Tagrisso

Tagrisso Cảnh báo và thận trọng

Nhà sản xuất:

AstraZeneca
Thông tin kê toa chi tiết tiếng Việt
Cảnh báo và thận trọng
Đánh giá tình trạng đột biến EGFR
Khi xem xét dùng TAGRISSO để điều trị bổ trợ cho bệnh nhân ung thư phổi không tế bào nhỏ (NSCLC) sau khi được phẫu thuật cắt bỏ khối u hoàn toàn, việc xác định tình trạng đột biến EGFR dương tính [dạng mất đoạn trên exon 19 (Ex19del) hoặc đột biến điểm exon 21 (L858R)] để cho biết có đủ điều kiện để điều trị là rất quan trọng. Nên thực hiện một xét nghiệm đã được công nhận tại phòng thí nghiệm lâm sàng, bằng cách sử dụng DNA mẫu mô khối u lấy từ mẫu sinh thiết hoặc phẫu thuật.
Khi xem xét dùng TAGRISSO để điều trị cho bệnh nhân ung thư phổi loại không tế bào nhỏ (NSCLC) giai đoạn tiến triển tại chỗ hoặc di căn, việc xác định tình trạng đột biến EGFR dương tính là rất quan trọng. Nên thực hiện một xét nghiệm đã được công nhận bằng cách sử dụng mẫu DNA khối u lấy từ mẫu mô hoặc mẫu DNA khối u trong hệ tuần hoàn (ctDNA) thu thập từ mẫu huyết tương.
Việc xác định tình trạng dương tính của đột biến EGFR (đột biến EGFR hoạt hóa trong điều trị bước 1 hoặc đột biến T790M sau khi bệnh tiến triển trong hoặc sau khi điều trị bằng liệu pháp EGFR TKI) sử dụng xét nghiệm trên mẫu mô hoặc mẫu huyết tương sẽ cho biết có đủ điều kiện điều trị với TAGRISSO. Tuy nhiên, nếu sử dụng xét nghiệm mẫu DNA khối u trong hệ tuần hoàn dựa trên mẫu huyết tương và có kết quả âm tính, khuyến cáo nên theo dõi tiếp bằng xét nghiệm từ mẫu mô nếu có thể vì có khả năng xét nghiệm mẫu huyết tương cho kết quả âm tính giả.
Chỉ dùng các phương pháp xét nghiệm có độ tái lặp, độ tin cậy, độ nhạy cùng với tính ứng dụng (utility) đã được kiểm chứng để xác định tình trạng đột biến EGFR.
Bệnh phổi mô kẽ (ILD)
Bệnh phổi mô kẽ (ILD) trầm trọng/đe dọa đến tính mạng/gây tử vong hoặc phản ứng ngoại ý giống ILD (như viêm phổi không do nhiễm trùng) đã được ghi nhận ở bệnh nhân dùng TAGRISSO trong các nghiên cứu lâm sàng. Hầu hết các trường hợp được cải thiện hoặc biến mất khi ngưng điều trị. Bệnh nhân có tiền sử ILD trước đây, đã dùng thuốc gây ILD, viêm phổi do xạ trị mà yêu cầu dùng steroid hoặc có bất kỳ bằng chứng ILD tiến triển trên lâm sàng đã được loại trừ khỏi các nghiên cứu lâm sàng này (xem phần Tác dụng không mong muốn).
Đã ghi nhận bệnh phổi mô kẽ (ILD) hoặc phản ứng ngoại ý giống ILD ở 3,7% bệnh nhân trên tổng số 1.479 bệnh nhân dùng TAGRISSO trong các nghiên cứu ADAURA, FLAURA và AURA. Đã ghi nhận 5 trường hợp tử vong trong điều trị di căn hoặc tiến triển tại chỗ. Không ghi nhận trường hợp tử vong nào trong trường hợp điều trị bổ trợ. Tần suất xảy ra ILD là 10,9% ở bệnh nhân là người Nhật Bản, 1,6% ở bệnh nhân châu Á và 2,5% ở nhóm bệnh nhân không thuộc chủng tộc châu Á (xem phần Tác dụng không mong muốn).
Cần đánh giá thận trọng để loại trừ ILD đối với tất cả bệnh nhân khởi phát cấp tính triệu chứng đường hô hấp (khó thở, ho, sốt) và/hoặc các triệu chứng này trở nên nặng hơn không giải thích được. Nên ngưng điều trị bằng thuốc này trong khi đang kiểm tra các triệu chứng trên. Nếu đã chẩn đoán là ILD, nên ngưng TAGRISSO và bắt đầu các liệu pháp điều trị cần thiết. Việc sử dụng lại TAGRISSO chỉ nên được xem xét sau khi cân nhắc cẩn thận lợi ích và nguy cơ của từng bệnh nhân.
Hội chứng Stevens-Johnson
Các báo cáo ca lâm sàng của hội chứng Stevens-Johnson (SJS) hiếm khi được ghi nhận liên quan đến điều trị TAGRISSO. Trước khi bắt đầu điều trị, bệnh nhân nên được thông báo về các dấu hiệu và triệu chứng của hội chứng SJS. Nếu xuất hiện các dấu hiệu và triệu chứng gợi ý về hội chứng SJS, nên ngưng tạm thời hoặc ngừng TAGRISSO ngay lập tức.
