Tecentriq

Tecentriq

atezolizumab

Nhà sản xuất:

Roche
Thông tin kê toa chi tiết tiếng Việt
Thành phần
Mỗi mL: Atezolizumab 60 mg.
Mô tả
Tá dược: L-Histidine, Glacial Acetic Acid, Sucrose, Polysorbate 20, nước cất pha tiêm.
Dạng bào chế: Dung dịch đậm đặc để pha dung dịch tiêm truyền. Dung dịch không màu hoặc vàng nhạt.
Dược lý
Nhóm dược lý: Thuốc kháng ung thư, kháng thể đơn dòng globulin miễn dịch G1 (IgG1) có nguồn gốc từ người.
Mã ATC: L01XC323.
Cơ chế tác dụng
Liên kết của PD-L1 với các thụ thể PD-1 và B7.1 trên tế bào T dẫn đến ức chế hoạt động của tế bào T gây độc thông qua ức chế sự tăng sinh tế bào T và sản xuất cytokin. PD-L1 có thể biểu hiện trên các tế bào khối u và tế bào miễn dịch thâm nhập vào khối u và có thể góp phần gây ức chế đáp ứng miễn dịch chống khối u trong vi môi trường tại vị trí có khối u.
Atezolizumab là một kháng thể đơn dòng thuộc nhóm globulin miễn dịch G1 (IgG1) của người được thiết kế dựa trên phần Fc, có khả năng liên kết trực tiếp với PD-L1 và ức chế sự tương tác của phân tử này với các recetor PD-1 và B7.1, dẫn đến giải ức chế sự đáp ứng miễn dịch qua trung gian PD-L1/PD-1, bao gồm tái hoạt hóa đáp ứng miễn dịch chống khối u. Atezolizumab không ảnh hưởng đến tương tác PD-L2/PD-1. Trong các mô hình gây khối u đồng loại trên chuột nhắt trắng, ức chế hoạt tính PD-L1 đã dẫn đến giảm sự phát triển của khối u.
Các nghiên cứu về hiệu quả/lâm sàng
Ung thư biểu mô tiết niệu (UC)
IMvigor211
Một thử nghiệm lâm sàng pha III, nhãn mở, đa trung tâm, quốc tế, ngẫu nhiên, GO29294 (IMvigor211), đã được thực hiện để đánh giá hiệu quả và an toàn của Tecentriq so với hóa trị liệu (lựa chọn của nghiên cứu viên là vinflunine, docetaxel, hoặc paclitaxel) trên các bệnh nhân mắc ung thư biểu mô tiết niệu di căn hoặc tiến triển tại chỗ trong hoặc sau khi dùng phác đồ hóa trị có chứa platinum. Nghiên cứu này không bao gồm những bệnh nhân có tiền sử mắc bệnh tự miễn, di căn não thể hoạt động hoặc phụ thuộc corticosteroid; sử dụng vắc xin sống giảm hoạt lực trong 28 ngày trước thời điểm tuyển chọn, sử dụng các tác nhân kích thích miễn dịch hệ thống trong 4 tuần hoặc các thuốc gây ức chế miễn dịch toàn thân trong 2 tuần trước khi tham gia nghiên cứu. Đánh giá khối u được thực hiện 9 tuần một lần trong 54 tuần đầu tiên, và cứ 12 tuần một lần sau đó. Các mẫu bệnh phẩm khối u được đánh giá tiến cứu sự biểu hiện PD-L1 trên các tế bào miễn dịch thâm nhập vào khối u (IC) và những kết quả này được sử dụng để xác định các phân nhóm biểu hiện PD-L1 cho các phân tích được mô tả dưới đây.
Có tổng cộng 931 bệnh nhân đã tham gia vào nghiên cứu. Bệnh nhân được chia nhóm ngẫu nhiên (1:1) để điều trị bằng Tecentriq hoặc hóa trị liệu. Ngẫu nhiên được phân tầng bởi hóa trị liệu (vinflunine so với taxane), tình trạng biểu hiện PD-L1 trên IC (< 5% so với ≥ 5%), số lượng các yếu tố nguy cơ tiên lượng (0 so với 1-3), và di căn gan (có so với không). Các yếu tố nguy cơ tiên lượng bao gồm thời gian từ trước khi dùng hóa trị liệu <3 tháng, tình trạng ECOG >0 và hemoglobin <10g/dL.
Dùng một liều cố định Tecentriq 1200 mg truyền tĩnh mạch một lần mỗi 3 tuần. Không được giảm liều Tecentriq. Bệnh nhân được điều trị cho đến khi thuốc không còn hiệu quả lâm sàng theo đánh giá của nghiên cứu viên hoặc xuất hiện độc tính không dung nạp được. Vinflunine được truyền tĩnh mạch với liều 320 mg/m2 vào ngày đầu tiên của mỗi chu kỳ 3 tuần cho đến khi bệnh tiến triển hoặc xuất hiện độc tính không dung nạp được. Paclitaxel được truyền tĩnh mạch với liều 175 mg/m2 trong hơn 3 giờ vào ngày đầu tiên của mỗi chu kỳ 3 tuần cho đến khi bệnh tiến triển hoặc xuất hiện độc tính không dung nạp được. Docetaxel được truyền tĩnh mạch với liều 75 mg/m2 vào ngày đầu tiên của mỗi chu kỳ 3 tuần cho đến khi bệnh tiến triển hoặc xuất hiện độc tính không dung nạp được. Đối với tất cả các bệnh nhân được điều trị, trung vị khoảng thời gian điều trị là 2,8 tháng đối với nhóm bệnh nhân điều trị bằng Tecentriq, 2,1 tháng đối với nhóm bệnh nhân điều trị bằng vinflunine và paclitaxel và 1,6 tháng đối với nhóm bệnh nhân điều trị bằng docetaxel.
Đặc điểm nhân khẩu học và tình trạng bệnh ban đầu của quần thể bệnh nhân trong phân tích chính là tương tự nhau giữa các nhóm điều trị. Trung vị tuổi của bệnh nhân là 67 (dao động từ 31 đến 88), trong đó 77,1% bệnh nhân là nam giới. Đa số bệnh nhân là người da trắng (72,1%), 53,9% bệnh nhân trong nhóm hóa trị liệu điều trị bằng vinflunine, 71,4% bệnh nhân có ít nhất một yếu tố nguy cơ tiên lượng kém và 28,8% bệnh nhân di căn gan lúc ban đầu. Điểm thể trạng ECOG ban đầu là 0 (45,6%) hoặc 1 (54,4%). Bàng quang là nơi có khối u chính đối với 71,1% bệnh nhân và 25,4% bệnh nhân có ung thư biểu mô tế bào vùng trên. Có 24,2% bệnh nhân trước đó đã điều trị bổ trợ hoặc tân bổ trợ bằng liệu pháp chứa platinum và đã tiến triển trong vòng 12 tháng.
Tiêu chí hiệu quả chính đối với nghiên cứu IMvigor211 là thời gian sống toàn bộ (OS). Tiêu chí hiệu quả phụ là tỷ lệ đáp ứng khách quan (ORR), thời gian sống bệnh không tiến triển (PFS) và thời gian đáp ứng (DOR). So sánh thời gian sống toàn bộ giữa nhóm điều trị và nhóm chứng bằng cách sử dụng quy trình tuần tự cố định phân cấp dựa trên thử nghiệm xếp hạng log phân tầng ở hai mức 5% như sau: bước 1) Phân nhóm có biểu hiện PD-L1 ≥5%, bước 2) phân nhóm có biểu hiện PD -L1 ≥1%, bước 3) tất cả các bệnh nhân. Kết quả OS cho mỗi bước 2 và 3 chỉ có thể được kiểm tra chính thức nếu kết quả ở bước trên có ý nghĩa thống kê.
Trung vị thời gian sống tiếp theo là 17 tháng. Nghiên cứu IMvigor211 không đạt được tiêu chí chính. Trong nhóm bệnh nhân có khối u có biểu hiện PD-L1 ≥5%, Tecentriq không chứng minh được lợi ích sống còn đáng kể so với hóa trị với HR trung vị thời gian sống là 0,87 (CI 95%: 0,63; 1,21; trung vị OS lần lượt là 11,1 và 10,6 tháng đối với Tencentriq và hóa trị tương ứng). Giá trị p phân tầng là 0,41. Như vậy, không có thử nghiệm thống kê chính thức nào được thực hiện cho OS trong phân nhóm có biểu hiện PD-L1 ≥1% hoặc trong trên tất cả bệnh nhân, và kết quả của những phân tích đó được xem là ngoại suy. Các kết quả chính trên toàn bộ bệnh nhân được tóm tắt trong Bảng 1. Đường cong Kaplan Meier cho OS trên toàn bộ bệnh nhân được trình bày trong Hình 1.
- xem Bảng 1, Hình 1.

Image from Drug Label Content


Image from Drug Label Content

IMvigor210
Một thử nghiệm lâm sàng pha II, đa trung tâm, quốc tế, đơn nhóm trị liệu, bao gồm hai đoàn hệ (GO29293) (IMvigor 210) đã được thực hiện trên các bệnh nhân mắc ung thư biểu mô tiết niệu di căn hoặc tiến xa tại chỗ (còn được gọi là ung thư biểu mô tế bào chuyển tiếp bàng quang). Nghiên cứu này đã lựa chọn được tổng cộng 438 bệnh nhân và có hai đoàn hệ bệnh nhân. Đoàn hệ 1 bao gồm các bệnh nhân ung thư biểu mô tiết niệu di căn hoặc tiến xa tại chỗ chưa được điều trị trước đó và không đủ điều kiện hoặc không phù hợp để điều trị bằng phác đồ hóa trị có cisplatin làm nền tảng hoặc có tình trạng bệnh tiến triển sau ít nhất 12 tháng điều trị với một phác đồ hóa trị bổ trợ hoặc tân bổ trợ chứa platin. Nhóm đoàn hệ 2 bao gồm các bệnh nhân đã được dùng ít nhất một đợt hóa trị chứa platin để điều trị ung thư biểu mô tiết niệu di căn hoặc tiến xa tại chỗ hoặc các bệnh nhân có bệnh tiến triển trong vòng 12 tháng kể từ khi điều trị bằng phác đồ hóa trị bổ trợ hoặc tân bổ trợ chứa platin.
Trong đoàn hệ 1, có 119 bệnh nhân được điều trị bằng Tecentriq 1200 mg truyền tĩnh mạch một lần mỗi 3 tuần cho đến khi bệnh tiến triển. Trung vị tuổi của bệnh nhân là 73. Đa số các bệnh nhân là nam giới (81%) và là người da trắng (91%).
Đoàn hệ 1 bao gồm 45 bệnh nhân (38%) có điểm thể trạng ECOG bằng 0, 50 bệnh nhân (42%) có điểm thể trạng ECOG bằng 1 và 24 bệnh nhân (20%) có điểm thể trạng ECOG bằng 2, 35 bệnh nhân (29%) không có yếu tố nguy cơ Bajorin (điểm thể trạng ECOG ≥ 2 và di căn nội tạng), 66 bệnh nhân (56%) có một yếu tố nguy cơ Bajorin và 18 bệnh nhân (15%) có hai yếu tố nguy cơ Bajorin, 84 bệnh nhân (71%) bị suy giảm chức năng thận (mức lọc cầu thận < 60 mL/phút) và 25 bệnh nhân (21%) bị di căn gan.
Tiêu chí hiệu quả chính đối với đoàn hệ 1 là tỷ lệ đáp ứng khách quan (ORR) được đánh giá bởi một nhóm đánh giá độc lập (IRF), sử dụng tiêu chuẩn RECIST v1.1.
Phân tích chính được thực hiện khi tất cả các bệnh nhân đã được theo dõi ít nhất 24 tuần. Trung vị thời gian điều trị của các bệnh nhân là 15,0 tuần và trung vị khoảng thời gian theo dõi thời gian sống là 8,5 tháng đối với tất cả các bệnh nhân tham gia nghiên cứu. ORR được đánh giá bởi IRF theo tiêu chuẩn RECISTv1.1 đã thể hiện ý nghĩa lâm sàng; tuy nhiên, khi so sánh với tỷ lệ đáp ứng (10%) của một nhóm đối chứng hồi cứu được xác định trước nghiên cứu, ý nghĩa thống kê chưa đạt được với tiêu chí chính. ORR được xác nhận bởi IRF-RECISTv1.1 là 21,9% (CI 95%: 9,3 - 40,0) trên các bệnh nhân với biểu hiện PD-L1 ≥ 5%, 18,8% (CI 95%: 10,9 – 29,0) trên các bệnh nhân với biểu hiện PD-L1 ≥ 1% và 19,3% (CI 95%: 12,7 – 27,6) đối với tất cả các bệnh nhân tham gia nghiên cứu. Trung vị khoảng thời gian có đáp ứng (DOR) chưa thể ước lượng được ở các phân nhóm có biểu hiện PD-L1 cũng như tất cả các bệnh nhân tham gia nghiên cứu nói chung. Tiêu chí thời gian sống toàn bộ chưa thể xác định đầy đủ với tỷ lệ biến cố này xấp xỉ 40%. Trung vị thời gian sống toàn bộ đối với tất cả các phân nhóm bệnh nhân (mức biểu hiện PD-L1 ≥ 5% và ≥ 1%) và nhóm bệnh nhân tham gia nghiên cứu nói chung là 10,6 tháng.
Một phân tích cập nhật đã được thực hiện với trung vị khoảng thời gian theo dõi thời gian sống của bệnh nhân là 17,2 tháng đối với đoàn hệ 1 và được trình bày tóm tắt trong Bảng 2. Trung vị khoảng thời gian có đáp ứng (DOR) chưa thể ước lượng được ở các phân nhóm có biểu hiện PD-L1 cũng như tất cả các bệnh nhân tham gia nghiên cứu nói chung.
- xem Bảng 2.

