo dõi chặt chẽ (để phát hiện các dấu hiệu chảy máu hoặc thiếu máu).
Phòng ngừa tai biến TTHKTM ở bệnh nhân sau phẫu thuật chương trình thay thế toàn bộ khớp háng hoặc khớp gối
Sử dụng các thuốc kháng viêm không steroid (NSAID) để giảm đau trong thời gian ngắn trước hoặc sau phẫu thuật không làm tăng nguy cơ chảy máu khi điều trị kết hợp với PRADAXA. Bằng chứng về việc sử dụng NSAID thông thường có thời gian bán thải dưới 12 giờ trong quá trình điều trị với PRADAXA còn chưa đầy đủ và không thấy tăng nguy cơ chảy máu.
Phòng ngừa đột quỵ, thuyên tắc hệ thống ở bệnh nhân trưởng thành bị rung nhĩ không do bệnh van tim (NVAF) có một hoặc nhiều các yếu tố nguy cơ (SPAF)
Trong một nghiên cứu phòng ngừa đột quỵ và thuyên tắc hệ thống ở bệnh nhân trưởng thành bị rung nhĩ không do bệnh van tim (NVAF), dabigatran etexilate có liên quan đến tỷ lệ xuất huyết dạ dày - ruột nặng cao hơn có ý nghĩa thống kê khi dùng dabigatran etexilate 150 mg hai lần mỗi ngày. Nguy cơ này được thấy tăng lên đáng kể ở bệnh nhân cao tuổi (≥ 75 tuổi). Sử dụng acetylsalicylic acid (ASA), clopidogrel hoặc thuốc kháng viêm không steroid (NSAID), cũng như có sự xuất hiện của viêm thực quản, viêm dạ dày hay trào ngược dạ dày làm tăng nguy cơ xuất huyết dạ dày - ruột (GI). Cân nhắc dùng liều 220 mg dabigatran bằng cách uống viên nang 110 mg hai lần mỗi ngày ở những bệnh nhân rung nhĩ này và nên tuân theo khuyến cáo về liều dùng trong mục Liều lượng và Cách dùng. Cân nhắc sử dụng thuốc ức chế bơm propon (PPI) để ngăn ngừa xuất huyết dạ dày - ruột.
Tương tác với các thuốc gây cảm ứng P-gp
Việc sử dụng đồng thời PRADAXA với thuốc gây cảm ứng mạnh P-gp như rifampicin làm giảm nồng độ dabigatran trong huyết tương. Các thuốc gây cảm ứng P-gp khác như St. John's Wort (cây cỏ Thánh John) hoặc carbamazepine, hoặc phenytoin cũng có thể làm giảm nồng độ dabigatran trong huyết tương, và nên thận trọng khi sử dụng phối hợp (xem Tương tácDược động học - Dược động học trên các nhóm bệnh nhân cụ thể).
Bệnh nhân bị hội chứng kháng phospholipid
Bệnh nhân bị hội chứng kháng phospholipid (đặc biệt khi dương tính ba lần với kháng thể kháng phospholipid) có nguy cơ cao gặp các tai biến thuyên tắc huyết khối.
Trong khi hiệu quả của Pradaxa được thiết lập trong điều trị và phòng ngừa thuyên tắc huyết khối tĩnh mạch, điều này chưa được nghiên cứu cụ thể trên phân nhóm bệnh nhân bị hội chứng kháng phospholipid.
Do đó, khuyến cáo cân nhắc thận trọng tất cả lựa chọn điều trị (bao gồm cả điều trị chuẩn như các thuốc kháng vitamin K) trước khi sử dụng Pradaxa cho bệnh nhân bị hội chứng kháng phospholipid.
Phẫu thuật và Thủ thuật can thiệp
Các bệnh nhân đang điều trị với PRADAXA mà trải qua phẫu thuật hoặc các thủ thuật xâm lấn có tăng nguy cơ chảy máu. Do vậy, có thể cần tạm ngừng sử dụng PRADAXA để tiến hành những can thiệp phẫu thuật (xem Dược động học).
Bệnh nhân có thể tiếp tục dùng PRADAXA trong khi đang được chuyển nhịp. Không cần phải gián đoạn điều trị bằng PRADAXA (150 mg hai lần mỗi ngày) ở những bệnh nhân được tiến hành triệt đốt rung nhĩ qua đường catheter (xem Liều lượng và cách dùng).
Trong trường hợp phẫu thuật cấp cứu hoặc các thủ thuật khẩn yêu cầu nhanh chóng đảo ngược tác dụng chống đông, cần có sẵn thuốc đặc hiệu giúp hóa giải (PRAXBIND, idarucizumab) đối với PRADAXA.
Liệu pháp đảo ngược hiệu quả chống đông của dabigatran nguy cơ huyết khối ở những bệnh nhân có bệnh đang mắc phải.
