Spiriva Respimat

Spiriva Respimat Dược lực học

tiotropium bromide

Nhà sản xuất:

Boehringer Ingelheim
Thông tin kê toa chi tiết tiếng Việt
Dược lực học
Nhóm dược lý điều trị: Các thuốc khác dùng cho bệnh tắc nghẽn đường hô hấp, khí dung, kháng cholinergic; mã ATC: R03BB04.
Tiotropium bromide là chất kháng muscarinic đặc hiệu, tác dụng kéo dài, trong y học lâm sàng gọi là kháng cholinergic. Thuốc có ái lực tương tự với các phân nhóm thụ thể muscarinic M1 đến M5. Ở đường hô hấp, sự ức chế thụ thể M3 tại cơ trơn gây giãn cơ. Bản chất đối kháng cạnh tranh và có hồi phục đã được chứng minh trên các thụ thể từ người và động vật và các chế phẩm phân lập từ các cơ quan. Trong các nghiên cứu tiền lâm sàng in vitro cũng như các nghiên cứu in vivo, tác dụng bảo vệ phế quản phụ thuộc liều dùng và kéo dài hơn 24 giờ. Thời gian tác dụng kéo dài do sự phân ly chậm của thuốc ra khỏi các thụ thể M3, với thời gian bán phân ly dài hơn đáng kể so với ipratropium. Do là thuốc kháng cholinergic N bậc 4, tiotropium tác dụng chọn lọc tại chỗ (phế quản) khi dùng đường khí dung, thể hiện khoảng điều trị hiệu quả trước khi thể hiện tác dụng kháng cholinergic toàn thân. Trong các nghiên cứu về chức năng in vitro sự phân ly của thuốc khỏi thụ thể M2 nhanh hơn từ thụ thể M3, suy ra sự chọn lọc trên phân nhóm thụ thể M3 nhiều hơn M2 (có kiểm soát về động học).
Hiệu lực cao và phân ly chậm từ các thụ thể cho thấy mối liên quan lâm sàng đối với tác dụng giãn phế quản đáng kể và kéo dài ở những bệnh nhân COPD.
Tác dụng giãn phế quản sau khí dung tiotropium chủ yếu là tác dụng tại chỗ (trên đường hô hấp) mà không phải là tác dụng toàn thân.
COPD
Chương trình nghiên cứu lâm sàng pha III bao gồm hai nghiên cứu 1 năm, hai nghiên cứu 12 tuần và 4 nghiên cứu 4 tuần, được thiết kế mù đôi, ngẫu nhiên trên 2901 bệnh nhân COPD (1038 bệnh nhân dùng liều 5 mcg tiotropium). Chương trình 1 năm bao gồm hai nghiên cứu có đối chứng giả dược. Hai nghiên cứu 12 tuần đều có đối chứng hoạt chất (ipratropium) và giả dược. Cả sáu nghiên cứu đều đánh giá chức năng hô hấp. Hơn nữa, hai nghiên cứu 1 năm đều đánh giá tác động về sức khỏe như khó thở, chất lượng cuộc sống liên quan đến sức khỏe và ảnh hưởng đến đợt kịch phát.
Nghiên cứu đối chứng giả dược
Chức năng hô hấp
So với giả dược SPIRIVA RESPIMAT dùng một lần mỗi ngày được chứng minh cải thiện đáng kể chức năng hô hấp (thể tích thở ra gắng sức trong 1 giây và dung tích sống gắng sức) trong vòng 30 phút sau liều dùng đầu tiên. Cải thiện chức năng hô hấp được duy trì trong 24 giờ trong tình trạng ổn định.
Tình trạng dược lực học ổn định đạt được trong 1 tuần. SPIRIVA RESPIMAT cải thiện đáng kể PEFR (lưu lượng đỉnh) đo được vào buổi sáng và tối như ghi nhận hàng ngày của bệnh nhân. So với giả dược, sử dụng SPIRIVA RESPIMAT làm giảm việc sử dụng thuốc giãn phế quản cắt cơn.
Tác dụng giãn phế quản của SPIRIVA RESPIMAT được duy trì trong 48 tuần dùng thuốc mà không có bằng chứng về lờn thuốc.
Một phân tích kết hợp số liệu của hai nghiên cứu ngẫu nhiên, đối chứng giả dược, bắt chéo đã cho thấy đáp ứng giãn phế quản đối với SPIRIVA RESPIMAT (5 mcg) cao hơn về mặt số học so với SPIRIVA HandiHaler (18 mcg) dạng bột để hít sau điều trị 4 tuần.
Khó thở, chất lượng cuộc sống liên quan đến sức khỏe, cơn kịch phát COPD trong những nghiên cứu 1 năm
(a) SPIRIVA RESPIMAT cải thiện khó thở một cách đáng kể (khi được đánh giá bằng Chỉ số khó thở thoáng qua - Transition Dyspnoea Index). Sự cải thiện này được duy trì trong suốt thời gian điều trị.
(b) Đánh giá chất lượng cuộc sống của bệnh nhân (qua sử dụng bộ câu hỏi St. George’s Respiratory Questionnaire) đã cho thấy SPIRIVA RESPIMAT có tác dụng tích cực đến ảnh hưởng về tâm lý xã hội của COPD, các hoạt động bị ảnh hưởng bởi COPD và tình trạng mệt mỏi do các triệu chứng của COPD. Sự cải thiện tổng số điểm trung bình giữa SPIRIVA RESPIMAT so với giả dược lúc kết thúc hai nghiên cứu 1 năm có ý nghĩa thống kê và được duy trì trong suốt thời gian điều trị.
(c) Cơn kịch phát COPD.
Trong ba nghiên cứu một năm, thiết kế ngẫu nhiên, mù đôi, đối chứng giả dược, điều trị với SPIRIVA RESPIMAT làm giảm đáng kể nguy cơ cơn kịch phát COPD so với giả dược. Cơn kịch phát COPD được xác định là “biểu hiện của ít nhất hai biến cố/triệu chứng hô hấp với thời gian ba ngày hoặc dài hơn cần thay đổi phương pháp điều trị (kê toa kháng sinh và/hoặc corticosteroid toàn thân và/hoặc thay đổi đáng kể thuốc tác dụng trên đường hô hấp đang được kê toa)”. Điều trị bằng SPIRIVA RESPIMAT làm giảm nguy cơ nhập viện do cơn kịch phát COPD (có ý nghĩa trong một nghiên cứu lớn về cơn kịch phát có đủ độ mạnh thống kê).
Phân tích gộp của hai nghiên cứu Pha III và phân tích riêng lẻ của một nghiên cứu bổ sung về cơn kịch phát được thể hiện ở Bảng 1. Tất cả các thuốc tác dụng trên đường hô hấp ngoại trừ thuốc kháng cholinergic và thuốc kích thích thụ thể beta tác dụng kéo dài đều được phép sử dụng kết hợp, ví dụ như thuốc kích thích beta tác dụng nhanh, corticosteroid dạng hít và xanthine. Thuốc kích thích beta tác dụng kéo dài được phép sử dụng thêm trong nghiên cứu cơn kịch phát.
- xem Bảng 1.