Image from Drug Label Content

Trong đoàn hệ 2, tiêu chí hiệu quả chính được là tỷ lệ đáp ứng khách quan (ORR) được đánh giá bởi IRF bằng cách sử dụng RECIST v1.1 và ORR được đánh giá bởi nghiên cứu viên viên theo tiêu chí RECIST đã sửa đổi (mRECIST). Có 310 bệnh nhân được điều trị bằng Tecentriq 1200 mg bằng cách truyền tĩnh mạch một lần mỗi 3 tuần cho đến khi thuốc không còn hiệu quả lâm sàng. Phân tích chính cho đoàn hệ 2 được thực hiện khi tất cả các bệnh nhân đã được theo dõi ít nhất 24 tuần. Nghiên cứu này đã đạt được các tiêu chí chính ở đoàn hệ 2, thể hiện ở tỷ lệ đáp ứng khách quan (ORR) được đánh giá bởi IRF theo RECIST v1.1 và bởi nghiên cứu viên theo mRECIST đều khác biệt có ý nghĩa thống kê so với tỷ lệ đáp ứng (10%) của nhóm đối chứng hồi cứu được xác định trước nghiên cứu.
Một phân tích cũng được thực hiện với trung vị thời gian theo dõi sự sống là 21,1 tháng đối với đoàn hệ 2. ORR được xác nhận bởi IRF-RECISTv1.1 là 28,0 % (CI 95%:19,5 -37,9) trên các bệnh nhân với biểu hiện PD-L1 ≥ 5%, 19,3% (CI 95%: 14,2 - 25,4) trên các bệnh nhân với biểu hiện PD-L1 ≥ 1% và 15,8% (CI 95%: 11,9 - 20,4) đối với tất cả các bệnh nhân tham gia nghiên cứu. ORR được xác nhận bới nghiên cứu viên theo mRECIST là 29% (CI 95%: 20,4 - 38,9) trên các bệnh nhân với biểu hiện PD-L1 ≥ 5%, 23,7% (CI 95%: 18,1 – 30,1) trên các bệnh nhân với biểu hiện PD-L1 ≥ 1% và 19,7% (CI 95%: 15,4 – 24,6) đối với tất cả các bệnh nhân tham gia nghiên cứu. Tỷ lệ bệnh nhân đáp ứng hoàn toàn theo IRF RECIST v1.1 trong quần thể bệnh nhân tham gia nghiên cứu là 6,1% (CI 95%: 3,7 - 9,4). Trung vị khoảng thời gian có đáp ứng (DOR) chưa thể ước lượng được ở các phân nhóm có biểu hiện PD-L1 cũng như tất cả các bệnh nhân tham gia nghiên cứu nói chung, tuy nhiên đã đạt được ở bệnh nhân với biểu hiện PD-L1 <1% (13,3 tháng; CI 95%: 4,2 – NE). Tỷ lệ thời gian sống còn toàn bộ OS tại thời điểm 12 tháng là 37% ở tất cả các bệnh nhân tham gia nghiên cứu.
IMvigor130
Một thử nghiệm lâm sàng pha III, đa trung tâm, ngẫu nhiên, giả dược-đối chứng, WO30070 (IMvigor130), đánh giá Tecentriq đơn trị và kết hợp với hóa trị liệu platinum (hoặc cisplatin hoặc carboplatin và gemcitabine) so với hóa trị kết hợp giả dược trên bệnh nhân ung thư biểu mô tiết niệu di căn tiến xa tại chỗ chưa điều trị trước đó hoặc di căn.
Dựa trên khuyến cáo của Ủy ban Giám sát dữ liệu độc lập (iDMC), số lượng bệnh nhân điều trị Tecentriq đơn trị có khối u có biểu hiện PD-L1 thấp (PD-L1 nhuộm tế bào miễn dịch khối [IC] <5% khu vực có khối u) đã không tăng lên sau khi quan sát thấy thời gian sống còn giảm trong phân nhóm này tại một phân tích ban đầu không có kế hoạch. iDMC đã không đề nghị thay đổi bất kỳ liệu pháp điều trị nào cho những bệnh nhân đã được phân ngẫu nhiên và đang được điều trị ở nhóm điều trị đơn trị. Không có thay đổi nào được khuyến cáo đối với nhóm điều trị hóa trị liệu kết hợp Tecentriq hoặc hóa trị liệu kết hợp giả dược. Không có vấn đề an toàn nào được xác định trong khuyến cáo này.
Ung thư phổi không tế bào nhỏ (NSCLC)
* Điều trị bước 1 cho bệnh nhân ung thư phổi không tế bào nhỏ không vảy
IMpower150
Một nghiên cứu giai đoạn III, nhãn mở, ngẫu nhiên, GO29436 (IMpower150), được tiến hành để đánh giá hiệu quả và độ an toàn của Tecentriq kết hợp với paclitaxel và carboplatin, có hoặc không có bevacizumab, ở bệnh nhân NSCLC không vảy, di căn, chưa từng điều trị với hóa trị trước đó. Tổng cộng có 1202 bệnh nhân tham gia vào nghiên cứu và được phân nhóm ngẫu nhiên theo tỷ lệ 1: 1: 1 để điều trị với một trong các phác đồ điều trị được mô tả trong Bảng 3. Phân nhóm ngẫu nhiên được phân tầng theo giới tính, có hay không có di căn gan, biểu hiện khối u PD-L1 trên tế bào khối u (TC) và các tế bào thâm nhập khối u (IC).
- xem Bảng 3.

Image from Drug Label Content

Bệnh nhân bị loại trừ nếu có tiền sử mắc bệnh tự miễn; sử dụng vắc xin sống giảm độc lực trong vòng 28 ngày trước khi phân nhóm ngẫu nhiên; sử dụng các tác nhân kích thích miễn dịch hệ thống trong vòng 4 tuần hoặc các thuốc ức chế miễn dịch toàn thân trong vòng 2 tuần trước khi phân nhóm ngẫu nhiên; di căn thần kinh trung ương thể hoạt động hoặc chưa điều trị trước đó; có sự xâm nhập rõ ràng của khối u vào các mạch máu lớn ở ngực hoặc tổn thương ở phổi, như đã thấy trên hình ảnh. Đánh giá khối u được thực hiện một lần mỗi 6 tuần một lần trong 48 tuần đầu tiên sau ngày đầu tiên của chu kỳ 1 và sau đó cứ một lần mỗi 9 tuần sau đó.
Đặc điểm nhân khẩu học và tình trạng bệnh ban đầu của quần thể bệnh nhân là tương tự nhau giữa các nhóm điều trị. Trung vị tuổi của bệnh nhân 63 (dao động từ 31 đến 90), 60% bệnh nhân là nam giới. Đa số các bệnh nhân là người da trắng (82%). Khoảng 10% bệnh nhân đã được xác định là có đột biến EGFR, 4% đã được xác định có tái sắp xếp ALK, 14% có di căn gan tại thời điểm trước điều trị và đa số bệnh nhân đang hoặc đã từng hút thuốc lá (80%). Điểm thể trạng ECOG là 0 (43%) hoặc 1 (57%).
Tại thời điểm của phân tích PFS cuối cùng, bệnh nhân có trung vị thời gian theo dõi là 15,3 tháng. Ở quần thể bệnh nhân theo chủ ý điều trị (ITT), bao gồm bệnh nhân có đột biến EGFR hoặc có sự tái sắp xếp ALK trước đó chưa từng điều trị với thuốc ức chế tyrosine kinase, đã cho thấy sự cải thiện PFS trong nhóm B so với nhóm C (HR: 0,61 [CI 95%: 0,52; 0,72], trung vị PFS lần lượt là 8,3 và 6,8 tháng.
Tại thời điểm phân tích OS tạm thời, bệnh nhân có trung vị thời gian theo dõi là 19,7 tháng. Các kết quả chính từ phân tích này được tóm tắt trong Bảng 4. Các đường cong Kaplan-Meier cho OS trong quần thể bệnh nhân theo chủ ý điều trị (ITT) được trình bày trong Hình 2. Hình 3 tóm tắt các kết quả OS trong các phân nhóm ITT và PD-L1, đã cho thấy lợi ích OS với Tecentriq ở tất cả các phân nhóm, bao những nhóm có biểu hiện PD-L1 <1% trên TC và IC. Các kết quả PFS cập nhật nhất cũng được trình bày trong Hình 4 và 5.
- xem Bảng 4, Hình 2, 3, 4 & 5.

