NEW
Triveram

Triveram Dược lực học

Nhà sản xuất:

Servier
Thông tin kê toa chi tiết tiếng Việt
Dược lực học
Nhóm dược lý điều trị: Các thuốc làm biến đổi lipid, thuốc ức chế HMG CoA reductase, các dạng kết hợp khác.
Mã ATC: C10BX.
Cơ chế tác dụng
Atorvastatin
Atorvastatin là một chất ức chế cạnh tranh, chọn lọc HMG-CoA reductase, enzym với tỷ lệ hạn chế có vai trò chuyển 3-hydroxy-3-methyl-glutaryl-coenzyme A thành mevalonat, tiền chất của các sterol, bao gồm cả cholesterol. Các triglycerid và cholesterol tại gan được liên hợp thành các lipoprotein tỷ trọng rất thấp (VLDL) và được giải phóng vào huyết tương để vận chuyển đến các mô ngoại biên. Lipiprotein tỷ trọng thấp (LDL) được tạo thành từ VLDL và được chuyển hóa chủ yếu thông qua các thụ thể có ái lực cao với LDL (LDL thụ thể).
Perindopril
Perindopril là một chất ức chế enzyme chuyển angiotensin I thành angiotensin II (Angiotensin Converting Enzyme ACE). Men chuyển, hoặc kinase, là một peptidase ngoại sinh cho phép chuyển angiotensin I thành chất gây co mạch angiotensin II cũng như gây giáng hóa chất dãn mạch bradykinin thành heptapeptid không có hoạt tính. Ức chế enzyme chuyển làm giảm angiotensin II trong huyết tương, dẫn đến làm tăng hoạt tính renin trong huyết tương (bằng cách ức chế quá trình hồi tác âm giải phóng renin) và làm giảm bài tiết aldosteron. Do men chuyển angiotensin gây bất hoạt bradykinin, ức chế enzyme chuyển cũng làm tăng hoạt tính hệ kallikrein-kinin trong tuần hoàn và tại chỗ (và do đó cũng hoạt hóa hệ prostaglandin). Có thể cơ chế này dẫn đến tác dụng hạ huyết áp của các chất ức chế enzyme chuyển và một phần gây ra tác dụng phụ của các thuốc này (như ho).
Perindopril tác động thông qua chất chuyển chuyển hóa có hoạt tính là perindoprilat. Các chất chuyển hóa khác cho thấy không có tác dụng ức chế enzyme chuyển angiotensin in vitro.
Amlodipin
Amlodipin là một chất ức chế dòng ion calci thuộc nhóm dihydropyridin (chẹn kênh chậm hoặc đối kháng với ion calci) và ức chế dòng ion calci qua màng vào cơ trơn tim và mạch máu.
Tác dụng dược lực học
Atorvastatin

Atorvastatin làm giảm nồng độ cholesterol huyết tương và lipoprotein huyết thanh bằng cách ức chế HMG-CoA reductase và quá trình sinh tổng hợp cholesterol tại gan và làm tăng số lượng thụ thể LDL trên bề mặt tế bào gan để làm tăng hấp thu và chuyển hóa LDL.
Atorvastatin làm giảm hình thành LDL và số lượng các tiểu phân LDL. Atorvastatin gây tăng mạnh và làm bền vững hoạt tính của thụ thể LDL kết hợp với thay đổi có hiệu quả lượng tiểu phân LDL trong tuần hoàn. Atorvastatin có tác dụng làm giảm LDL-C ở bệnh nhân có tăng cholesterol máu gia đình dạng đồng hợp tử, nhóm bệnh nhân này thường không đáp ứng với các thuốc hạ lipid máu.
Perindopril
Tăng huyết áp:
Perindopril có tác dụng với tăng huyết áp ở tất cả các mức độ: nhẹ, trung bình, nặng; giảm cả huyết áp tâm thu và huyết áp tâm trương cả khi nằm và ở tư thế đứng đã được ghi nhận.Perindopril làm giảm sức cản mạch ngoại vi, dẫn đến hạ huyết áp. Kết quả lưu lượng máu ngoại vi tăng lên mà không ảnh hưởng đến nhịp tim.