Image from Drug Label Content

Nghiên cứu đối chứng hoạt chất tiotropium dài hạn
Một nghiên cứu quy mô lớn, dài hạn, được thiết kế ngẫu nhiên, mù đôi, đối chứng hoạt chất với thời gian điều trị đến 3 năm đã được tiến hành để so sánh hiệu quả và an toàn của SPIRIVA RESPIMAT và SPIRIVA HANDIHALER (5.711 bệnh nhân dùng SPIRIVA RESPIMAT 2,5 mcg (liều điều trị là 5 mcg); 5.694 bệnh nhân dùng SPIRIVA HANDIHALER). Tiêu chí chính là thời gian đến khi xuất hiện cơn kịch phát COPD đầu tiên, thời gian đến khi tử vong do mọi nguyên nhân và FEV1 đáy (trước liều) trong một nghiên cứu phụ (906 bệnh nhân).
Thời gian đến khi xuất hiện cơn kịch phát COPD đầu tiên là tương tự giữa SPIRIVA RESPIMAT và SPIRIVA HANDIHALER trong suốt nghiên cứu (tỷ số nguy hại (SPIRIVA RESPIMAT/ SPIRIVA HANDIHALER) 0,98 với khoảng tin cậy 95% từ 0,93 đến 1,03).
Số ngày trung bình đến khi xuất hiện cơn kịch phát COPD đầu tiên là 756 ngày cho SPIRIVA RESPIMAT và 719 ngày cho SPIRIVA HANDIHALER.
Tác dụng giãn phế quả của SPIRIVA RESPIMAT kéo dài trên 120 tuần, và cũng tương tự cho SPIRIVA HANDIHALER. Sự khác biệt trung bình trong FEV1 đáy của SPIRIVA RESPIMAT so với SPIRIVA HANDIHALER là -0,010 L (khoảng tin cậy 95% từ -0,038 đến 0,018 mL).
Tử vong do mọi nguyên nhân là tương tự giữa SPIRIVA RESPIMAT và SPIRIVA HANDIHALER trong suốt nghiên cứu (tỷ số nguy hại (SPIRIVA RESPIMAT/ SPIRIVA HANDIHALER) 0,96 với khoảng tin cậy 95% từ 0,84 đến 1,09).
Hen
Chương trình nghiên cứu lâm sàng giai đoạn III đối với hen dai dẳng gồm 2 nghiên cứu 1 năm và 2 nghiên cứu 6 tháng, ngẫu nhiên mù đôi có kiểm soát với giả dược trên tổng số 3.476 bệnh nhân hen (1.128 bệnh nhân dùng SPIRIVA RESPIMAT) trên nền điều trị ban đầu với ít nhất ICS hoặc ICS/LABA. Hai nghiên cứu kéo dài 6 tháng là nghiên cứu đối chứng với thuốc (salmeterol). Tất cả 5 nghiên cứu bao gồm kiểm soát chức năng phổi, đánh giá các triệu chứng kể cả cơn kịch phát, chất lượng cuộc sống liên quan đến sức khoẻ.
Trong hai nghiên cứu 1 năm PrimoTinA trên bệnh nhân hen đã có triệu chứng khi điều trị duy trì với ít nhất liều cao ICS và LABA, SPIRIVA RESPIMAT cho thấy cải thiện đáng kể chức năng phổi so với giả dược khi bổ sung vào chế độ điều trị ban đầu.
• Tại tuần 24, cải thiện trung bình nồng độ đỉnh và đáy FEV1 tương ứng là 0,110 lít (95% CI: 0,063-0,158 lít, p<0,0001) và 0,093 lít (95% CI: 0,050 đến 0,137 lít, p<0,0001).
• Cải thiện chức năng phổi so với giả dược được duy trì trong 24 giờ.
• Tại tuần 24, SPIRIVA RESPIMAT cải thiện đáng kể lưu lượng đỉnh vào buổi sáng và tối (PEF, cải thiện trung bình trong buổi sáng 23 L/phút; 95% CI: 16 đến 29 L/phút, p<0,0001; buổi tối 26 L/phút; 95%CI: 20 đến 33 L/phút, p<0,0001).
• Hiệu quả giãn phế quản của SPIRIVA RESPIMAT được duy trì trong suốt 1 năm dùng thuốc mà không có biểu hiện của đáp ứng miễn dịch nhanh hoặc lờn thuốc.
• SPIRIVA RESPIMAT giảm đáng kể nguy cơ các đợt kịch phát hen nặng.
- xem Bảng 2.