Image from Drug Label Content


Image from Drug Label Content


Image from Drug Label Content


Image from Drug Label Content


Image from Drug Label Content

Kết quả phân tích phân nhóm nhỏ được nhận diện trước từ phân tích OS tạm thời đã cho thấy sự cải thiện OS của nhóm điều trị Tecentriq kết hợp với bevacizumab, paclitaxel, carboplatin so với nhóm điều trị bằng bevacizumab, paclitaxel và carboplatin đối với bệnh nhân có đột biến EGFR hoặc sự tái sắp xếp ALK (HR: 0,54 [CI 95%: 0,29 -1,03], trung vị thời gian sống OS tương ứng là NE (không ước lượng được) so với 17,5 tháng) và di căn gan (HR: 0,52 [CI 95%: 0,33 - 0,82], trung vị thời gian sống OS tương ứng là 13,3 so với 9,4 tháng). Sự cải thiện thời gian sống bệnh không tiến triển PFS cũng được thể hiện trên bệnh nhân có đột biến EGFR hoặc sự tái sắp xếp ALK (HR: 0,55 [CI 95%: 0,34 - 0,90], trung vị PFS trung bình 10 so với 6,1 tháng) và di căn gan (HR: 0,41 [CI 95% 0,26 - 0,62], trung vị PFS tương ứng là 8,2 so với 5,4 tháng).
Nghiên cứu này cũng đánh giá các chức năng về thể chất và các triệu chứng liên quan đến điều trị bệnh nhân bằng cách sử dụng phương pháp EORTC QLQ-C30 và EORTC QLQ-LC13 tại thời điểm phân tích PFS cuối cùng. Nhìn chung, bệnh nhân dùng Tecentriq kết hợp với bevacizumab, paclitaxel và carboplatin đã cho thấy gánh nặng điều trị ở mức thấp nhất dựa trên sự suy giảm tối thiểu ở cả chức năng về thể chất và các triệu chứng liên quan đến điều trị trên bệnh nhân (như mệt mỏi, táo bón, tiêu chảy, buồn nôn/nôn, chảy máu, khó nuốt và đau miệng) trong quá trình điều trị. Chức năng về thể chất được báo cáo và điểm triệu chứng liên quan đến điều trị trung bình ở cả bệnh nhân dùng Tecentriq kết hợp với bevacizumab, paclitaxel và carboplatin cũng như bệnh nhân dùng bevacizumab kết hợp với paclitaxel và carboplatin, là tương tự nhau trong quá trình điều trị.
IMpower130
Một nghiên cứu pha III, nhãn mở, ngẫu nhiên GO29537 (IMpower130) đã được thực hiện để đánh giá hiệu quả và độ an toàn của Tecentriq trong điều trị kết hợp với nab-paclitaxel và carboplatin trên các bệnh nhân mắc ung thư phổi không tế bào nhỏ không vảy di căn chưa từng điều trị hóa trị trước đó. Bệnh nhân, bao gồm cả các bệnh nhân có đột biến gen EGFR hoặc ALK, được tham gia vào nghiên cứu và phân nhóm ngẫu nhiên theo tỉ lệ 2:1 để điều trị với một trong các phác đồ điều trị được mô tả trong bảng 5. Phân nhóm ngẫu nhiên được phân tầng theo giới tính, có hay không có di căn gan, biểu hiện PD-L1 trên tế bào khối u (TC) và các tế bào miễn dịch thâm nhiễm vào khối u (IC). Bệnh nhân điều trị bằng phác đồ B có thể chuyển nhóm và dùng Tecentriq đơn trị sau khi bệnh tiến triển.
- xem Bảng 5.

Image from Drug Label Content

Bệnh nhân bị loại trừ nếu có tiền sử mắc bệnh tự miễn; sử dụng vắc xin sống giảm độc lực trong vòng 28 ngày trước khi phân nhóm ngẫu nhiên; sử dụng các tác nhân kích thích miễn dịch hệ thống trong vòng 4 tuần hoặc các thuốc ức chế miễn dịch toàn thân trong vòng 2 tuần trước khi phân nhóm ngẫu nhiên; di căn thần kinh trung ương thể hoạt động hoặc chưa điều trị trước đó. Đánh giá khối u được thực hiện một lần mỗi 6 tuần trong 48 tuần đầu tiên sau ngày đầu tiên của chu kỳ 1 và sau đó cứ một lần mỗi 9 tuần sau đó.
Đặc điểm nhân khẩu học và tình trạng bệnh ban đầu của quần thể bệnh nhân (n=723) là tương tự nhau giữa các nhóm điều trị. Trung vị tuổi của bệnh nhân là 64 (dao động từ 18 đến 86). Đa số các bệnh nhân là nam giới (57%), người da trắng (90%). Khoảng 14,8% bệnh nhân có di căn gan tại thời điểm trước điều trị và đa số bệnh nhân đang hoặc đã từng hút thuốc lá (88%). Đa số bệnh nhân có điểm thể trạng ECOG là 1 (58,7%).
Phân tích chính được thực hiện ở tất cả các bệnh nhân, ngoại trừ những bệnh nhân có đột biến gen EGFR hoặc ALK (n = 679). Bệnh nhân có trung vị thời gian theo dõi trung bình là 18,6 tháng. Sự cải thiện thời gian sống còn toàn bộ OS và thời gian sống bệnh không tiến triển PFS đã được ghi nhân khi điều trị kếp hợp Tecentriq + nab-paclitaxel + carboplatin so với nhóm chứng. Các kết quả chính được tóm tắt trong Bảng 6 và các đường cong Kaplan-Meier của OS và PFS được trình bày lần lượt trong trong Hình 6 và 8.
Tất cả các phân nhóm PD-L1, bất kể biểu hiện, đều có lợi trên OS và PFS; kết quả được tóm tắt trong Hình 7 và 9. Sự cải thiện OS và PFS đều cho thấy sự nhất quán trong tất cả các phân nhóm, ngoại trừ bệnh nhân di căn gan không cho thấy sự cải thiện OS khi điều trị bằng Tecentriq, nab-paclitaxel và carboplatin, so với nab-paclitaxel và carboplatin (HR của 1,04, CI 95%: 0,63;1,72).
Có khoảng 66% bệnh nhân trong nhóm điều trị bằng nab-paclitaxel và carboplatin đã dùng phác đồ điều trị ung thư sau khi tiến triển bệnh so với 39% ở nhóm điều trị bằng Tecentriq, nab-paclitaxel và carboplatin. Trong đó bao gồm, khoảng 59% bệnh nhân trong nhóm điều trị bằng nab-paclitaxel và carboplatin đã dùng liệu pháp miễn dịch ung thư sau khi tiến triển bệnh, bao gồm chuyển nhóm sang Tecentriq (41% số bệnh nhân), so với 7,3% trong nhóm điều trị bằng Tecentriq, nab-paclitaxel và carboplatin.
- xem Bảng 6, Hình 6, 7, 8 & 9.

Image from Drug Label Content


Image from Drug Label Content


Image from Drug Label Content


Image from Drug Label Content


Image from Drug Label Content

Nghiên cứu này cũng đánh giá các chức năng về thể chất và các triệu chứng liên quan đến điều trị bệnh nhân bằng cách sử dụng phương pháp EORTC QLQ-C30 và EORTC QLQ-LC13. Nhìn chung, bệnh nhân dùng Tecentriq kết hợp với nab-paclitaxel và carboplatin đã cho thấy các chỉ số về chức năng cao và tình trạng các triệu chứng xấu đi do điều trị không có ý nghĩa lâm sàng. Không có sự khác biệt về sự kéo dài các triệu chứng liên quan đến phổi (khó thở, ho và đau ngực), tuy nhiên, bệnh nhân dùng kết hợp Tecetriq, nab-paclitaxel và carboplatin được báo cáo là các triệu chứng này ít xấu đi theo thời gian.
* Điều trị bước 1 cho bệnh nhân ung thư phổi tế bào nhỏ giai đoạn lan tràn
IMpower133
Một nghiên cứu pha III, ngẫu nhiên, đa trung tâm, mù đôi, đối chứng với giả dược, GO30081 (IMpower133) đã được thực hiện để đánh giá hiệu quả và độ an toàn của Tecentriq trong điều trị kết hợp với nab-paclitaxel và etoposide trên các bệnh nhân mắc ung thư phổi tế bào nhỏ giai đoạn lan tràn chưa từng điều trị hóa trị trước đó. Tổng cộng có 403 bệnh nhân được phân nhóm ngẫu nhiên theo tỉ lệ 1:1 để điều trị với một trong các phác đồ điều trị được mô tả trong bảng 7. Phân nhóm ngẫu nhiên được phân tầng theo giới tính, điểm thể trạng ECOG, có hay không có di căn não.
Bệnh nhân bị loại trừ nếu có di căn thần kinh trung ương thể hoạt động hoặc chưa điều trị trước đó, tiền sử mắc bệnh tự miễn; sử dụng vắc xin sống giảm độc lực trong vòng 4 tuần trước khi phân nhóm ngẫu nhiên; sử dụng các thuốc ức chế miễn dịch toàn thân trong vòng 1 tuần trước khi phân nhóm ngẫu nhiên. Đánh giá khối u được thực hiện một lần mỗi 6 tuần một lần trong 48 tuần đầu tiên sau ngày đầu tiên của chu kỳ 1 và sau đó cứ một lần mỗi 9 tuần sau đó. Bệnh nhân được điều trị sau khi bệnh tiến triển được đánh giá khối u một lần mỗi 6 tuần cho đến khi ngừng điều trị
- xem Bảng 7.

Image from Drug Label Content

Đặc điểm nhân khẩu học và tình trạng bệnh ban đầu của quần thể bệnh nhân trong phân tích chính là tương tự nhau giữa các nhóm điều trị. Trung vị tuổi của bệnh nhân là 64 (dao động từ 26 đến 90). Đa số các bệnh nhân là nam giới (65%), người da trắng (80%), 9% di căn não và đa số bệnh nhân đang hoặc đã từng hút thuốc lá (97%). Điểm thể trạng ECOG là 0 (35%) hoặc 1 (65%).
Tại thời điểm của phân tích chính, bệnh nhân có trung vị thời gian theo dõi là 13,9 tháng. Kết quả chính được tóm tắt trong bảng 8, đồ thị Kaplan-Meier cho thời gian sống còn toàn bộ OS và thời gian sống bệnh không tiến triển PFS được trình bày trong hình 10 và hình 11.
- xem Bảng 8, Hình 10 & 11.

