Simponi

Simponi Tác dụng không mong muốn

golimumab

Nhà sản xuất:

Baxter
/
Cilag AG

Nhà tiếp thị:

Johnson & Johnson
/
Janssen-Cilag
Thông tin kê toa chi tiết tiếng Việt
Tác dụng không mong muốn
Tóm tắt hồ sơ về tính an toàn
Trong giai đoạn đối chứng của các thử nghiệm then chốt về RA, PsA, AS, nr-Axial SpA và UC, nhiễm trùng đường hô hấp trên là phản ứng bất lợi của thuốc (ADR) thường gặp nhất được báo cáo trong 12,6% số bệnh nhân điều trị với golimumab so với 11,0% ở nhóm chứng. Các ADR nghiêm trọng nhất đã được báo cáo khi dùng golimumab là các nhiễm trùng nghiêm trọng (bao gồm nhiễm trùng huyết, viêm phổi, lao, nhiễm nấm xâm lấn và nhiễm trùng cơ hội), rối loạn thoái hóa myelin, tái hoạt động HBV, suy tim sung huyết, quá trình tự miễn (hội chứng giống lupus), các phản ứng huyết học, quá mẫn toàn thân nghiêm trọng (bao gồm phản ứng phản vệ), viêm mạch máu, u lympho và bệnh bạch cầu (xem mục Cảnh báo và thận trọng).
Bảng danh sách các phản ứng bất lợi
Bảng liệt kê các phản ứng bất lợi của thuốc khi dùng golimumab được ghi nhận trong các nghiên cứu lâm sàng và trong các báo cáo sau khi lưu hành trên toàn cầu. Trong phạm vi các nhóm hệ thống cơ quan cụ thể, các phản ứng bất lợi của thuốc được liệt kê theo tần suất và sử dụng quy ước sau đây: rất thường gặp (≥1/10), thường gặp (≥1/100 đến <1/10), ít gặp (≥1/1.000 đến <1/100), hiếm gặp (≥1/10.000 đến <1/1.000), rất hiếm gặp (<1/10.000), không rõ (không thể ước lượng từ dữ liệu có sẵn). Trong mỗi nhóm tần suất, các phản ứng bất lợi được thể hiện với thứ tự theo mức độ nghiêm trọng giảm dần.
- xem Bảng 8.

Image from Drug Label Content

Qua mục này, trung vị thời gian theo dõi (xấp xỉ 4 năm) được trình bày chung cho tất cả các hình thức sử dụng golimumab. Sử dụng golimumab được mô tả theo liều, trung vị thời gian theo dõi khác nhau (xấp xỉ 2 năm cho liều 50 mg, xấp xỉ 3 năm cho liều 100 mg) vì bệnh nhân có thể chuyển đổi giữa các liều.
Mô tả các phản ứng bất lợi chọn lọc
Nhiễm trùng
Trong giai đoạn đối chứng của các thử nghiệm then chốt, nhiễm trùng đường hô hấp trên là phản ứng bất lợi thường gặp nhất được báo cáo ở 12,6% số bệnh nhân được điều trị với golimumab (tỷ lệ mới mắc trên 100 đối tượng-các năm là 60,8; 95% CI là 55,0; 67,1), so với 11,0% ở nhóm chứng (tỷ lệ trên 100 đối tượng-các năm là 54,5; 95% CI là 46,1; 64,0). Trong giai đoạn có đối chứng và không đối chứng của các nghiên cứu này với trung vị thời gian theo dõi xấp xỉ 4 năm, tỷ lệ mới mắc trên 100 đối tượng-các năm về nhiễm trùng đường hô hấp trên là 34,9 biến cố; 95% CI là 33,8; 36,0 đối với bệnh nhân điều trị với golimumab.