Lưu lượng máu qua thận tăng theo quy luật, trong khi tốc độ lọc cầu thận thường không thay đổi.
Suy tim:
Perindopril làm giảm hoạt động của tim bằng cách giảm tiền gánh và hậu gánh.
Amlodipin
Cơ chế tác dụng chống tăng huyết áp của amlodipin là do tác dụng giãn trực tiếp cơ trơn thành mạch. Cơ chế giảm đau thắt ngực chính xác của amlodipin chưa được xác định đầy đủ nhưng amlodipin làm giảm tổng gánh nặng thiếu máu cục bộ theo hai cơ chế dưới đây:
1) Amlodipin làm giãn các tiểu động mạch ngoại biên và do đó làm giảm toàn bộ lực cản ngoại biên (hậu gánh). Do tần số tim vẫn ổn định, hậu gánh giảm làm giảm tiêu thụ năng lượng cơ tim và nhu cầu oxy của cơ tim.
2) Cơ chế tác dụng của amlodipin cũng có thể bao gồm giãn các động mạch vành chính và các động mạch vành, cả ở vùng bình thường và vùng thiếu máu. Giãn động mạch vành tăng cung cấp oxy cho cơ tim ở bệnh nhân bị co thắt động mạch vành (đau thắt ngực thay đổi hay đau thắt ngực Prinzmetal).
Hiệu quả lâm sàng và độ an toàn:
Triveram chưa được nghiên cứu về tỷ lệ mắc bệnh và tỷ lệ tử vong.
Atorvastatin
Atorvastatin đã cho thấy việc làm giảm nồng độ cholesterol toàn phần (30% - 46%), LDL-C (41% - 61%), apolipoprotein B (34% - 50%), và triglycerid (14% - 33%) trong khi làm tăng biến đổi HDL-C và apolipoprotein A1 trong một nghiên cứu đáp ứng liều. Kết quả này cũng tương tự ở bệnh nhân có tăng cholesterol máu di truyền dạng dị hợp thể, tăng cholesterol máu không có yếu tố gia đình và tăng lipid máu hỗn hợp, bao gồm cả bệnh nhân bị đái tháo đường không phụ thuộc insulin.
Giảm cholesterol toàn phần, LDL-C và apolipoprotein B đã được chứng minh làm giảm nguy cơ các biến cố tim mạch và tỷ lệ tử vong do các bệnh tim mạch.
Tăng cholesterol máu gia đình dạng đồng hợp thể
Trong một nghiên cứu đa trung tâm 8 tuần nhãn mở với giai đoạn mở rộng có thời gian biến động, 335 bệnh nhân tham gia nghiên cứu, trong đó 89 bệnh nhân được xác định có tăng cholesterol máu gia đình dạng đồng hợp tử. Từ 89 bệnh nhân này, phần trăm giảm trung bình LDL-C vào khoảng 20%. Atorvastatin được dùng với liều lên đến 80 mg/ngày.
Dự phòng bệnh tim mạch
ASCOT (Anglo-Scandinavian Cardiac Outcomes Trial) là một thử nghiệm lâm sàng quốc tế được phân nhóm ngẫu nhiên với thiết kế giai thừa 2x2. Mục đích của ASCOT là so sánh tác dụng của 2 phác đồ điều trị cao huyết áp trên 19257 bệnh nhân (nhóm hạ huyết áp-ASCOT-BPLA) và tác dụng của việc bổ sung atorvastatin 10 mg, so với nhóm dùng giả dược trên 10305 bệnh nhân (nhóm hạ lipid – ASCOT-LLA) về các biến cố mạch vành gây tử vong và không gây tử vong.