Image from Drug Label Content


Image from Drug Label Content


Image from Drug Label Content

Nghiên cứu này cũng bao gồm phân tích thăm dò trên những thay đổi điểm trung bình so với ban đầu do bệnh nhân báo cáo về các triệu chứng, do chức năng thể chất và chất lượng sống liên quan sức khỏe (đánh giá bằng EORTC QLQ-C30 và EORTC QLQ-LC13). Nhìn chung, bệnh nhân dùng Tecentriq kết hợp với carboplatin và etoposide và carboplatin đã được báo cáo là cải thiện sớm và đáng kể những triệu chứng liên quan đến ung thư phổi (ví dụ ho, đau ngực, khó thở) và các chức năng về thể chất. Những thay đổi trong các triệu chứng liên quan đến điều trị (ví dụ như tiêu chảy, buồn nôn và nôn, đau miệng, bệnh thần kinh ngoại biên) tương tự nhau giữa nhóm bệnh nhân đang điều trị tấn công và hầu hết các lần khám tại tuần 54. Nhìn chung, bệnh nhân được điều trị bằng Tecentriq, carboplatin và etoposide cho thấy sự cải thiện rõ rệt và lâu dài hơn về chất lượng cuộc sống liên quan đến sức khỏe (tăng ≥ 10 điểm trong hầu hết các lần khám tại tuần 48) so với bệnh nhân được điều trị bằng giả dược, carboplatin và etoposide (tăng < 10 điểm) trong hầu hết các lần thăm khám điều trị trong nghiên cứu.
* Điều trị bước 2 cho bệnh nhân ung thư phổi không tế bào nhỏ
OAK
Một nghiên cứu pha III ngẫu nhiên, nhãn mở, đa trung tâm, quốc tế (GO28915, OAK) đã được thực hiện để đánh giá hiệu quả và độ an toàn của Tecentriq so với doxetaxel trên các bệnh nhân mắc ung thư phổi không tế bào nhỏ di căn hoặc tiến xa tại chỗ có bệnh tiến triển trong hoặc sau một phác đồ hóa trị dựa trên platin. Tổng cộng có 1225 bệnh nhân tham gia nghiên cứu, trong đó nhóm phân tích chính bao gồm 850 bệnh nhân đầu tiên được phân nhóm ngẫu nhiên. Những bệnh nhân đáp ứng tiêu chí lựa chọn được phân tầng dựa trên trạng thái biểu hiện PD-L1 trên các tế bào miễn dịch thâm nhập vào khối u (IC), số đợt hóa trị đã nhận trước đó và đặc điểm mô bệnh học. Bệnh nhân được phân chia ngẫu nhiên (1:1) vào nhóm điều trị bằng Tecentriq hoặc doxetaxel. Nghiên cứu này loại trừ các bệnh nhân có tiền sử mắc bệnh tự miễn, di căn não tiến triển hoặc phụ thuộc corticosteroid, sử dụng vắc xin sống giảm độc lực trong vòng 28 ngày trước nghiên cứu, sử dụng các tác nhân kích thích miễn dịch hệ thống trong 4 tuần hoặc các thuốc ức chế miễn dịch toàn thân trong 2 tuần trước nghiên cứu. Khối u được đánh giá mỗi 6 tuần trong 36 tuần đầu tiên và mỗi 9 tuần sau đó. Mẫu bệnh phẩm khối u được đánh giá tiến cứu để xác định sự biểu hiện PD-L1 trên các tế bào khối u (TC) và IC; kết quả này được sử dụng để xác định các phân nhóm dựa trên biểu hiện PD-L1 trong các phân tích được mô tả dưới đây.
Đặc điểm nhân khẩu học và tình trạng bệnh ban đầu của quần thể bệnh nhân trong phân tích chính là tương tự nhau giữa các nhóm điều trị. Trung vị tuổi của bệnh nhân 64 (dao động từ 33 đến 85), 61% bệnh nhân là nam giới. Đa số các bệnh nhân là người da trắng (70%). Khoảng 3/4 bệnh nhân có ung thư tế bào không vảy (74%), 10% đã được xác định là có đột biến EGFR, 0,2% đã được xác định có tái sắp xếp ALK, 10% có di căn thần kinh trung ương tại thời điểm trước điều trị và đa số bệnh nhân đang hoặc đã từng hút thuốc lá (82%). Điểm thể trạng ECOG là 0 (37%) hoặc 1 (63%). 75% bệnh nhân chỉ nhận một đợt hóa trị có platin làm nền tảng trước đó.
Tecentriq được dùng với liều cố định 1200 mg truyền tĩnh mạch mỗi 3 tuần. Không áp dụng giảm liều trong toàn bộ nghiên cứu. Bệnh nhân được điều trị cho đến khi không còn lợi ích lâm sàng theo đánh giá của nghiên cứu viên. Doxetaxel được dùng với liều 75 mg/m2 truyền tĩnh mạch vào ngày 1 của mỗi chu kì 21 ngày cho đến khi bệnh tiến triển. Xét trên tất cả các bệnh nhân được điều trị trong nghiên cứu, trung vị thời gian điều trị là 2,1 tháng ở nhóm doxetaxel và 3,4 tháng ở nhóm TECENTRIQ.
Tiêu chí hiệu quả chính là thời gian sống toàn bộ. Những kết quả chính của nghiên cứu này, trong đó trung vị khoảng thời gian theo dõi thời gian sống là 21 tháng, được tóm tắt trong Bảng 9. Đường cong Kaplan-Meier cho thời gian sống toàn bộ ở quần thể bệnh nhân theo chủ ý điều trị (ITT) được trình bày tại Hình 12. Hình 13 tóm tắt kết quả về thời gian sống toàn bộ ở các phân nhóm PD-L1 và theo chủ ý điều trị; kết quả này chứng minh rằng Tecentriq đã thể hiện lợi ích kéo dài thời gian sống toàn bộ ở tất các các phân nhóm bệnh nhân, bao gồm phân nhóm có biểu hiện PD-L1 < 1% trên tế bào khối u và tế bào miễn dịch thâm nhập vào khối u.
- xem Bảng 9, Hình 12 & 13.

Image from Drug Label Content


Image from Drug Label Content


Image from Drug Label Content

Sự cải thiện thời gian sống còn toàn bộ đã được ghi nhận với Tecentriq so với docetaxel trên cả nhóm bệnh nhân ung thư phổi không tế bào nhỏ không vảy (tỷ số rủi ro [HR] = 0,73, CI 95%: 0,60, 0,89; trung vị thời gian sống còn toàn bộ ở nhóm Tecentriq và docetaxel lần lượt là 15,6 tháng và 11,2 tháng) và có vảy (HR = 0,73, CI 95%: 0,54, 0,98; trung vị thời gian sống toàn bộ ở nhóm Tecentriq và docetaxel lần lượt là 8,9 tháng và 7,7 tháng). Sự cải thiện thời gian sống còn toàn bộ có tính nhất quán giữa tất cả các phân nhóm bệnh nhân, bao gồm những bệnh nhân có di căn não trước nghiên cứu (HR = 0,54, CI 95%: 0,31, 0,94; trung vị thời gian sống còn toàn bộ ở nhóm Tecentriq và docetaxel lần lượt là 20,1 tháng và 11,9 tháng) và những bệnh nhân chưa từng hút thuốc (HR = 0,71, CI 95%: 0,47, 1,08; trung vị thời gian sống toàn bộ ở nhóm Tecentriq và docetaxel lần lượt là 16,3 tháng và 12,6 tháng). Tuy nhiên, các bệnh nhân có đột biến EGFR được điều trị bằng Tecentriq không thể hiện sự cải thiện thời gian sống còn toàn bộ khi so sánh với doxetaxel (HR = 1,24, CI 95%: 0,71, 2,18; trung vị thời gian sống toàn bộ ở nhóm Tecentriq và docetaxel lần lượt là 10,5 tháng và 16,2 tháng).
Tecentriq kéo dài thời gian đến khi xuất hiện triệu chứng đau ngực được báo cáo bởi bệnh nhân (sử dụng EORTC QLQ-LC13) đã được quan sát với Tecentriq so với doxetacel (HR = 0,71, CI 95%: 0,49; 1,05, không có trung vị ở cả hai nhóm). Thời gian đến khi bùng phát các triệu chứng khác của ung thư phổi (bao gồm ho, khó thở và đau cánh tay/vai) (sử dụng EORTC QLQ-LC13) tương tự nhau giữa Tecentriq và doxetacel. Tình trạng sức khỏe tổng thể trung bình và điểm chức năng (bao gồm thể chất, vai trò, xã hội, cảm xúc và nhận thức) được đánh giá bởi EORTC QLQ-C30 không suy giảm có ý nghĩa lâm sàng theo thời gian ở cả hai nhóm điều trị; điều này cho thấy chất lượng cuộc sống và hoạt động chức năng do bệnh nhân báo cáo được duy trì trên các bệnh nhân còn nhận điều trị.
POPLAR
Một nghiên cứu pha II, đa trung tâm, quốc tế, được thiết kế ngẫu nhiên, có đối chứng, nhãn mở (GO28753/POPLAR) đã được thực hiện trên các bệnh nhân mắc ung thư phổi không tế bào nhỏ di căn hoặc tiến xa tại chỗ. Tiêu chí hiệu quả chính là thời gian sống còn toàn bộ. Tổng cộng có 287 bệnh nhân được phân chia ngẫu nhiên vào nhóm điều trị bằng Tecentriq hoặc docetaxel. Các nhóm ngẫu nhiên được phân tầng bởi trạng thái biểu hiện PD-L1 trên tế bào miễn dịch thâm nhiễm khối u, số đợt hóa trị liệu đã nhận trước đó và đặc điểm mô bệnh học. Một phân tích cập nhật, trong đó tổng số bệnh nhân đã tử vong là 200 người và trung vị thời gian theo dõi thời gian sống là 22 tháng, cho thấy trung vị thời gian sống toàn bộ là 12,6 tháng trên các bệnh nhân được điều trị bằng Tecentriq và 9,7 tháng trên các bệnh nhân được điều trị bằng docetaxel (HR = 0,69, CI 95%: 0,52, 0,92). Tỷ lệ đáp ứng khách quan (ORR) của nhóm Tecentriq và doxetacel là 15,3% so với 14,7% và trung vị thời gian có đáp ứng lần lượt là 18,6 tháng so với 7,2 tháng.
Điều trị bước 1 cho bệnh nhân ung thư vú bộ ba âm tính TNBC
IMpassion130
Nghiên cứu pha III, mù đôi, hai nhóm, ngẫu nhiên, đối chứng-giả dược, WO29522(IMpassion130) đã được thực hiện để đánh giá hiệu quả và độ an toàn của Tecentriq kết hợp với nab-paclitaxel, trên những bệnh nhân ung thư vú bộ ba âm tính tiến xa tại chỗ không phẫu thuật được hoặc di căn chưa từng điều trị hóa chất trước đó đối với giai đoạn di căn. Tổng cộng có 902 bệnh nhân tham gia nghiên cứu, và được phân nhóm dựa vào có hay không có di căn gan, điều trị taxan trước đó, tình trạng biểu hiện PD-L1 trên các tế bào miễn dịch xâm nhập khối u (IC). Bệnh nhân được phân nhóm ngẫu nhiên để truyền Tecentriq (840 mg) hoặc truyền tĩnh mạch giả dược vào ngày 1 và 15 của mỗi chu kỳ 28 ngày, sau đó nab-paclitaxel (100 mg/m2) được truyền tĩnh mạch vào các ngày 1, 8 và 15 của mỗi chu kỳ 28 ngày. Bệnh nhân được điều trị cho đến khi bệnh tiến triển dựa trên hình ảnh học theo RECIST v1.1 hoặc độc tính không dung nạp được.
Bệnh nhân bị loại trừ nếu có tiền sử mắc bệnh tự miễn; sử dụng vắc xin sống giảm độc lực trong vòng 4 tuần trước khi phân nhóm ngẫu nhiên; sử dụng các tác nhân kích thích miễn dịch hệ thống trong vòng 4 tuần hoặc các thuốc ức chế miễn dịch toàn thân trong vòng 2 tuần trước khi phân nhóm ngẫu nhiên; di căn não chưa điều trị được hoặc phụ thuộc corticoid. Đánh giá khối u được thực hiện 8 tuần một lần (± 1 tuần) trong 12 tháng đầu tiên sau ngày đầu tiên của chu kỳ 1 và sau đó cứ một lần mỗi 12 tuần (± 1 tuần).
Đặc điểm nhân khẩu học và tình trạng bệnh ban đầu của quần thể bệnh nhân là tương tự nhau giữa các nhóm điều trị. Phần lớn bệnh nhân là nữ giới (99,6%). Sáu mươi bảy phần trăm bệnh nhân là người da trắng (67,5%), 17,8% là người châu Á, 6,5% là người da đen hoặc người Mỹ gốc Phi và 4,4% là người Mỹ gốc Ấn Độ hoặc Alaska. Trung vị tuổi của bệnh nhân là 55 (dao động từ 20 đến 86). Điểm thể trạng ECOG lúc ban đầu là 0 (58,4%) hoặc 1 (41,3%). Nhìn chung, 41% bệnh nhân tham gia điều trị có biểu hiện PD-L1 ≥1%, 27% có di căn gan và 7% di căn não tại thời điểm ban đầu. Khoảng một nửa số bệnh nhân đã dùng taxan (51%) hoặc anthracycline (54%) trong điều trị (tân) bổ trợ. Nhìn chung, nhân khẩu học của bệnh nhân và đặc điểm khối u lúc ban đầu trong nhóm có biểu hiện PD-L1 ≥ 1% mang tính đại diện cho dân số.
Các kết quả chính của nghiên cứu này được tóm tắt trong Bảng 10 và Hình 14 và 15, được mô tả cho những bệnh nhân có biểu hiện PD-L1 ≥1% với trung vị thời gian theo dõi là 13 tháng. Ngoài ra, sự cải thiện PFS đã được quan sát trong các phân tích dưới nhóm.
- xem Bảng 10, Hình 14 & 15.