Trong giai đoạn đối chứng của các thử nghiệm then chốt, đã xảy ra nhiễm trùng ở 23,0% số bệnh nhân dùng golimumab (tỷ lệ mới mắc trên 100 đối tượng-các năm là 132,0; 95% CI là 123,3; 141,1), so với 20,2% ở nhóm chứng (tỷ lệ trên 100 đối tượng-các năm là 122,3; 95% CI là 109,5; 136,2). Trong giai đoạn có đối chứng và không đối chứng của các thử nghiệm này với trung vị thời gian theo dõi xấp xỉ 4 năm, tỷ lệ mới mắc nhiễm trùng trên 100 đối tượng-các năm là 81,1 biến cố; 95% CI là 79,5; 82,8 đối với bệnh nhân điều trị với golimumab.
Trong giai đoạn đối chứng của các thử nghiệm trên bệnh nhân bị RA, PsA, AS và nr-Axial SpA, nhiễm trùng nghiêm trọng xảy ra ở 1,2% số bệnh nhân điều trị với golimumab và 1,2% ở nhóm chứng. Tỷ lệ mới mắc của nhiễm trùng nghiêm trọng trên 100 đối tượng-các năm theo dõi trong giai đoạn đối chứng của các thử nghiệm về RA, PsA, AS và nr-Axial SpA là 7,3; 95% CI là 4,6; 11,1 ở nhóm golimumab 100 mg, 2,9; 95% CI là 1,2; 6,0 ở nhóm dùng golimumab 50 mg và 3,6; 95% CI là 1,5; 7,0 ở nhóm dùng giả dược. Trong giai đoạn có đối chứng của những thử nghiệm với golimumab dẫn nhập điều trị bệnh viêm loét đại tràng, tỷ lệ nhiễm trùng nghiêm trọng là 0,8% ở nhóm bệnh nhân sử dụng golimumab so với 1,5% ở nhóm bệnh nhân đối chứng. Nhiễm trùng nghiêm trọng xảy ra ở những bệnh nhân được điều trị golimumab là bệnh lao, nhiễm khuẩn bao gồm nhiễm khuẩn huyết và viêm phổi, nhiễm nấm xâm lấn và các nhiễm trùng cơ hội khác. Một số trường hợp nhiễm trùng này đã tử vong. Trong các giai đoạn có đối chứng và không có đối chứng của các thử nghiệm then chốt này với trung vị thời gian theo dõi lên đến 3 năm, tỷ lệ mới mắc nhiễm trùng nghiêm trọng gồm nhiễm trùng cơ hội và nhiễm lao ở những bệnh nhân điều trị với golimumab 100 mg là cao hơn so với những bệnh nhân nhận golimumab 50 mg. Tỷ lệ mới mắc trên 100 bệnh nhân-các năm của tất cả các nhiễm trùng nghiêm trọng là 4,1; 95% CI là 3,6; 4,5 ở nhóm dùng golimumab 100 mg và 2,5; 95% CI là 2,0; 3,1 ở nhóm dùng golimumab 50 mg.
U ác tính
U lympho
Tỷ lệ mới mắc u lympho ở bệnh nhân điều trị với golimumab trong các thử nghiệm then chốt này được ghi nhận cao hơn so với dự kiến ở quần thể chung. Trong các giai đoạn có đối chứng và không có đối chứng của các thử nghiệm này với trung vị thời gian theo dõi lên đến 3 năm, tỷ lệ mới mắc u lympho ở nhóm dùng golimumab 100 mg cao hơn so với nhóm dùng golimumab 50 mg. Có 11 đối tượng được chẩn đoán u lympho (1 bệnh nhân trong nhóm dùng golimumab 50 mg và 10 bệnh nhân trong nhóm dùng golimumab 100 mg) với tỷ lệ (95% CI) trên 100 đối tượng-các năm theo dõi là 0,03 (0,00; 0,15) và 0,13 (0,06; 0,24) biến cố, tương ứng với nhóm dùng golimumab liều 50 mg và 100 mg so với 0,00 (0,00; 0,57) biến cố ở nhóm dùng giả dược. Đa số các trường hợp u lympho xảy ra ở nghiên cứu GO-AFTER, là nghiên cứu tuyển chọn những bệnh nhân đã từng dùng các thuốc ức chế TNF trước đó, có thời gian bị bệnh dài hơn và bệnh khó điều trị hơn (xem mục Cảnh báo và thận trọng).