Các tác dụng này của atorvastatin trên các biến cố mạch vành gây tử vong và không gây tử vong được đánh giá trên bệnh nhân tăng huyết áp từ 40-79 tuổi không có tiền sử nhồi máu cơ tim hoặc điều trị đau thắt ngực và có nồng độ cholesterol toàn phần ≤ 6,5 mmol/L (251 mg/dL). Tất cả các bệnh nhân này có ít nhất 3 yếu tố nguy cơ tim mạch đã được xác định trước: giới tính nam, ≥55 tuổi, hút thuốc, đái tháo đường, tiền sử bệnh mạch vành khoảng độ 1, cholesterol toàn phần: HDL C >6, bệnh mạch ngoại vi, phì đại tâm thất trái, có tai biến mạch máu não trước đó, điện tâm đồ đặc hiệu bất thường, protein niệu/albumin niệu. Bệnh nhân được điều trị hạ huyết áp bằng amlodipin hoặc atenolol. Để đạt được mục đích kiểm soát huyết áp (< 140/90 mmHg ở bệnh nhân không bị đái tháo đường, < 130/80 mmHg ở bệnh nhân đái tháo đường), perindopril có thể được thêm vào nhóm dùng amlodipin và bendroflumethiazid thêm vào nhóm dùng atenolol.
Bệnh nhân được điều trị hạ huyết áp (phác đồ nền dùng amlodipin hoặc atenolol) kết hợp với atorvastatin 10 mg/ngày (n=5168) hoặc placebo (n=5137).
Kết hợp atorvastatin và amlodipin làm giảm có ý nghĩa tiêu chí đánh giá chính về các biến cố mạch vành gây tử vong và nhồi máu cơ tim không gây tử vong là 53% (khoảng tin cậy 95% [0,31; 0,69], p <0,0001) so với nhóm dùng placebo + amlodipin và 39% (khoảng tin cậy 95% [0,08; 0,59], p <0,016) so với nhóm dùng atorvastatin + atenolol.
Trong một dưới nhóm bệnh nhân từ ASCOT-LLA được xác định trong phân tích hậu kiểm được điều trị đồng thời bằng atorvastatin, perindopril và amlodipin (n=1814), các biến cố mạch vành gây tử vong và nhồi máu cơ tim không gây tử vong giảm 38% (khoảng tin cậy 95% [0,36; 1,08]) so với nhóm dùng atorvastatin, atenolol và bendroflumethiazid (n=1978). Cũng có sự giảm có ý nghĩa 24% tổng các biến cố và biến cố tim mạch (khoảng tin cậy 95% [0,59;0,97]), giảm 31% tổng các biến cố mạch vành (khoảng tin cậy 95% [0,48;1,00]) và giảm có ý nghĩa 50% đột quỵ gây tử vong và không gây tử vong (khoảng tin cậy 95% [0,29;0,86]), 39% đối với nhồi máu cơ tim không gây tử vong, biến cố mạch vành gây tử vong và phẫu thuật thông mạch vành (khoảng tin cậy 95% (0,38;0,97]) và 42% tỷ lệ tử vong do bệnh tim mạch, nhồi máu cơ tim và đột quỵ (khoảng tin cậy 95% [0,40;0,85]).
Perindopril
Tăng huyết áp:
Tác dụng hạ huyết áp đạt được tối đa sau 4-6 giờ dùng liều đơn và được duy trì sau ít nhất 24 giờ: tác dụng đáy bằng khoảng 87-100% tác dụng đỉnh.
Hạ huyết áp xuất hiện nhanh, trên các bệnh nhân có đáp ứng, huyết áp trở về bình thường trong vòng 1 tháng và được duy trì mà không xuất hiện miễn dịch nhanh.
Ngừng điều trị không dẫn đến tác dụng dội ngược.
Perindopril làm giảm phì đại tâm thất trái.
Trên người, perindopril đã được chứng minh có đặc tính giãn mạch. Điều này giúp cải thiện độ đàn hồi của các động mạch lớn và giảm tỷ lệ kích thước trung tâm và lòng mạch của các động mạch nhỏ.