Image from Drug Label Content


Image from Drug Label Content


Image from Drug Label Content

Các tiêu chí được báo cáo của bệnh nhân được đo bằng EORTC QLQ-C30 cho thấy bệnh nhân duy trì tình trạng sức khỏe/chất lượng cuộc sống liên quan đến sức khỏe (HRQoL), chức năng sinh lý và chức năng hoạt động trong khi điều trị. Không có sự khác biệt về thời gian giảm ≥10 điểm trong HRQoL (HR: 0,94; CI 95%: 0,69, 1.28), chức năng sinh lý (HR: 1.02; 95% CI: 0.76, 1.37) hoặc chức năng hoạt động (HR: 0,77; CI 95%: 0,57, 1,04) được quan sát giữa hai nhóm. Điểm trung bình ở mức cơ bản cho HRQoL (67,5 Tecentriq và nab-paclitaxel so với 65,0 giả dược và nab-paclitaxel), chức năng sinh lý (82,7 so với 79,4) và chức năng hoạt động (73,6 so với 71,7) là tương tự giữa các nhóm; cũng như trong suốt quá trình điều trị. Trong cả hai nhóm, HRQoL, chức năng sinh lý và chức năng hoạt động vẫn giữ nguyên trong quá trình điều trị, không quan sát thấy sự thay đổi có ý nghĩa lâm sàng (chênh lệch ≥10 điểm so với điểm trung bình cơ sở).
Tính sinh miễn dịch
Tương tự tất cả các protein điều trị khác, cơ thể có khả năng tạo ra đáp ứng miễn dịch với atezolizumab. Qua nhiều nghiên cứu pha III, 13,1% đến 38,5% bệnh nhân phát triển kháng thể kháng thuốc mới xuất hiện do điều trị (ADAs). ADA dương tính không có tác động lâm sàng liên quan đến dược động học, hoặc độ an toàn của thuốc. Mặc dù quan sát được một số thay đổi qua các nghiên cứu, nhưng nhìn chung, kháng thể kháng thuốc dương tính không có tác động lâm sàng liên quan đến hiệu quả.
Các kết quả xét nghiệm tính sinh miễn dịch phụ thuộc nhiều vào một số yếu tố bao gồm độ nhạy và độ đặc hiệu, phương pháp xét nghiệm, cách xử lý mẫu, thời điểm lấy mẫu, các thuốc dùng đồng thời và bệnh lý tiềm ẩn của bệnh nhân. Do đó, so sánh tỷ lệ kháng thể kháng Tecentriq với tỷ lệ kháng thể kháng các chế phẩm khác có thể dẫn đến những kết luận không chính xác.
Dược động học
Dược động học của atezolizumab đã được mô tả trên các bệnh nhân trong nhiều thử nghiệm lâm sàng với các mức liều từ 0,01 mg/kg tới 20 mg/kg mỗi 3 tuần, bao gồm liều cố định 1200 mg. Phơi nhiễm với atezolizumab liều tăng tương ứng với khoảng liều từ 1mg/kg đến 20mg/kg. Một phân tích quần thể bao gồm 472 bệnh nhân đã mô tả dược động học của atezolizumab trong khoảng liều 1-20 mg/kg với mô hình dược động học tuyến tính hai ngăn thải trừ bậc 1. Các đặc tính dược dộng học của atezolizumab 840 mg dùng mỗi 2 tuần và 1200 mg dùng mỗi 3 tuần là có thể so sánh được. Phân tích dược động học quần thể cho thấy trạng thái ổn định của thuốc đạt được sau 6-9 tuần sau khi dùng nhiều liều. Tỉ lệ tích lũy toàn thân lớn nhất qua các phác đồ liều là 3,3.
Dựa trên một phân tích phơi nhiễm, dữ liệu độ an toàn và hiệu quả, các yếu tố sau đã được xác định là không có ảnh hưởng có ý nghĩa lâm sàng đến dược động học của Tecentriq: tuổi (21-89), cân nặng, giới tính, trạng thái dương tính với kháng thể kháng thuốc (ADA), nồng độ albumin, tổng khối bướu, chủng tộc và vùng miền, suy thận, suy gan nhẹ, mức biểu hiện PD-L1 hoặc tình trạng ECOG.
Hấp thu
Tecentriq được dùng theo đường truyền tĩnh mạch. Sử dụng thuốc theo các đường dùng khác chưa được nghiên cứu.
Phân bố
Một phân tích dược động học quần thể cho thấy thể tích phân bố trong khoang trung tâm (V1) là 3,28 lít và thể tích phân bố đặc trưng tại trạng thái ổn định (Vss) là 6,91 lít.
Chuyển hóa
Chuyển hóa của Tecentriq chưa được nghiên cứu trực tiếp. Kháng thể được thải trừ chủ yếu bởi quá trình dị hóa.
Đào thải
Một phân tích dược động học quần thể cho thấy độ thanh thải của atezolizumab là 0,200 lít/ngày và thời gian bán thải đặc trưng (t1/2) là 27 ngày.
Dược động học trên các đối tượng đặc biệt
Trẻ em
Chưa có nghiên cứu về dược động học của Tecentriq trên trẻ em.
Người cao tuổi
Chưa có nghiên cứu đặc hiệu về dược động học của Tecentriq trên người cao tuổi. Ảnh hưởng của tuổi đến dược động học của atezolizumab đã được đánh giá trong một phân tích dược động học quần thể. Dựa trên phân tích dữ liệu từ các bệnh nhân có tuổi trong khoảng 21-89 tuổi (n=472) với trung vị tuổi bằng 62, tuổi được xác định không phải là một hiệp biến có ý nghĩa ảnh hưởng đến dược động học của atezolizumab. Không ghi nhận sự khác biệt có ý nghĩa lâm sàng về dược động học của atezolizumab giữa các bệnh nhân <65 tuổi (n=274), bệnh nhân từ 65 đến 75 tuổi (n=152) và bệnh nhân trên 75 tuổi (n=46) (xem mục Hướng dẫn đặc biệt về liều).
Suy thận
Chưa có các nghiên cứu đặc hiệu được thực hiện với Tecentriq trên bệnh nhân suy thận. Trong phân tích dược động học quần thể, không có sự khác biệt có ý nghĩa lâm sàng về độ thanh thải của atezolizumab được phát hiện trên các bệnh nhân suy thận nhẹ (mức lọc cầu thận ước tính trong khoảng 60-89 mL/phút/1,73 m2; n=208) hoặc trung bình (mức lọc cầu thận ước tính trong khoảng 30-59 mL/phút/1,73 m2; n=116) so với các bệnh nhân có chức năng thận bình thường (mức lọc cầu thận ước tính lớn hơn hoặc bằng 90 mL/phút/1,73 m2; n=140). Chỉ một vài bệnh nhân có tình trạng suy thận nặng (mức lọc cầu thận ước tính trong khoảng 15-29 mL/phút/1,73 m2; n=8) (xem mục Hướng dẫn đặc biệt về liều).
Suy gan
Chưa có các nghiên cứu đặc hiệu được thực hiện với Tecentriq trên bệnh nhân suy gan. Trong phân tích dược động học quần thể, không có sự khác biệt có ý nghĩa lâm sàng về độ thanh thải của atezolizumab giữa các bệnh nhân suy gan nhẹ (bilirubin ≤ chỉ số trên của giới hạn bình thường và AST > chỉ số trên của giới hạn bình thường hoặc bilirubin <1,0 đến 1,5 lần chỉ số trên của giới hạn bình thường, bất kể giá trị AST, n = 71) và các bệnh nhân có chức năng gan bình thường (bilirubin và AST ≤chỉ số trên của giới hạn bình thường, n=401). Chưa có dữ liệu trên các bệnh nhân suy gan trung bình (bilirubin > 1,5 đến 3,0 x chỉ số trên của giới hạn bình thường, bất kể giá trị AST) hoặc nặng (bilirubin > 3,0 x chỉ số trên của giới hạn bình thường, bất kể giá trị AST). Suy gan được định nghĩa theo tiêu chuẩn đánh giá rối loạn chức năng gan của Viện Ung thư Quốc gia (NCI) (xem mục Hướng dẫn đặc biệt về liều).
An toàn tiền lâm sàng
Tính sinh ung thư
Các nghiên cứu về khả năng gây ung thư chưa được thực hiện với Tecentriq.
Tính gây đột biến
Các nghiên cứu về khả năng gây đột biến chưa được thực hiện với Tecentriq.
Tính gây giảm khả năng sinh sản