Kéo dài khoảng QTc
Khoảng QTc kéo dài xuất hiện trên bệnh nhân dùng TAGRISSO và có thể dẫn đến tăng nguy cơ nhịp nhanh thất (như xoắn đỉnh) hoặc tử vong đột ngột. Không có biến cố loạn nhịp nào được ghi nhận trong các nghiên cứu ADAURA, FLAURA hoặc AURA (xem phần Tác dụng không mong muốn). Bệnh nhân có bất thường về nhịp và dẫn truyền nặng trên lâm sàng khi đo điện tâm đồ lúc nghỉ (ECG) (như là khoảng QTc lớn hơn 470 mili giây) đã được loại trừ trong các nghiên cứu này (xem phần Tác dụng không mong muốn).
Khi có thể, nên tránh dùng osimertinib trên bệnh nhân có hội chứng QT kéo dài bẩm sinh. Nên theo dõi định kỳ điện tâm đồ (ECGs) và chất điện giải trên bệnh nhân suy tim sung huyết, rối loạn điện giải hoặc ở bệnh nhân đang dùng thuốc đã biết làm kéo dài khoảng QTc. Nên ngưng điều trị ở bệnh nhân có khoảng QTc lớn hơn 500 mili giây được ghi nhận trên ít nhất 2 lần đo điện tâm đồ tách biệt cho đến khi khoảng QTc nhỏ hơn 481 mili giây hoặc phục hồi về trị số căn bản nếu khoảng QTc lớn hơn hoặc bằng 481 mili giây, sau đó có thể dùng lại TAGRISSO ở mức liều giảm như trình bày tại Bảng 6. Nên ngưng osimertinib vĩnh viễn ở bệnh nhân có khoảng QTc kéo dài đi kèm với các biến cố sau: xoắn đỉnh, nhịp nhanh thất đa dạng, có dấu hiệu/triệu chứng loạn nhịp trầm trọng.
Thay đổi tính co thắt cơ tim
Trong các nghiên cứu lâm sàng, phân suất tống máu thất trái (Left Ventricular Ejection Fraction - LVEF) giảm ≥ 10 điểm phần trăm và một sự sụt giảm < 50% đã xảy ra trong 3,2% (40/1.233) bệnh nhân dùng TAGRISSO, là những người có đánh giá LVEF khi khởi đầu điều trị và tối thiểu 1 lần theo dõi sau đó. Trên bệnh nhân có các yếu tố nguy cơ trên tim và những người có các tình trạng có thể ảnh hưởng đến LVEF, nên xem xét theo dõi tim, bao gồm đánh giá LVEF khi khởi đầu (at baseline) và trong khi điều trị. Trên bệnh nhân có dấu hiệu/triệu chứng tim liên quan trong khi điều trị, việc theo dõi tim bao gồm đánh giá LVEF nên được xem xét. Trong một thử nghiệm điều trị bổ trợ, có đối chứng với giả dược (ADAURA), LVEF giảm ≥ 10 điểm phần trăm và sụt giảm đến < 50% đã xảy ra trong 1,6% (5/312) bệnh nhân dùng TAGRISSO và trong 1,5% (5/331) bệnh nhân dùng giả dược.
Viêm giác mạc
Viêm giác mạc đã được ghi nhận ở 0,7% (n=10) trên tổng số 1.479 bệnh nhân điều trị bằng TAGRISSO trong các nghiên cứu ADAURA, FLAURA và AURA. Nên thăm khám bác sỹ chuyên khoa mắt ngay lập tức khi bệnh nhân có các dấu hiệu và triệu chứng nghi ngờ viêm kết mạc như tình trạng cấp hoặc trầm trọng hơn của viêm mắt, chảy nước mắt, nhạy cảm ánh sáng, mờ mắt, đau mắt và/hoặc mắt đỏ (xem phần Liều lượng và Cách dùng - Bảng 6).
Độ tuổi và cân nặng
Bệnh nhân cao tuổi (> 65 tuổi) hoặc bệnh nhân có thể trọng thấp (< 50 kg) có thể tăng nguy cơ phát triển các Tác dụng không mong muốn của thuốc Độ 3 hoặc cao hơn. Nên theo dõi chặt chẽ ở những bệnh nhân này (xem phần Tác dụng không mong muốn).
Natri
Thuốc này chứa < 1 mmol natri (23 mg) trong mỗi viên 40 mg hoặc 80 mg, do vậy có thể xem như là thuốc "không chứa natri".
Ảnh hưởng của thuốc lên khả năng lái xe, vận hành máy móc
TAGRISSO không có hoặc ít ảnh hưởng đến việc lái xe hoặc vận hành máy móc.
Register or sign in to continue
Asia's one-stop resource for medical news, clinical reference and education
Already a member? Sign in
Register or sign in to continue
Asia's one-stop resource for medical news, clinical reference and education
Already a member? Sign in