Image from Drug Label Content

• Tỉ lệ người đáp ứng Bộ câu hỏi kiểm soát hen (ACQ) được xác định là phần trăm số bệnh nhân cải thiện ít nhất 0,5 điểm, cao hơn đáng kể với SPIRIVA RESPIMAT (53,9% so với giả dược là 46,9%; p=0,0427).
• Điểm số trung bình Bộ câu hỏi Chất lượng cuộc sống hen (AQLA (S)) của bệnh nhân hen khi dùng SPIRIVA RESPIMAT cải thiện đáng kể so với giả dược ở tuần 24.
Trong 2 nghiên cứu MezzoTinA trên bệnh nhân hen có triệu chứng kéo dài 6 tháng khi điều trị duy trì với liều trung bình ICS, SPIRIVA RESPIMAT cho thấy cải thiện đáng kể chức năng phổi so với giả dược khi sử dụng bổ sung vào điều trị ban đầu.
• Tại tuần 24, cải thiện trung bình FEV1 đỉnh và đáy tương ứng là 0,185 lít (95% CI: 0,146 đến 0,223 lít, p<0,0001) và 0,146 lít (0,105 đến 0,188 lít, p<0,0001). Các giá trị FEV1 đỉnh và đáy cho salmeterol tương ứng là 0,196 lít (95% CI: 0,158 đến 0,234 lít) và 0,114 lít (95% CI: 0,073 đến 0,155 lít).
• SPIRIVA RESPIMAT cải thiện đáng kể PEF buổi sáng và buổi tối (buổi sáng 24 L/phút); 95% CI: 18 đến 31 L/phút, p<0,0001; buổi tối 23 L/phút, 95% CI: 17 đến 30 L/phút, p<0,0001). PEF tương ứng buổi sáng và buổi tối đối với salmeterol so với giả dược là 25 L/phút (95% CI: 19 đến 31 L/phút) và 21 L/phút (95% CI: 15 đến 27 L/phút).
• Tỉ lệ bệnh nhân đáp ứng ACQ dùng SPIRIVA RESPIMAT cao hơn đáng kể ở tuần 24 so với bệnh nhân sử dụng giả dược.
- xem Bảng 3.

Image from Drug Label Content

Trong nghiên cứu hen GraziaTinA 12 tuần ở những bệnh nhân có triệu chứng khi điều trị duy trì với liều thấp ICS, SPIRIVA RESPIMAT cải thiện đáng kể chức năng phổi so với giả dược khi sử dụng dưới dạng bổ sung vào điều trị ban đầu. Tại tuần 12, cải thiện trung bình FEV1 đỉnh và đáy tương ứng là 0,128 lít (95% CI: 0,057 đến 0,199 lít, p<0,0005) và 0,122 lít (95% CI: 0,049 đến 0,194 lít, p<0,0010).
Register or sign in to continue
Asia's one-stop resource for medical news, clinical reference and education
Already a member? Sign in
Register or sign in to continue
Asia's one-stop resource for medical news, clinical reference and education
Already a member? Sign in