Các nghiên cứu về ảnh hưởng của Tecentriq đến khả năng sinh sản chưa được thực hiện; tuy nhiên, đánh giá cơ quan sinh dục của khỉ đuôi dài đực và cái đã được thực hiện trong nghiên cứu độc tính trường diễn. Tecentriq có ảnh hưởng đến chu kì kinh nguyệt của tất cả khỉ cái dùng liều 50 mg/kg, đặc trưng bởi một xu hướng chu kì kinh bất thường trong thời gian dùng thuốc và tương ứng với sự thiếu hoàng thể mới trong buồng trứng tại thời điểm quan sát vào cuối nghiên cứu; ảnh hưởng này có khả năng đảo ngược trong giai đoạn nuôi hồi phục (không dùng thuốc). Thuốc không ảnh hưởng đến cơ quan sinh dục nam.
Độc tính đối với sự sinh sản
Chưa có các nghiên cứu về ảnh hưởng của Tecentriq đến khả năng sinh sản hoặc gây dị tật thai nhi trên động vật. Con đường truyền tín hiệu PD-L1/PD-1 đã được xác định là có vai trò thiết yếu đối với sự dung nạp phôi/bào thai và sự sống sót của phôi-bào thai trong thai kì. Sử dụng Tecentriq được dự đoán có thể gây ra các tác dụng bất lợi trong thời kì mang thai và có thể gây nguy hiểm đối với thai nhi trên người, bao gồm chết phôi.
Chỉ định/Công dụng
Ung thư biểu mô tiết niệu di căn
TECENTRIQ được chỉ định để điều trị cho các bệnh nhân ung thư biểu mô tiết niệu (UC) di căn hoặc tiến xa tại chỗ:
• sau khi đã dùng phác đồ hóa trị trước đó, hoặc
• người không phù hợp để sử dụng phác đồ cisplatin và khối u có biểu hiện PD-L1 ≥ 5%, hoặc
• người không phù hợp với bất kì phác đồ hóa trị có chứa platinum nào, bất kể mức độ biểu hiện PD-L1 ở khối u.
Ung thư phổi không tế bào nhỏ
Tecentriq, phối hợp với bevacizumab, paclitaxel và carboplatin, được chỉ định trong điều trị bước 1 cho bệnh nhân ung thư phổi không tế bào nhỏ (NSCLC) không vảy di căn. Bệnh nhân có đột biến EGFR hoặc ALK dương tính phải được điều trị bằng liệu pháp trúng đích trước khi điều trị bằng Tecentriq nếu được chỉ định lâm sàng.
Tecentriq, kết hợp với nab-paclitaxel và carboplatin, được chỉ định trong điều trị bước 1 cho bệnh nhân ung thư phổi không tế bào nhỏ không vảy di căn không có đột biến gen EGFR hoặc ALK.
Tecentriq được chỉ định để điều trị cho các bệnh nhân mắc ung thư phổi không tế bào nhỏ (NSCLC) di căn mà bệnh vẫn tiến triển trong hoặc sau khi dùng phác đồ hóa trị có chứa platinum.
Ung thư phổi tế bào nhỏ
Tecentriq, kết hợp với carboplatin và etoposide, được chỉ định trong điều trị bước 1 cho bệnh nhân ung thư phổi tế bào nhỏ giai đoạn lan tràn (ES-SCLC).
Ung thư vú bộ ba âm tính
Tecentriq, kết hợp với nab-paclitaxel, được chỉ định cho điều trị bệnh nhân ung thư vú bộ ba âm tính di căn hoặc tiến xa tại chỗ không thể phẫu thuật có biểu hiện PD-L1 ≥1% và chưa được hóa trị liệu trước đó đối với giai đoạn di căn.
Liều dùng/Hướng dẫn sử dụng
Nguyên tắc chung
Tecentriq phải được dùng theo đường truyền tĩnh mạch dưới sự giám sát của một nhân viên y tế có chuyên môn. Không được tiêm tĩnh mạch nhanh.
Không kết hợp Tecentriq cùng các thuốc khác trên cùng 1 đường truyền.
Cần trao đổi với bác sĩ kê đơn khi có dự định thay thế thuốc này bằng bất kì sinh phẩm nào khác.
Liều khởi đầu của Tecentriq phải được truyền trong 60 phút. Nếu bệnh nhân có khả năng dung nạp tốt với lần truyền đầu tiên, những liều tiếp theo có thể được truyền trong 30 phút.
Điều trị đơn trị bằng Tecentriq
Điều trị bước 2 cho bệnh nhân ung thư phổi không tế bào nhỏ (2L NSCLC), điều trị bước 1/ bước 2 cho bệnh nhân ung thư biểu mô tiết niệu (1L/2L UC)
Liều khuyến cáo của Tecentriq là 1200 mg truyền tĩnh mạch, một lần mỗi 3 tuần.
Điều trị bước 1 cho bệnh nhân ung thư biểu mô tiết niệu di căn và không phù hợp để sử dụng phác đồ cisplatin
Bệnh nhân được lựa chọn để điều trị dựa trên mức độ biểu hiện PD-L1 của khối u, được đánh giá dựa trên xét nghiệm được phê duyệt (xem mục Các nghiên cứu về hiệu quả /lâm sàng).
Điều trị kết hợp với Tecentriq
Vui lòng tham khảo toàn bộ nội dung tờ thông tin kê toa của thuốc điều trị kết hợp.
Điều trị bước 1 cho bệnh nhân nhân ung thư phổi không tế bào nhỏ không vảy
Tecentriq kết hợp với bevacizumab, paclitaxel và carboplatin
Trong giai đoạn điều trị tấn công, liều Tecentriq khuyến cáo là 1200 mg truyền tĩnh mạch, kết hợp điều trị với bevacizumab, paclitaxel, và carboplatin mỗi 3 tuần một lần trong 4 đến 6 chu kỳ.
Sau giai đoạn tấn công là giai đoạn điều trị duy trì không sử dụng hóa trị liệu, Tecentriq 1200mg được truyền tĩnh mạnh, kết hợp điều trị với bevacizumab, mỗi 3 tuần một lần.
Tecentriq kết hợp với nab-paclitaxel và carboplatin
Trong giai đoạn điều trị tấn công, liều khuyến cáo của Tecentriq là 1200 mg truyền tĩnh mạch, sau đó là nab-paclitaxel và carboplatin mỗi 3 tuần trong bốn hoặc sáu chu kỳ. Đối với mỗi chu kỳ 21 ngày, Tecentriq, nab-paclitaxel và carboplatin được dùng vào ngày 1. Ngoài ra, nab-paclitaxel được dùng vào ngày 8 và 15.
Sau giai đoạn điều trị tấn công là giai đoạn điều trị duy trì không sử dụng hóa trị liệu, trong đó Tecentriq 1200 mg được truyền tĩnh mạch mỗi 3 tuần.
Điều trị bước 1 cho ung thư phổi tế bào nhỏ giai đoạn lan tràn (ES-SCLC)
Tecentriq kết hợp với carboplatin và etoposide
Trong giai đoạn điều trị tấn công, liều khuyến cáo của Tecentriq là 1200 mg truyền tĩnh mạch, sau đó là carboplatin, và tiếp theo là etoposide được truyền tĩnh mạch vào ngày 1. Etoposide được truyền tĩnh mạch vào ngày 2 và 3. Phác đồ này được dùng mỗi 3 tuần trong bốn chu kỳ.
Sau giai đoạn điều trị tấn công là giai đoạn điều trị duy trì không sử dụng hóa trị liệu, trong đó Tecentriq 1200 mg được truyền tĩnh mạch mỗi 3 tuần.
Điều trị bước 1 cho ung thư vú bộ ba âm tính (TNBC)
Tecentriq kết hợp với nab-paclitaxel
Liều dùng khuyến cáo của Tecentriq là 840 mg truyền tĩnh mạch, sau đó là 100mg/m2 nab-paclitaxel. Đối với mỗi chu kỳ 28 ngày, Tecentriq được dùng vào ngày 1 và 15, và nab-paclitaxel được dùng vào ngày 1, 8 và 15.
Bệnh nhân được lựa chọn để điều trị dựa trên mức độ biểu hiện PD-L1 của khối u, được đánh giá dựa trên xét nghiệm được phê duyệt (xem mục Các nghiên cứu về hiệu quả/lâm sàng).
Thời gian đợt điều trị
Bệnh nhân được điều trị bằng Tecentriq cho đến khi thuốc không còn hiệu quả lâm sàng (xem mục Các nghiên cứu về hiệu quả/lâm sàng) hoặc xuất hiện độc tính không thể dung nạp được.
Điều trị bước 1 cho ung thư vú bộ ba âm tính (TNBC)
Bệnh nhân được điều trị với Tecentriq cho đến khi bệnh tiến triển hoặc xuất hiện độc tính không dung nạp được (xem mục Các nghiên cứu về hiệu quả/lâm sàng).
Tạm ngưng hoặc bỏ lỡ một liều
Nếu bị lỡ một liều Tecentriq so với dự kiến, cần dùng thuốc ngay khi có thể. Liệu trình dùng thuốc cần được điều chỉnh để duy trì khoảng cách giữa các liều một cách thích hợp.
Điều chỉnh liều
Không khuyến cáo giảm liều Tecentriq.
Điều chỉnh liều cho các phản ứng có hại liên quan đến miễn dịch
Các khuyến cáo khi gặp các phản ứng có hại đặc hiệu (xem phần Cảnh báo và Thận trọng, Thông tin chung và Tác dụng không mong muốn, Thử nghiệm lâm sàng) được trình bày trong Bảng 11.
- xem Bảng 11.