U ác tính không phải u lympho
Trong các giai đoạn đối chứng của các thử nghiệm then chốt và trong suốt thời gian theo dõi khoảng 4 năm, tỷ lệ mới mắc u ác tính không phải u lympho (ngoại trừ ung thư da không phải u hắc tố) là tương tự nhau giữa nhóm golimumab và nhóm chứng. Qua khoảng 4 năm theo dõi, tỷ lệ mới mắc u ác tính không phải u lympho (ngoại trừ ung thư da không phải u hắc tố) cũng tương đương như ở quần thể chung.
Trong các giai đoạn có đối chứng và không có đối chứng của các thử nghiệm then chốt với trung vị thời gian theo dõi lên đến 3 năm, ung thư da không phải u hắc tố đã được chẩn đoán ở 5 bệnh nhân dùng giả dược, 10 bệnh nhân dùng golimumab 50 mg và 31 bệnh nhân dùng golimumab 100 mg với tỷ lệ mới mắc (95% CI) trên 100 đối tượng - các năm theo dõi là 0,36 (0,26; 0,49) cho cả hai nhóm golimumab gộp lại và 0,87 (0,28; 2,04) đối với giả dược.
Trong các giai đoạn có đối chứng và không có đối chứng của các thử nghiệm then chốt với trung vị thời gian theo dõi lên đến 3 năm, các khối u ác tính không phải u hắc tố ác tính, ung thư da không phải u hắc tố và u lympho đã được chẩn đoán ở 5 bệnh nhân dùng giả dược, 21 bệnh nhân dùng golimumab 50 mg và 34 bệnh nhân dùng golimumab 100 mg với tỷ lệ mới mắc (95% CI) trên 100 đối tượng-các năm theo dõi là 0,48 (0,36; 0,62) cho cả hai nhóm golimumab gộp lại và 0,87 (0,28; 2,04) đối với giả dược (xem mục Cảnh báo và thận trọng).
Các trường hợp được báo cáo trong nghiên cứu lâm sàng trên bệnh nhân hen
Trong một nghiên cứu lâm sàng thăm dò, bệnh nhân bị hen nặng kéo dài nhận golimumab một liều cao tấn công (150% liều điều trị được chỉ định) tiêm dưới da ở tuần 0, sau đó là golimumab 200 mg, golimumab 100 mg hoặc golimumab 50 mg mỗi 4 tuần tiêm dưới da đến tuần 52. Đã có 8 trường hợp báo cáo bị khối u ác tính ở cả hai nhóm golimumab gộp lại (n=230) và không có trường hợp nào trong nhóm điều trị giả dược (n=79). U lympho đã được báo cáo ở 1 bệnh nhân, ung thư da không phải u hắc tố ở 2 bệnh nhân, và các u ác tính khác ở 5 bệnh nhân. Không có sự phân nhóm cụ thể của bất kỳ loại u ác tính.
Trong giai đoạn đối chứng với giả dược của nghiên cứu này, tỷ lệ mới mắc (95% CI) của tất cả các khối u ác tính trên 100 đối tượng-các năm theo dõi là 3,19 (1,38; 6,28) trong nhóm golimumab. Trong nghiên cứu này, tỷ lệ mới mắc (95% CI) trên 100 đối tượng-các năm theo dõi trong nhóm dùng golimumab là 0,40 (0,01; 2,20) cho u lympho, 0,79 (0,10; 2,86) cho ung thư da không phải u hắc tố, và 1,99 (0,64; 4,63) cho các khối u ác tính khác. Ở đối tượng dùng giả dược, tỷ lệ mới mắc (95% CI) trên 100 đối tượng-các năm theo dõi của các khối u ác tính này là 0,00 (0,00; 2,94). Vẫn chưa biết rõ ý nghĩa của phát hiện này.