Điều trị bổ sung thuốc lợi tiểu thiazid có tác dụng hiệp đồng. Kết hợp một thuốc ức chế enzyme chuyển và một thiazid cũng làm giảm nguy cơ hạ kali máu gây ra khi điều trị bằng các thuốc lợi tiểu.
Bệnh nhân có bệnh mạch vành ổn định:
Nghiên cứu EUROPA là một nghiên cứu lâm sàng quốc tế, đa trung tâm, ngẫu nhiên, mù đôi và có đối chứng placebo kéo dài 4 năm.
12218 bệnh nhân trên 18 tuổi được phân nhóm ngẫu nhiên dùng 8 mg perindopril tert-butylamin (tương ứng với 10 mg perindopril arginin) (n=6110) hoặc placebo (n=6108).
Quần thể nghiên cứu có bệnh mạch vành nhưng không có các dấu hiệu lâm sàng của suy tim. 90% tổng số bệnh nhân bị nhồi máu cơ tim trước đó và/hoặc có tái thông mạch vành trước đó. Hầu hết bệnh nhân được dùng thuốc nghiên cứu hàng đầu trong điều trị thông thường bao gồm thuốc ức chế tiểu cầu, thuốc hạ lipid máu và thuốc chẹn beta.
Tiêu chí đánh giá hiệu quả chính bao gồm tỷ lệ tử vong do tim mạch, nhồi máu cơ tim không gây tử vong và/hoặc ngừng tim được hồi sức thành công. Điều trị bằng 8 mg perindopril tert-butylamin (tương đương với 10 mg perindopril arginin) một lần mỗi ngày làm giảm tuyệt đối có ý nghĩa tiêu chí đánh giá chính 1,9% (giảm nguy cơ tương đối 20%, khoảng tin cậy 95% [9,4; 28,6] – p<0,001).
Ở bệnh nhân có tiền sử nhồi máu cơ tim và/hoặc tái thông mạch, giảm tuyệt đối 2,3% tương ứng với RRR 22,4% (khoảng tin cậy 95% [12,0; 31,6] – p<0,001) về tiêu chí đánh giá chính được ghi nhận so với nhóm dùng placebo.
Cơ chế khác: phong tỏa kép hệ renin-angiotensin-aldosteron (RAAS)
Hai thử nghiệm lâm sàng lớn phân nhóm ngẫu nhiên, có đối chứng (ONTARGET (sử dụng Telmisartan đơn độc và kết hợp với thử lâm sàng đánh giá tiêu chí tổng thể của Ramipril) và VA NEPHRON-D (The Veterans Affairs Nephropathy in Diabetes)) đã được thực hiện sử dụng kết hợp một thuốc ức chế enzyme chuyển với một thuốc chẹn thụ thể angiotensin II. ONTARGET là một nghiên cứu được thực hiện trên bệnh nhân có tiền sử bệnh tim mạch hoặc bệnh mạch máu não, hoặc bị đái tháo đường typ 2 kèm theo tổn thương cơ quan đích. VA NEPHRON-D là một nghiên cứu trên bệnh nhân đái tháo đường typ 2 và có bệnh thận do đái tháo đường.
Các nghiên cứu này cho thấy sự kết hợp này không có lợi ích đáng kể trên thận và/hoặc tim mạch và tỷ lệ tử vong, trong khi làm tăng nguy cơ tăng kali máu, tổn thương thận cấp và/hoặc hạ huyết áp so với đơn trị liệu. Do đặc tính tương tự về mặt dược lực học, các kết quả này cũng phù hợp với các thuốc ức chế enzyme chuyển khác và các thuốc chẹn thụ thể angiotensin II.
Do đó, không nên sử dụng đồng thời các thuốc ức chế enzyme chuyển và các thuốc chẹn thụ thể angiotensin II ở bệnh nhân bị bệnh thận do đái tháo đường.