Image from Drug Label Content

Đối với các phản ứng liên quan đến miễn dịch khác, dựa trên phân loại và mức độ nghiêm trọng của phản ứng, nên tạm dừng điều trị bằng Tecentriq đối với các phản ứng có hại liên quan đến miễn dịch độ 2/ độ 3 và nên bắt đầu điều trị bằng corticosteroid (liều prednisone 1-2 mg/kg/ngày hoặc tương đương). Nếu các triệu chứng cải thiện ≤ độ 1, giảm liều corticosteroid như được chỉ định trên lâm sàng. Có thể điều trị lại bằng Tecentriq nếu triệu chứng được cải thiện ≤ độ 1 trong 12 tuần và liều corticosteroid đã giảm ≤ 10 mg prednisone đường uống mỗi ngày hoặc tương đương.
Nên dừng vĩnh viễn Tecetriq đối với phản ứng có hại liên quan đến miễn dịch độ 4, hoặc khi không thể giảm liều corticosteroid ≤ 10 mg prednisone đường uống mỗi ngày hoặc tương đương trong vòng 12 tuần sau khi sử dụng.
Các hướng dẫn sử dụng liều đặc biệt
Trẻ em
Tính an toàn và hiệu quả của Tecentriq trên trẻ em và thiếu niên dưới 18 tuổi chưa được nghiên cứu
Người cao tuổi
Dựa trên một phân tích dược động học quần thể, không cần điều chỉnh liều Tecentriq trên các bệnh nhân ≥ 65 tuổi (xem mục Sử dụng thuốc trên người cao tuổi và mục Dược động học trên các đối tượng đặc biệt).
Suy thận
Dựa trên một phân tích dược động học quần thể, không cần điều chỉnh liều trên bệnh nhân suy thận (xem mục Dược động học trên các đối tượng đặc biệt).
Suy gan
Dựa trên một phân tích dược động học quần thể, không cần điều chỉnh liều trên bệnh nhân suy gan nhẹ. Chưa có dữ liệu về việc sử dụng thuốc trên bệnh nhân suy gan trung bình hoặc nặng (xem mục Dược động học trên các đối tượng đặc biệt).
Chống chỉ định
Chống chỉ định Tecentriq trên các bệnh nhân được biết là quá mẫn cảm với atezolizumab hoặc bất kì thành phần nào của thuốc.
Cảnh báo và thận trọng
Thông tin chung
Để cải thiện khả năng truy tìm nguồn gốc của các thuốc sinh phẩm, tên thương mại và số lô của các sản phẩm đã dùng cần được lưu lại rõ ràng (hoặc ghi chú) trong hồ sơ bệnh án.
Viêm phổi liên quan đến miễn dịch
Những trường hợp viêm phổi, có thể dẫn đến tử vong, đã được ghi nhận trong các thử nghiệm lâm sàng với Tecentriq (xem mục Tác dụng không mong muốn, Các thử nghiệm lâm sàng). Bệnh nhân cần được theo dõi các dấu hiệu và triệu chứng của viêm phổi. Tham khảo cách điều chỉnh liều khuyến cáo trong mục Liều lượng và cách dùng.
Viêm gan liên quan đến miễn dịch
Những trường hợp viêm gan, có thể dẫn đến tử vong, đã được ghi nhận trong các thử nghiệm lâm sàng với Tecentriq (xem mục Tác dụng không mong muốn, Thử nghiệm lâm sàng). Bệnh nhân cần được theo dõi các dấu hiệu và triệu chứng của viêm gan. Cần theo dõi nồng độ aspartat aminotransferase (AST), alanin aminotransferase (ALT) và nồng độ bilirubin trước điều trị và định kì trong quá trình điều trị với Tecentriq. Cần xem xét biện pháp xử trí thích hợp đối với các bệnh nhân có bất thường xét nghiệm chức năng gan tại thời điểm trước khi sử dụng thuốc. Tham khảo cách điều chỉnh liều khuyến cáo trong mục Liều lượng và cách dùng.
Viêm đại tràng liên quan đến miễn dịch
Những trường hợp tiêu chảy hoặc viêm đại tràng đã được ghi nhận trong các thử nghiệm lâm sàng với Tecentriq (xem mục Tác dụng không mong muốn, Các thử nghiệm lâm sàng). Bệnh nhân cần được theo dõi các dấu hiệu và triệu chứng của viêm đại tràng. Tham khảo cách điều chỉnh liều khuyến cáo trong mục Liều lượng và cách dùng.
Bệnh nội tiết liên quan đến miễn dịch
Suy giáp trạng, cường giáp trạng, suy thượng thận, viêm tuyến yên và đái tháo đường tuýp 1, bao gồm các trường hợp nhiễm toan ceton do đái tháo đường, đã được ghi nhận trong các thử nghiệm lâm sàng với Tecentriq (xem mục Tác dụng không mong muốn, Thử nghiệm lâm sàng). Bệnh nhân cần được theo dõi các dấu hiệu và triệu chứng của các bệnh nội tiết. Theo dõi chức năng tuyến giáp trước điều trị và định kì trong suốt quá trình điều trị với Tecentriq. Cần xem xét biện pháp xử trí thích hợp đối với các bệnh nhân có xét nghiệm chức năng tuyến giáp bất thường trước khi dùng thuốc. Bệnh nhân có xét nghiệm chức năng tuyến giáp bất thường không triệu chứng có thể dùng Tecentriq. Tham khảo cách điều chỉnh liều khuyến cáo trong mục Liều lượng và cách dùng.
Viêm não-màng não liên quan đến miễn dịch
Viêm não-màng não đã được ghi nhận trong các thử nghiệm lâm sàng với Tecentriq (xem mục Tác dụng không mong muốn, Thử nghiệm lâm sàng). Bệnh nhân cần được theo dõi các dấu hiệu và triệu chứng viêm màng não hoặc viêm não. Tham khảo cách điều chỉnh liều khuyến cáo trong mục Liều lượng và cách dùng
Bệnh thần kinh liên quan đến miễn dịch
Hội chứng nhược cơ/bệnh nhược cơ hoặc hội chứng Guillain-Barré, có thể đe dọa tính mạng, đã được ghi nhận trên các bệnh nhân sử dụng Tecentriq (xem mục Tác dụng không mong muốn, Các thử nghiệm lâm sàng). Bệnh nhân cần được theo dõi các triệu chứng của bệnh thần kinh vận động và bệnh thần kinh cảm giác. Tham khảo cách điều chỉnh liều khuyến cáo trong mục Liều lượng và cách dùng.
Viêm tụy liên quan đến miễn dịch
Viêm tụy, bao gồm tăng nồng độ amylase và lipase huyết thanh, đã được ghi nhận trong các thử nghiệm lâm sàng với Tecentriq (xem mục Tác dụng không mong muốn, Các thử nghiệm lâm sàng). Bệnh nhân cần được theo dõi chặt chẽ các dấu hiệu và triệu chứng gợi ý viêm tụy cấp. Tham khảo cách điều chỉnh liều khuyến cáo trong mục Liều lượng và cách dùng.
Viêm cơ tim có liên quan đến miễn dịch
Viêm cơ tim đã được quan sát thấy trong các thử nghiệm lâm sàng với Tecentriq (xem phần Tác dụng không mong muốn, Thử nghiệm lâm sàng). Bệnh nhân cần được theo dõi các dấu hiệu và triệu chứng của viêm cơ tim. Tham khảo cách điều chỉnh liều khuyến cáo trong mục Liều lượng và cách dùng.
Viêm cơ liên quan đến miễn dịch
Các trường hợp viêm cơ, bao gồm cả các trường hợp tử vong, đã được quan sát thấy trên các thử nghiệm lâm sàng với Tecentriq (xem phần Tác dụng không mong muốn, Thử nghiệm lâm sàng). Bệnh nhân cần được theo dõi các dấu hiệu và triệu chứng viêm cơ. Tham khảo mục Liều lượng và cách dùng để điều chỉnh liều khuyến cáo.
Viêm thận liên quan đến miễn dịch
Viêm thận đã được quan sát thấy trong các thử nghiệm lâm sàng với Tecentriq (xem phần Tác dụng không mong muốn, Thử nghiệm lâm sàng). Bệnh nhân cần được theo dõi những thay đổi về chức năng thận. Tham khảo cách điều chỉnh liều khuyến cáo trong mục Liều lượng và cách dùng.
Phản ứng liên quan đến tiêm truyền
Các phản ứng liên quan đến tiêm truyền thuốc đã được ghi nhận trong các thử nghiệm lâm sàng với Tecentriq (xem mục Tác dụng không mong muốn, Thử nghiệm lâm sàng). Tham khảo cách điều chỉnh liều khuyến cáo trong mục Liều lượng và cách dùng.
Các đối tượng đặc biệt
Bệnh nhân mắc bệnh tự miễn bị loại khỏi các thử nghiệm lâm sàng với Tecentriq. Do chưa có đủ dữ liệu, cần thận trọng khi sử dụng Tecentriq trên các bệnh nhân mắc bệnh tự miễn sau khi đã đánh giá lợi ích-nguy cơ tiềm tàng.
Độc tính trên phôi thai
Dựa trên cơ chế tác dụng, sử dụng Tecentriq có thể gây hại đối với bào thai. Các nghiên cứu trên động vật đã chứng minh rằng ức chế con đường PD-L1/PD-1 có thể dẫn tới tăng nguy cơ đào thải bào thai đang phát triển liên quan đến miễn dịch, dẫn đến chết thai.
Phụ nữ mang thai cần được tư vấn về nguy cơ tiềm tàng đối với thai nhi. Phụ nữ có khả năng mang thai cần được khuyến cáo sử dụng biện pháp tránh thai hữu hiệu trong khi dùng Tecentriq và trong 5 tháng kể từ liều cuối cùng (xem mục Phụ nữ và nam giới trong độ tuổi sinh sản và mục Độc tính đối với sự sinh sản).
Nhiễm trùng
Nhiễm trùng nặng, bao gồm nhiễm khuẩn huyết, herpes não và nhiễm trùng lao dẫn đến xuất huyết sau phúc mạc xảy ra ở những bệnh nhân dùng TECENTRIQ. Theo dõi các dấu hiệu và triệu chứng nhiễm trùng của bệnh nhân và điều trị bằng thuốc kháng sinh đối với các bệnh nhân nghi ngờ hoặc đã bị nhiễm khuẩn. Cần tạm ngừng điều trị bằng Tecentriq trên các bệnh nhân nhiễm trùng ≥ độ 3.
Độc tính tiền thị giác
Độc tính tiền thị giác xảy ra ở ≤ 1,0% bệnh nhân điều trị bằng TECENTRIQ.
Lạm dụng và phụ thuộc thuốc
Chưa có dữ liệu được báo cáo.
Khả năng lái xe và vận hành máy móc
Chưa có nghiên cứu về ảnh hưởng của thuốc đến khả năng lái xe và vận hành máy móc.
SỬ DỤNG THUỐC TRÊN CÁC ĐỐI TƯỢNG ĐẶC BIỆT
Phụ nữ và nam giới trong độ tuổi sinh sản
Khả năng sinh sản
Dựa trên các nghiên cứu trên động vật, Tecentriq có thể làm giảm khả năng sinh sản ở phụ nữ có khả năng sinh sản trong khi đang điều trị (xem phần Sự suy giảm khả năng sinh sản)
Biện pháp tránh thai
Các bệnh nhân nữ có khả năng mang thai cần sử dụng biện pháp tránh thai hữu hiệu trong khi điều trị và tối thiểu 5 tháng sau khi ngừng điều trị với Tecentriq (xem mục Cảnh báo và thận trọng, Thông tin chung và mục Độc tính đối với sự sinh sản).
Sử dụng thuốc trên trẻ em
Độ an toàn và hiệu quả của Tecentriq trên trẻ em và thiếu niên dưới 18 tuổi chưa được nghiên cứu.
Sử dụng thuốc trên người cao tuổi
Không có sự khác biệt toàn bộ về hiệu quả và độ an toàn được ghi nhận giữa các bệnh nhân ≥ 65 tuổi và những bệnh nhân trẻ hơn (xem mục Hướng dẫn đặc biệt về liều dùng và mục Dược động học trên các đối tượng đặc biệt).
Suy thận
Xem mục Hướng dẫn đặc biệt về liều dùng và mục Dược động học trên các đối tượng đặc biệt.
Suy gan
Xem mục Hướng dẫn đặc biệt về liều dùng và mục Dược động học trên các đối tượng đặc biệt.
Sử dụng ở phụ nữ có thai & cho con bú
Phụ nữ có thai
Chưa có nghiên cứu lâm sàng về sử dụng Tecentriq trên phụ nữ có thai. Không khuyến cáo sử dụng Tecentriq trong thai kì trừ khi lợi ích dự kiến đối với người mẹ vượt trội so với nguy cơ tiềm tàng đối với bào thai.
Chuyển dạ và sinh
Sử dụng Tecentriq trong thời kì chuyển dạ và sinh con chưa được nghiên cứu.
Phụ nữ đang cho con bú
Chưa rõ Tecentriq có được bài tiết vào sữa mẹ hay không. Chưa có các nghiên cứu đánh giá tác động của Tecentriq đến sự bài tiết sữa hoặc sự có mặt của thuốc này trong sữa. Do chưa xác định được khả năng có hại đối với trẻ nhỏ đang bú mẹ, cần phải quyết định ngừng cho con bú hoặc ngừng điều trị bằng Tecentriq.
Tương tác
Chưa có nghiên cứu tương tác thuốc-thuốc đặc hiệu với atezolizumab. Do atezolizumab được thanh thải thông qua con đường dị hóa, do đó hy vọng không có tương tác chuyển hóa giữa thuốc-thuốc.
Tác dụng không mong muốn
Các thử nghiệm lâm sàng
Các phản ứng có hại được phân loại vào các nhóm với tần suất sau: rất thường gặp (≥1/10), thường gặp (≥1/100 và <1/10), ít gặp (≥1/1.000 và <1/100), hiếm gặp (≥1/10.000 và <1/1.000), rất hiếm gặp (<1/10.000).
Điều trị đơn trị bằng Tecentriq
Độ an toàn của điều trị đơn trị bằng Tecentriq đã được thiết lập dựa trên dữ liệu gộp từ 3178 bệnh nhân mắc nhiều loại khối u, cùng với dữ liệu bổ trợ trên hơn 13000 bệnh nhân có phơi nhiễm với thuốc trong tất cả các thử nghiệm lâm sàng. Bảng 12 tóm tắt các phản ứng có hại (ADR) đã được ghi nhận liên quan đến sử dụng Tecentriq.
- xem Bảng 12.

Image from Drug Label Content

Liệu pháp phối hợp Tecentriq
Các ADR được xác định thêm trong các thử nghiệm lâm sàng (không được ghi nhận trong các thử nghiệm đơn trị liệu) liên quan đến việc sử dụng Tecentriq trong liệu pháp kết hợp với nhiều chỉ định được tóm tắt trong Bảng 13. Các ADR với sự khác biệt lâm sàng có liên quan khi so sánh với đơn trị liệu (xem Bảng 12) cũng được trình bày.
- xem Bảng 13.