Biến cố thần kinh
Trong các giai đoạn đối chứng và không đối chứng của các thử nghiệm then chốt với trung vị thời gian theo dõi lên đến 3 năm, tỷ lệ bị thoái hóa myelin được ghi nhận cao hơn ở nhóm bệnh nhân dùng golimumab 100 mg so với nhóm dùng golimumab 50 mg (xem mục Cảnh báo và thận trọng).
Tăng men gan
Trong giai đoạn đối chứng của các thử nghiệm then chốt về RA và PsA, ALT tăng nhẹ (>1 và <3 lần giới hạn trên của giá trị bình thường (ULN)) đã xảy ra với tỷ lệ tương tự ở nhóm điều trị với golimumab và nhóm chứng trong các nghiên cứu về RA và PsA (22,1% đến 27,4% bệnh nhân); trong các nghiên cứu về AS và nr-Axial SpA, bệnh nhân ở nhóm điều trị với golimumab có ALT tăng nhẹ nhiều hơn (26,9%) khi so với nhóm chứng (10,6%). Trong các giai đoạn có đối chứng và không có đối chứng của các thử nghiệm then chốt về RA và PsA, với trung vị thời gian theo dõi khoảng 5 năm, tỷ lệ bệnh nhân mới mắc có tăng nhẹ ALT đều như nhau ở nhóm điều trị golimumab và nhóm chứng. Trong giai đoạn có đối chứng của các thử nghiệm then chốt về viêm loét đại tràng dùng golimumab dẫn nhập, tăng nhẹ ALT (>1 và < 3xULN) đã xảy ra với tỷ lệ tương tự ở cả hai nhóm dùng golimumab và nhóm chứng (8,0% đến 6,9%, tương ứng). Trong các giai đoạn đối chứng và không đối chứng của các thử nghiệm then chốt về viêm loét đại tràng với trung vị thời gian theo dõi khoảng 2 năm, tỷ lệ bệnh nhân có ALT tăng nhẹ là 24,7% ở nhóm dùng golimumab trong suốt thời gian điều trị duy trì của nghiên cứu viêm loét đại tràng này.
Trong giai đoạn đối chứng của các thử nghiệm then chốt về RA và AS, ít gặp tăng ALT ≥ 5 x ULN và xảy ra nhiều hơn ở nhóm bệnh nhân điều trị với golimumab (0,4% đến 0,9%) so với bệnh nhân nhóm chứng (0,0%). Hiện tượng này không quan sát thấy trên quần thể bị PsA. Trong các giai đoạn có đối chứng và không có đối chứng của các thử nghiệm then chốt trên RA, PsA và AS, với trung vị thời gian theo dõi là 5 năm, tỷ lệ tăng ALT ≥ 5xULN mới mắc là tương tự ở cả hai nhóm điều trị với golimumab và nhóm chứng. Nhìn chung, các trường hợp tăng ALT này thường không có triệu chứng và các bất thường này đã giảm hoặc khỏi hẳn khi tiếp tục dùng hoặc ngừng dùng golimumab hoặc thay đổi các thuốc dùng đồng thời. Không có trường hợp nào được báo cáo trong giai đoạn đối chứng và không đối chứng của nghiên cứu nr-Axial SpA (lên đến 1 năm). Trong giai đoạn đối chứng của các nghiên cứu then chốt về viêm loét đại tràng dùng golimumab dẫn nhập, tăng ALT ≥ 5xULN xảy ra với tỷ lệ tương tự ở nhóm dùng golimumab so với nhóm dùng giả dược (0,3% đến 1,0%, tương ứng). Trong các giai đoạn đối chứng và không đối chứng của các thử nghiệm then chốt về viêm loét đại tràng với trung vị thời gian theo dõi khoảng 2 năm, tỷ lệ tăng ALT ≥ 5 x ULN là 0,8% ở bệnh nhân dùng golimumab trong suốt thời gian điều trị duy trì của nghiên cứu viêm loét đại tràng.