ALTITUDE (Thử nghiệm lâm sàng với Aliskiren trên bệnh nhân đái tháo đường typ 2 sử dụng các tiêu chí đánh giá về bệnh thận và bệnh tim mạch) là một nghiên cứu được thiết kế để đánh giá hiệu quả khi bổ sung aliskiren vào phác đồ điều trị chuẩn bằng một thuốc ức chế enzyme chuyển hoặc một thuốc chẹn thụ thể angiotensin II trên bệnh nhân bị đái tháo đường typ 2 và bệnh thận mạn tính, bệnh tim mạch hoặc cả hai. Nghiên cứu đã kết thúc sớm do làm tăng nguy cơ các phản ứng bất lợi. Tử vong do bệnh tim mạch và đột quỵ xảy ra nhiều hơn ở nhóm dùng aliskiren so với nhóm dùng placebo và các biến cố bất lợi, các biến cố bất lợi nghiêm trọng được quan tâm (tăng kali máu, hạ huyết áp và rối loạn chức năng thận) được ghi nhận xảy ra nhiều hơn ở nhóm dùng aliskiren so với nhóm dùng placebo.
Amlodipin
Trên bệnh nhân tăng huyết áp, liều 1 lần/ngày làm giảm có ý nghĩa lâm sàng huyết áp cả ở tư thế đứng và nằm trong khoảng thời gian 24 giờ. Do tác dụng khởi phát chậm, hạ huyết áp cấp tính không phải là một đặc tính khi dùng amlodipin.
Ở bệnh nhân đau thắt ngực, sử dụng amlodipin 1 lần/ngày làm tăng thời gian gắng sức, thời gian tiềm tàng xuất hiện cơn đau thắt ngực và thời gian làm giảm 1 mm đoạn ST chênh xuống và làm giảm cả tần suất cơn đau thắt ngực cũng như lượng viên nén glyceryl trinitrat phải sử dụng.
Amlodipin không có liên quan đến bất cứ tác dụng phụ nào trên chuyển hóa hoặc thay đổi nồng độ lipid trong huyết tương và thích hợp khi sử dụng cho bệnh nhân bị hen phế quản, đái tháo đường và gút.
Sử dụng thuốc cho bệnh nhân bị bệnh mạch vành (CAD)
Hiệu quả của amlodipin trong dự phòng các biến cố lâm sàng ở bệnh nhân bị bệnh mạch vành đã được đánh giá trong một nghiên cứu lâm sàng độc lập, đa trung tâm, ngẫu nhiên, mù đôi, có đối chứng placebo trên 1997 bệnh nhân; so sánh amlodipin với enalapril về hạn chế xuất hiện huyết khối (CAMELOT). Trong số các bệnh nhân này, 663 bệnh nhân được điều trị bằng amlodipin 5-10 mg, 673 bệnh nhân được điều trị bằng enalapril 10-20 mg và 655 bệnh nhân dùng placebo, kết hợp với điều trị chuẩn bằng các statin, thuốc chẹn beta, thuốc lợi tiểu và aspirin trong 2 năm. Các kết quả đánh giá hiệu quả chính được trình bày trong bảng dưới đây. Các kết quả cho thấy điều trị bằng amlodipin làm giảm tỷ lệ nhập viện do đau thắt ngực và phẫu thuật tái thông mạch vành ở bệnh nhân bị bệnh mạch vành.
- xem Bảng 1.

Image from Drug Label Content

Sử dụng thuốc trên bệnh nhân suy tim
Các nghiên cứu huyết động và các thử nghiệm lâm sàng có đối chứng trên bệnh nhân suy tim độ II-IV theo phân loại NYHA đã cho thấy amlodipin không làm xấu đi tình trạng lâm sàng được xác định bằng khả năng chịu đựng gắng sức, phân suất tống máu tâm thất trái và triệu chứng lâm sàng.