Nếu bệnh nhân đã ổn định về mặt lâm sàng, và việc cầm máu đã đạt được 24 giờ sau khi sử dụng PRAXBIND (idarucizumab), có thể bắt đầu lại điều trị bằng PRADAXA. Thận trọng khi ngừng thuốc tạm thời để tiến hành thủ thuật can thiệp và đảm bảo việc kiểm soát chống đông. Thải trừ dabigatran ở những bệnh nhân suy thận có thể dài ngày hơn (xem mục Dược động học).
Cần cân nhắc điều này trước khi tiến hành bất cứ thủ thuật nào. Trong những trường hợp nhưng xét nghiệm đông máu (xem mục Cảnh báo và thận trọng và Dược lực học) có thể giúp xác định việc cầm máu đã đạt được hay chưa.
Giai đoạn trước khi phẫu thuật
Do nguy cơ tăng chảy máu, nên tạm ngưng PRADAXA trước khi tiến hành các thủ thuật xâm lấn hoặc tiến hành phẫu thuật.
Phẫu thuật cấp cứu hoặc các thủ thuật khẩn
Nên ngừng tạm thời dabigatran etexilate.
Thuốc hóa giải đặc hiệu của PRADAXA (PRAXBIND, idarucizumab) là có sẵn nhằm nhanh chóng đảo ngược hiệu quả chống đông (xem Phẫu thuật và Thủ thuật can thiệp).
Đảo ngược liệu pháp điều trị bằng dabigatran đặt bệnh nhân vào nguy cơ huyết khối do bệnh lý tiềm ẩn. Điều trị bằng PRADAXA có thể được bắt đầu trở lại 24 giờ sau khi dùng Praxbind (idarucizumab), nếu bệnh nhân ổn định về mặt lâm sàng và cầm máu đã đạt được đầy đủ.
Phẫu thuật bán cấp và Thủ thuật can thiệp cấp cứu
Nên tạm thời ngừng sử dụng PRADAXA. Nếu có thể, nên trì hoãn thủ thuật can thiệp/phẫu thuật cấp cứu ít nhất 12 giờ kể từ liều dùng cuối cùng. Nếu không thể trì hoãn phẫu thuật, có thể tăng nguy cơ chảy máu. Cân nhắc nguy cơ chảy máu giữa sự cấp bách của việc phẫu thuật (đối với chuyển nhịp xem mục Liều lượng và Cách dùng).
Phẫu thuật và Thủ thuật can thiệp theo chương trình
Nếu có thể, nên ngừng sử dụng PRADAXA ít nhất 24 giờ trước thủ thuật xâm lấn phẫu thuật hoặc phẫu thuật. Ở những bệnh nhân có nhiều nguy cơ xuất huyết hơn hoặc trong đại phẫu khi cần đến quá trình đông máu tốt, nên ngừng sử dụng PRADAXA 2-4 ngày trước khi phẫu thuật. Thanh thải của dabigatran ở những bệnh nhân suy thận có thể dài hơn. Điều này cần được xem xét trước bất kỳ thủ thuật nào (xem Bảng 13 và Dược động học).
- xem Bảng 13.

Image from Drug Label Content

Chống chỉ định sử dụng PRADAXA ở những bệnh nhân suy thận nặng (CrCL < 30 mL/phút) nhưng nếu trường hợp này có xảy ra thì nên ngừng sử dụng PRADAXA ít nhất 5 ngày trước khi đại phẫu.
Gây tê tủy sống/ Gây tê ngoài màng cứng/ Chọc dò tủy sống
Các thủ thuật như gây tê tủy sống có thể cần chức năng cầm máu hoàn chỉnh.
Nguy cơ bị khối máu tụ ngoài màng cứng hoặc tủy sống có thể tăng lên trong những trường hợp chạm thương hoặc chọc dò lặp đi lặp lại và do đặt catheter ngoài màng cứng kéo dài. Sau khi rút catheter, cần chờ ít nhất 1 giờ trước khi bắt đầu dùng liều PRADAXA đầu tiên. Cần thường xuyên theo dõi các dấu hiệu và triệu chứng thần kinh của hiện tượng khối máu tụ ngoài màng cứng hoặc tủy sống ở những bệnh nhân này.
Giai đoạn sau thủ thuật
Có thể tiếp tục điều trị lại/ bắt đầu điều trị bằng PRADAXA sau khi đạt được cầm máu hoàn toàn. Nên bắt đầu điều trị lại bằng dabigatran etexilate sau thủ thuật xâm lấn hoặc can thiệp phẫu thuật càng sớm càng tốt khi tình trạng lâm sàng cho phép và việc cầm máu được thiết lập đầy đủ. Cần điều trị thận trọng những bệnh nhân có nguy cơ chảy máu hoặc có nguy cơ hấp thu quá nhiều, đặc biệt là những bệnh nhân suy thận vừa (CrCL 30-50 mL/phút) (xem mục Cảnh báo và thận trọng và Dược động học).
Bệnh nhân thay van tim sinh học
Chưa có đánh giá việc sử dụng dabigatran etexilate cho bệnh nhân đặt van tim sinh học, do đó không khuyến cáo sử dụng dabigatran etexilate trên đối tượng bệnh nhân này.