Image from Drug Label Content

Thông tin bổ sung liên quan đến các phản ứng có hại chọn lọc
Dữ liệu dưới đây thể hiện thông tin về các phản ứng có hại có ý nghĩa khi dùng Tecentriq đơn trị. Chi tiết về các phản ứng có hại có ý nghĩa khi dùng Tecentriq kết hợp được thể hiện khi có sự khác biệt về mặt lâm sàng được ghi nhận so với dùng Tecentriq đơn trị. Xem mục Cảnh báo và thận trọng, Thông tin chung liên quan đến quản lý các biến cố sau:
Viêm phổi liên quan đến miễn dịch
Viêm phổi đã xuất hiện trên 2,7% (87/3178) bệnh nhân điều trị bằng Tecentriq đơn trị. Trong số 87 bệnh nhân này, một trường hợp đã tử vong. Trung vị thời gian khởi phát viêm phổi là 3,4 tháng (dao động từ 0,1 tới 24,8 tháng). Trung vị khoảng thời gian mắc biến cố này là 1,4 tháng (dao động từ 0 đến 21,2 + tháng; + đại diện cho một giá trị bị khuyết). Viêm phổi dẫn đến phải ngừng thuốc đã xuất hiện trên 12 (0,4%) bệnh nhân. Viêm phổi cần phải dùng corticosteroid xuất hiện trên 1,6% (51/3178 ) bệnh nhân.
Viêm gan liên quan đến miễn dịch
Viêm gan đã xuất hiện trên 2,0% (62/3178) bệnh nhân điều trị bằng Tecentriq đơn trị. Trong số 62 bệnh nhân này, hai trường hợp đã tử vong. Trung vị thời gian khởi phát viêm gan là 1,5 tháng (dao động từ 0,2 đến 18,8 tháng). Trung vị khoảng thời gian mắc biến cố này là 2,1 tháng (dao động từ 0 đến 22,0+ tháng; + đại diện cho một giá trị bị khuyết). Viêm gan dẫn đến phải ngừng Tecentriq đã xuất hiện trên 6 (0,2%) bệnh nhân. Viêm gan cần phải dùng corticosteroid đã xuất hiện trên 0,4% (18/3178) bệnh nhân dùng Tecentriq.
Viêm đại tràng liên quan đến miễn dịch
Viêm đại tràng đã xuất hiện trên 1,1% (34/3178) bệnh nhân điều trị bằng Tecentriq. Trung vị thời gian khởi phát viêm đại tràng là 4,7 tháng (dao động từ 0,5 đến 17,2 tháng). Trung vị khoảng thời gian mắc biến cố này là 1,2 tháng (dao động từ 0,1 đến 17,8+ tháng; + đại diện cho một giá trị bị khuyết). Viêm đại tràng dẫn đến phải ngừng Tecentriq đã xuất hiện trên 8 (0,3%) bệnh nhân. Viêm đại tràng cần phải dùng corticosteroid đã xuất hiện trên 0,6% (19/3178) bệnh nhân dùng Tecentriq.
Bệnh nội tiết liên quan đến miễn dịch
* Rối loạn tuyến giáp
Suy giáp trạng đã xuất hiện trên 5,2% (164/3178) bệnh nhân điều trị bằng Tecentriq đơn trị. Trung vị thời gian khởi phát là 4,9 tháng (dao động từ 0 đến 31,3 tháng).
Cường giáp trạng đã xuất hiện trên 0,9% (30/3178) bệnh nhân điều trị bằng Tecentriq đơn trị. Trung vị thời gian khởi phát biến cố này là 2,1 tháng (dao động từ 0,7 đến 15,7 tháng). Trung vị khoảng thời gian cường giáp trạng là 2,6 tháng (dao động từ 0+ đến 17,1+ tháng; + đại diện cho một giá trị bị khuyết).
Cường giáp trạng đã xuất hiện trên 4,9% (23/473) bệnh nhân điều trị Tecentriq kết hợp với carboplatin và nab-paclitaxel. Cường giáp trạng dẫn tới phải ngừng Tecentriq đã xuất hiện trên 1 bệnh nhân (0,2%).
* Suy thượng thận
Suy thượng thận đã xuất hiện trên 0,4% (12/3178) bệnh nhân điều trị bằng Tecentriq đơn trị. Trung vị thời gian khởi phát suy thượng thận là 5,5 tháng (dao động từ 0,1 đến 19,0 tháng). Trung vị khoảng thời gian mắc biến cố này là 16,8 tháng (dao động từ 0 đến 16,8 tháng). Có 1 bệnh nhân suy thượng thận dẫn đến ngừng Tecentriq (<0,1%). Suy thượng thận cần phải dùng corticosteroid đã xuất hiện trên 0,3% (9/3178) bệnh nhân dùng Tecentriq.
Suy thượng thận đã xuất hiện trên 1,5% (7/473) bệnh nhân dùng Tecentriq kết hợp với carboplatin và nab-paclitaxel. Suy thượng thận cần phải dùng corticosteroid đã xuất hiện trên 0,8% (4/473) bệnh nhân dùng Tecentriq kết hợp với carboplatin và nab-paclitaxel.
Viêm tuyến yên
Viêm tuyến yên đã xuất hiện ở <0,1% (2/3178) bệnh nhân dùng Tecentriq đơn trị. Trung vị thời gian khởi phát viêm tuyến yên là 7,2 tháng (dao động từ 0,8 đến 13,7 tháng). Có 1 bệnh nhân cần phải dùng corticosteroid và ngừng Tecentriq.
Viêm tuyến yên đã xuất hiện trên 0,8% (3/393) bệnh nhân điều trị bằng Tecentriq kết hợp với bevacizumab, paclitaxel và carboplatin. Trung vị thời gian khởi phát viêm tuyến yên là 7,7 tháng (dao động từ 5,0 đến 8,8 tháng). Tất cả 3 bệnh nhân này đều được cần phải dùng corticosteroid.
Đái tháo đường
Đái tháo đường đã xuất hiện trên 0,3% (11/3178) bệnh nhân dùng Tecentriq đơn trị. Trung vị thời gian khởi phát đái tháo đường là 3,6 tháng (dao động từ 0,1 đến 9,9 tháng). Trung vị khoảng thời gian mắc biến cố này là 2,4 tháng (dao động từ 0,1 đến 15,2 tháng; + đại diện cho một giá trị bị khuyết). Đái tháo đường dẫn tới phải ngừng Tecentriq đã xuất hiện trên 3 bệnh nhân (<0,1%).
Viêm não-màng não liên quan đến miễn dịch
Viêm não-màng não đã xuất hiện trên 0,4% (13/3178) bệnh nhân điều trị bằng Tecentriq đơn trị. Trung vị thời gian khởi phát viêm màng não là 0,5 tháng (dao động từ 0 đến 12,5 tháng). Trung vị khoảng thời gian mắc biến cố này là 0,7 tháng (dao động từ 0,2 đến 14,5+ tháng; + đại diện cho một giá trị bị khuyết). Viêm não-màng não cần phải dùng corticosteroid đã xảy ra trên 0,2% (6/3178) bệnh nhân điều trị bằng Tecentriq và 4 bệnh nhân đã ngừng điều trị bằng Tecentriq (0,1%).
Bệnh thần kinh liên quan đến miễn dịch
Các bệnh thần kinh, bao gồm hội chứng Guillain-Barré và bệnh mất myelin đa dây thần kinh, đã xuất hiện trên 0,2% (5/3178) bệnh nhân điều trị bằng Tecentriq đơn trị. Trung vị thời gian khởi phát các bệnh lý này là 7,0 tháng (dao động từ 0,6 đến 8,1 tháng). Trung vị khoảng thời gian mắc là 8,0 tháng (dao động từ 0,6 đến 8,3+ tháng; + đại diện cho một giá trị bị khuyết). Hội chứng Guillain-Barré dẫn đến phải ngừng Tecentriq đã xuất hiện trên 1 (<0,1%) bệnh nhân. Hội chứng Guillain-Barré cần phải điều trị bằng corticosteroid đã xuất hiện với tỷ lệ < 0,1% (2/3178) bệnh nhân điều trị bằng Tecentriq.
Viêm tụy liên quan đến miễn dịch
Viêm tụy, bao gồm tăng amylase và lipase, đã xuất hiện trên 0,6% (18/3178) bệnh nhân điều trị bằng Tecentriq đơn trị. Trung vị thời gian khởi phát viêm tụy là 5,0 tháng (dao động từ 0,3 đến 16,9 tháng). Trung vị khoảng thời gian mắc biến cố này là 0,8 tháng (dao động từ 0,1 đến 12,0+ tháng; + đại diện cho một giá trị bị khuyết). Có 3 bệnh nhân viêm tụy dẫn đến ngừng Tecentriq (<0,1%). Viêm tụy cần phải điều trị bằng corticosteroid đã xuất hiện với tỷ lệ 0,1% (4/3178) bệnh nhân dùng Tecentriq.
Viêm cơ liên quan đến miễn dịch
Viêm cơ đã xuất hiện trên 0,4% (12/3178) bệnh nhân điều trị bằng Tecentriq đơn trị. Trung vị thời gian khởi phát viêm cơ là 5,4 tháng (dao động từ 0,7 đến 11,0 tháng). Trung vị khoảng thời gian viêm cơ là 3,5 tháng (dao động từ 0,1 đến 22,6+ tháng, + đại diện cho một giá trị bị khuyết). Viêm cơ dẫn đến phải ngừng điều trị bằng Tecentriq đã xuất hiện trên 1 bệnh nhân (<0,1%). Viêm cơ cần phải dùng corticosteroid đã xuất hiện trên 0,2% (7/3178) bệnh nhân dùng Tecentriq.
Viêm thận liên quan đến miễn dịch
Viêm thận xảy ra trên <0,1% (3/3178) bệnh nhân điều trị bằng Tecentriq đơn trị. Trung vị thời gian khởi phát viêm thận là 13,1 tháng (dao động từ 9,0 đến 17,5 tháng). Trung vị khoảng thời gian mắc viêm thận là 2,8 tháng (dao động từ 0,5 đến 9,5+ tháng; + đại điện cho một giá trị bị khuyết). Viêm thận dẫn đến ngừng Tecentriq trên 2 bệnh nhân (<0,1%). Có 1 bệnh nhân cần phải điều trị bằng corticosteroid.
Kinh nghiệm sau khi thuốc lưu hành ra thị trường
Chưa ghi nhận phản ứng có hại mới sau khi đưa thuốc ra thị trường.
Quá liều
Chưa có thông tin về quá liều Tecentriq.
Thận trọng lúc dùng
CÁC HƯỚNG DẪN ĐẶC BIỆT TRONG SỬ DỤNG, THAO TÁC VÀ THẢI BỎ THUỐC
Không được tiêm tĩnh mạch nhanh.
Không được lắc.
Không được pha trộn với các thuốc khác.
Chuẩn bị
Kiểm tra bằng mắt thường các tiểu phân và sự đổi màu của bao bì và dung dịch pha tiêm truyền trước khi sử dụng. Dung dịch Tecentriq không màu hoặc màu vàng nhạt.
Hủy bỏ lọ thuốc nếu dung dịch đục, đổi màu hoặc quan sát thấy các tiểu phân.
Hướng dẫn pha loãng
Tecentriq cần được pha chế bởi một cán bộ y tế, sử dụng kĩ thuật vô trùng.
Chuẩn bị dung dịch để truyền như sau:
- Lấy 20 mL dung dịch đậm đặc Tecentriq từ lọ thuốc
- Pha loãng với 250 mL túi polyvinyl clorua (PVC), polyethylene (PE), hoặc polyolefin (PO) có chứa dung dịch natri clorid 0,9% pha tiêm.
- Chỉ được pha loãng thuốc với dung dịch tiêm truyền natri clorid 0,9%.
Hủy bỏ phần không sử dụng
Bảo quản dung dịch sau khi pha loãng
Tecentriq không chứa chất bảo quản, do đó, mỗi lọ chỉ được sử dụng một lần.
Dùng ngay sau khi chuẩn bị. Nếu dung dịch TECENTRIQ sau khi pha loãng không được sử dụng ngay, có thể bảo quản như sau:
- Bảo quản ở nhiệt độ phòng không quá 6 giờ kể từ lúc pha. Thời gian này bao gồm bảo quản ở nhiệt độ phòng dung dịch truyền trong túi truyền và thời gian cho việc tiêm truyền.
- Hoặc bảo quản ở nhiệt độ 2°C-8°C (36°F-46°F) trong thời gian không quá 24 giờ. Không để đông lạnh.
Tính không tương thích
Không ghi nhận tính không tương thích giữa Tecentriq và các túi truyền dịch có bề mặt tiếp xúc bằng polyvinyl chlorid (PVC), polyethylen (PE) hoặc polyolefin. Ngoài ra, không phát hiện tính không tương thích với các màng lọc nội dòng (in-line filter) chứa polyethersulfon hoặc polysulfon và bộ truyền dịch cũng như các dụng cụ phụ trợ truyền dịch khác có chứa PVC, PE, polybutadien hoặc polyetherurethan.
Thải bỏ thuốc
Cần hạn chế thải thuốc ra môi trường. Không nên thải thuốc thông qua hệ thống nước thải và phải tránh thải thuốc thông qua hệ thống rác thải sinh hoạt. Sử dụng “hệ thống xử lý rác thải” chuyên dụng nếu hệ thống này sẵn có tại địa phương.
Bảo quản
Bảo quản ở nhiệt độ 2°C-8°C.
Tecentriq cần được bảo quản tránh ánh sáng.
Không được để đông lạnh. Không được lắc.
Hạn sử dụng: 36 tháng.
Dung dịch pha loãng để truyền cần được dùng ngay. Nếu dung dịch thuốc chưa được dùng ngay, có thể bảo quản ở nhiệt độ 2°C-8°C trong thời gian lên tới 24 giờ hoặc trong 8 giờ ở nhiệt độ phòng (≤ 25°C).
Phân loại MIMS
Liệu pháp miễn dịch trong điều trị ung thư
Phân loại ATC
L01FF05 - atezolizumab ; Belongs to the class of PD-1/PDL-1 (Programmed cell death protein 1/death ligand 1) inhibitors. Used in the treatment of cancer.
Trình bày
Dung dịch đậm đặc để pha dung dịch tiêm truyền: hộp 1 lọ 20 mL.
Register or sign in to continue
Asia's one-stop resource for medical news, clinical reference and education
Already a member? Sign in
Register or sign in to continue
Asia's one-stop resource for medical news, clinical reference and education
Already a member? Sign in