Một nghiên cứu có đối chứng placebo (PRAISE) được thiết kế để đánh giá bệnh nhân suy tim độ III-IV theo phân loại NYHA dùng digoxin, các thuốc lợi tiểu và các thuốc ức chế enzyme chuyển cho thấy amlodipin không làm tăng nguy cơ tử vong hoặc tỷ lệ tử vong kết hợp với tỷ lệ mắc suy tim.
Trong một nghiên cứu theo dõi, dài hạn, có đối chứng placebo (PRAISE-2) với amlodipin trên bệnh nhân suy tim độ III và IV theo phân loại NYHA không có các triệu chứng lâm sàng hoặc không có biểu hiện bệnh lý thiếu máu cục bộ, dùng liều ổn định các thuốc ức chế enzyme chuyển, digitalis và các thuốc lợi tiểu, amlodipin không ảnh hưởng đến tỷ lệ tử vong gộp do các bệnh tim mạch. Cũng trong quần thể này, amlodipin liên quan đến việc tăng số lượng các báo cáo phù phổi.
Thử nghiệm điều trị dự phòng cơn đau tim (ALLHAT)
Một nghiên cứu ngẫu nhiên, mù đôi về tỷ lệ mắc-tỷ lệ tử vong được gọi là thử nghiệm điều trị hạ huyết áp và hạ lipid máu để dự phòng cơn đau tim (ALLHAT) được thực hiện để so sánh các phương pháp điều trị thuốc mới hơn: amlodipin 2,5-10 mg/ngày (chẹn kênh calci) hoặc lisinopril 10-40 mg/ngày (ức chế enzyme chuyển) là các liệu pháp điều trị đầu tay cùng với các thuốc lợi tiểu thiazid, chlorthalidon 12,5-25 mg/ngày trong tăng huyết áp nhẹ đến trung bình.
Tổng số 33357 bệnh nhân tăng huyết áp từ 55 tuổi trở lên được phân nhóm ngẫu nhiên và theo dõi trung bình 4,9 năm. Các bệnh nhân này có thêm ít nhất một yếu tố nguy cơ bệnh mạch vành, bao gồm: đã bị nhồi máu cơ tim hoặc đột quỵ trước đó (> 6 tháng trước khi tham gia vào nghiên cứu) hoặc đã có tiền sử các bệnh tim mạch xơ vữa khác (tổng số 51,5%), đái tháo đường typ 2 (36,1%), HDL-C < 35 mg/dL (11,6%), phì đại tâm thất trái được chẩn đoán bằng điện tâm đồ hoặc siêu âm tim (20,9%), hiện đang hút thuốc (21,9%).
Tiêu chí đánh giá chính là tiêu chí gộp biến cố bệnh mạch vành gây tử vong hoặc nhồi máu cơ tim không gây tử vong. Không có sự khác biệt có ý nghĩa về tiêu chí đánh giá chính giữa điều trị bằng amlodipin và điều trị bằng chlorthalidon: RR 0,98 khoảng tin cậy 95% (0,90-1,07) p=0,65. Trong số các tiêu chí đánh giá phụ, tỷ lệ suy tim (một phần trong tiêu chí đánh giá tim mạch kết hợp) tăng cao có ý nghĩa trong nhóm dùng amlodipin so với nhóm dùng chlorthalidon (10,2% so với 7,7%, RR 1,38, khoảng tin cậy 95% [1,25-1,52] p<0,001). Tuy nhiên, không có sự khác biệt có ý nghĩa về tỷ lệ tử vong do mọi nguyên nhân giữa nhóm dùng amlodipin và nhóm dùng chlorthalidon (RR 0,96 khoảng tin cậy 95% [0,89-1,02] p=0,20).
Quần thể bệnh nhi
Không có các dữ liệu về sử dụng Triveram cho trẻ em.
Register or sign in to continue
Asia's one-stop resource for medical news, clinical reference and education
Sign up for free
Already a member? Sign in