Bệnh nhân có nguy cơ tử vong cao do phẫu thuật và có các yếu tố nội tại với biến cố huyết khối
Dữ liệu về tính an toàn và hiệu quả của dabigatran ở những bệnh nhân này còn hạn chế và nên thận trọng khi điều trị.
Phẫu thuật gãy xương hông
Không có dữ liệu về việc sử dụng PRADAXA ở những bệnh nhân trải qua phẫu thuật gãy xương hông. Do đó điều trị không được khuyến cáo.
Nhồi máu cơ tim
Phòng ngừa đột quỵ, thuyên tắc hệ thống ở bệnh nhân trưởng thành bị rung nhĩ không do bệnh van tim (NVAF) có một hoặc nhiều các yếu tố nguy cơ (SPAF)
Trong nghiên cứu giai đoạn III RE-LY (xem mục Dược lực học) tỷ lệ chung của nhồi máu cơ tim (MI) là 0,82, 0,81 và 0,64%/năm tương ứng với dabigatran etexilate 110 mg ngày 2 lần, dabigatran etexilate 150 mg ngày 2 lần và warfarin, nguy cơ tương đối tăng lên đối với dabigatran là 29% so với warfarin là 27%. Không phân biệt phương pháp điều trị, nguy cơ tuyệt đối cao nhất của nhồi máu cơ tim (MI) đã được quan sát thấy trong các phân nhóm sau đây, với nguy cơ tương đối giống nhau: bệnh nhân bị nhồi máu cơ tim trước đó, bệnh nhân ≥ 65 tuổi có một trong hai bệnh kèm theo là bệnh tiểu đường hay bệnh động mạch vành, bệnh nhân có phân suất tống máu thất trái < 40%, bệnh nhân có rối loạn chức năng thận trung bình. Hơn nữa, nguy cơ nhồi máu cơ tim cao hơn được quan sát thấy ở những bệnh nhân có sử dụng đồng thời ASA với clopidogrel hoặc chỉ dùng clopidogrel.
Điều trị huyết khối tĩnh mạch sâu (DVT) cấp và/hoặc thuyên tắc phổi (PE) và ngăn ngừa tử vong liên quan
Trong ba nghiên cứu kiểm chứng với hoạt chất, tỷ lệ nhồi máu cơ tim (MI) đã được báo cáo ở những bệnh nhân đã dùng dabigatran etexilate cao hơn ở nhóm bệnh nhân dùng warfarin là 0,4% so với 0,2% trong các nghiên cứu ngắn hạn RE-COVER và RE-COVER II; là 0,8% so với 0,1% trong nghiên cứu dài hạn RE-MEDY. Sự gia tăng trong nghiên cứu này có ý nghĩa thống kê (p = 0,022). Trong nghiên cứu RE-SONATE, là nghiên cứu thực hiện việc so sánh dabigatran etexilate so với giả dược, tỷ lệ nhồi máu cơ tim (MI) là 0,1% ở những bệnh nhân đã dùng dabigatran etexilate và 0,2% ở những bệnh nhân dùng giả dược.
Giảm nguy cơ tái phát huyết khối tĩnh mạch sâu (DVT) và thuyên tắc phổi (PE) ở những bệnh nhân đã được điều trị trước đó
Trong ba nghiên cứu kiểm chứng với hoạt chất, tỷ lệ nhồi máu cơ tim (MI) đã được báo cáo ở những bệnh nhân đã dùng dabigatran etexilate cao hơn ở nhóm bệnh nhân dùng warfarin là 0,4% so với 0,2% trong nghiên cứu ngắn hạn RE-COVER và RE-COVER II; là 0,8% so với 0,1% trong nghiên cứu dài hạn RE-MEDY. Sự gia tăng trong nghiên cứu này có ý nghĩa thống kê (p = 0,022). Trong nghiên cứu RE-SONATE, là nghiên cứu thực hiện việc so sánh dabigatran etexilate so với giả dược, tỷ lệ nhồi máu cơ tim (MI) là 0,1% ở những bệnh nhân đã dùng dabigatran etexilate và 0,2% ở những bệnh nhân dùng giả dược.
Bệnh nhân ung thư đang tiến triển
Điều trị huyết khối tĩnh mạch sâu (DVT) cấp và/hoặc thuyên tắc phổi (PE) và ngăn ngừa tử vong liên quan
Hiệu quả và độ an toàn vẫn chưa được thiết lập ở bệnh nhân ung thư đang tiến triển.
Giảm nguy cơ tái phát huyết khối tĩnh mạch sâu (DVT) và thuyên tắc phổi (PE) ở những bệnh nhân đã được điều trị trước đó
Hiệu quả và độ an toàn vẫn chưa được thiết lập ở bệnh nhân ung thư đang tiến triển.
Ảnh hưởng lên khả năng lái xe và vận hành máy móc
Chưa có nghiên cứu nào được thực hiện trên tác động tới khả năng lái xe và vận hành máy móc.
Register or sign in to continue
Asia's one-stop resource for medical news, clinical reference and education
Already a member? Sign in
Register or sign in to continue
Asia's one-stop resource for medical news, clinical reference and education
Already a member? Sign in