Trong các thử nghiệm then chốt trên RA, PsA, AS, và nr-Axial SpA, một bệnh nhân trong thử nghiệm về RA với các bất thường ở gan từ trước và đang dùng lẫn lộn các thuốc được điều trị với golimumab đã phát triển viêm gan không do nhiễm trùng có vàng da và đã tử vong. Không thể loại trừ vai trò của golimumab như là yếu tố góp phần hoặc làm bệnh nặng hơn.
Phản ứng tại vị trí tiêm
Trong giai đoạn đối chứng của các thử nghiệm then chốt, 5,4% số bệnh nhân điều trị với golimumab đã có phản ứng tại vị trí tiêm so với 2,0% số bệnh nhân nhóm chứng. Sự xuất hiện các kháng thể kháng golimumab có thể làm tăng nguy cơ xảy ra các phản ứng tại vị trí tiêm. Đa số các phản ứng tại vị trí tiêm đều có mức độ nhẹ và trung bình và biểu hiện thường gặp nhất là đỏ tại vị trí tiêm. Nhìn chung, không cần phải ngừng thuốc khi có phản ứng tại vị trí tiêm.
Trong các thử nghiệm có đối chứng giai đoạn IIb và/hoặc III trên bệnh nhân bị RA, PsA, AS, nr-Axial SpA, hen nặng kéo dài, và các thử nghiệm lâm sàng giai đoạn II/III trên bệnh nhân bị viêm loét đại tràng, không có phản ứng phản vệ nào xảy ra ở bệnh nhân được điều trị với golimumab.
Kháng thể tự miễn
Trong các giai đoạn đối chứng và không đối chứng của các thử nghiệm then chốt trong suốt 1 năm theo dõi, 3,5% bệnh nhân ở nhóm điều trị với golimumab và 2,3% bệnh nhân ở nhóm chứng có xét nghiệm kháng thể kháng nhân (ANA) mới dương tính (với hiệu giá kháng thể là 1:160 hoặc cao hơn). Tần suất gặp kháng thể kháng chuỗi kép DNA (anti-dsDNA) trong 1 năm theo dõi ở bệnh nhân không có kháng thể kháng chuỗi kép DNA tại thời điểm ban đầu là 1,1%.
Quần thể bệnh nhân nhi
Viêm đa khớp tự phát thiếu niên
Đã nghiên cứu tính an toàn của golimumab trong một nghiên cứu pha III với 173 bệnh nhân pJIA từ 2 đến 17 tuổi. Trung vị thời gian theo dõi khoảng 2 năm. Trong nghiên cứu này, loại và tần suất các biến cố bất lợi được báo cáo là tương tự như ở nghiên cứu trên người lớn bị viêm khớp dạng thấp.
Báo cáo các phản ứng bất lợi nghi ngờ liên quan đến thuốc
Báo cáo các phản ứng bất lợi nghi ngờ sau khi thuốc được cấp phép lưu hành là điều quan trọng. Việc báo cáo này cho phép tiếp tục giám sát sự cân bằng giữa lợi ích và nguy cơ của thuốc. Chuyên gia y tế được yêu cầu báo cáo bất kỳ phản ứng có hại nghi ngờ có liên quan đến sản phẩm thông qua hệ thống báo cáo quốc gia.
Register or sign in to continue
Asia's one-stop resource for medical news, clinical reference and education
Already a member? Sign in
Register or sign in to continue
Asia's one-stop resource for medical news, clinical reference and education
Already a member? Sign in