Velcade

Velcade Dược lực học

bortezomib

Nhà sản xuất:

Janssen-Cilag

Nhà phân phối:

DKSH
Thông tin kê toa chi tiết tiếng Việt
Dược lực học
Nhóm dược lý trị liệu: Thuốc chống ung thư, các thuốc chống ung thư khác, mã ATC: L01XX32.
Cơ chế tác dụng
Bortezomib là một chất ức chế proteasome. Thuốc được thiết kế đặc biệt để ức chế hoạt tính kiểu-chymotrypsin của proteasome 26S trong tế bào động vật có vú. Proteasome 26S là một phức hợp protein lớn gây tiêu hủy các protein được ubiquitin hóa. Con đường proteasome - ubiquitin đóng vai trò thiết yếu trong việc điều hòa số lượng các protein cụ thể, do đó duy trì ổn định nội môi trong tế bào. Ức chế proteasome 26S làm ngăn ngừa sự ly giải các protein đích này và ảnh hưởng đến nhiều dòng thác tín hiệu bên trong tế bào, cuối cùng dẫn đến chết tế bào ung thư.
Bortezomib có tính chọn lọc cao với proteasome. Ở nồng độ 10 μM, bortezomib không ức chế bất kỳ loại receptor và protease nào trên một phổ rộng các loại được sàng lọc và tác dụng trên proteasome chọn lọc hơn 1.500 lần so với enzyme ưu tiên tiếp theo của thuốc. Động học của quá trình ức chế proteasome đã được đánh giá in vitro, và cho thấy bortezomib tách ra khỏi proteasome với t½ là 20 phút, do đó chứng minh sự ức chế proteasome bởi bortezomib là có thể hồi phục.
Sự ức chế proteasome qua trung gian của bortezomib ảnh hưởng đến các tế bào ung thư bằng nhiều cách, bao gồm nhưng không giới hạn, trong việc thay đổi các protein điều hòa, là những protein điều khiển tiến triển của chu trình tế bào và hoạt hóa yếu tố nhân kappa B (NF-kB). Ức chế proteasome dẫn đến việc ngừng chu trình tế bào và chết tế bào theo chương trình (apoptosis). NF- kB là một yếu tố sao mã mà sự hoạt hóa yếu tố này là cần thiết trên nhiều phương diện của quá trình sinh khối u, bao gồm sự tăng trưởng và sống còn của tế bào, sự hình thành mạch máu, sự tương tác tế bào - tế bào và sự di căn. Trong u tủy xương, bortezomib ảnh hưởng đến khả năng các tế bào u tủy xương tương tác với vi môi trường ở tủy xương.
Các thí nghiệm đã chứng minh rằng bortezomib có độc tính với nhiều loại tế bào ung thư và so với các tế bào bình thường, các tế bào ung thư này nhạy cảm hơn với tác dụng ức chế proteasome dẫn đến chết tế bào theo chương trình. Bortezomib làm giảm sự phát triển khối u in vivo ở nhiều mô hình tiền lâm sàng trên khối u, bao gồm đa u tủy xương.
Dữ liệu từ các mô hình thực nghiệm in vitro, ex-vivo và trên động vật với bortezomib cho thấy rằng thuốc làm tăng biệt hóa và hoạt động của tế bào tạo xương và ức chế chức năng tế bào hủy xương. Những tác dụng này đã được quan sát ở những bệnh nhân đa u tủy xương bị ảnh hưởng bởi một tình trạng hủy xương bệnh lý tiến triển và được điều trị với bortezomib.
Hiệu quả lâm sàng ở bệnh đa u tủy chưa được điều trị trước đó
Một nghiên cứu lâm sàng nhãn mở pha III, tiến cứu, quốc tế, ngẫu nhiên (tỷ lệ 1:1), (MMY-3002 VISTA) trên 682 bệnh nhân đã được tiến hành để xác định liệu VELCADE (1,3 mg/m2 tiêm tĩnh mạch) kết hợp với melphalan (9 mg/m2) và prednisone (60 mg/m2) có cải thiện thời gian đến khi tiến triển bệnh (time to progression - TTP) khi so sánh với melphalan (9 mg/m2) và prednisone (60 mg/m2) ở bệnh nhân đa u tủy không được điều trị trước đó. Điều trị được thực hiện tối đa 9 chu kỳ (khoảng 54 tuần) và được ngừng sớm khi có tiến triển bệnh hoặc độc tính không chấp nhận được. Trung vị tuổi bệnh nhân trong nghiên cứu là 71 tuổi, 50% là nam giới, 88% là người da trắng và trung vị chỉ số thể trạng Karnofsky của bệnh nhân là 80. Các bệnh nhân có u tủy IgG/IgA/chuỗi nhẹ ở 63%/25%/ 8% các trường hợp, trung vị hemoglobin là 105 g/L, và trung vị số lượng tiểu cầu là 221,5 x 109/L. Tỷ lệ bệnh nhân có độ thanh thải creatinine ≤ 30 mL/phút là tương tự nhau (3% ở mỗi nhóm).
Tại thời điểm thực hiện phân tích tạm thời được xác định trước trong đề cương nghiên cứu, tiêu chí chính, thời gian đến khi tiến triển bệnh, đã đạt được và bệnh nhân ở nhóm M+P được đề nghị điều trị với phác đồ Vc+M+P. Trung vị thời gian theo dõi là 16,3 tháng. Báo cáo cập nhật cuối cùng về thời gian sống còn được thực hiện với trung vị thời gian theo dõi là 60,1 tháng. Đã quan sát thấy lợi ích về thời gian sống còn có ý nghĩa thống kê ở nhóm điều trị Vc+M+P (HR = 0,695; p = 0,00043) mặc dù các trị liệu tiếp sau đó bao gồm phác đồ có VELCADE. Trung vị thời gian sống còn của nhóm điều trị Vc+M+P là 56,4 tháng so với 43,1 tháng ở nhóm điều trị M+P. Các kết quả về hiệu quả được trình bày trong Bảng 1.
- xem Bảng 1.

Image from Drug Label Content

Bệnh nhân đủ điều kiện để ghép tế bào gốc
Hai thử nghiệm lâm sàng pha III ngẫu nhiên, nhãn mở, đa trung tâm (IFM- 2005-01, MMY- 3010) được tiến hành để chứng minh hiệu quả và an toàn của VELCADE phối hợp với các thuốc khác trong phác đồ hai và ba thuốc, như là điều trị tấn công trước khi ghép tế bào gốc ở những bệnh nhân đa u tủy chưa được điều trị trước đó.
Trong nghiên cứu IFM- 2005-01 VELCADE kết hợp với dexamethasone [VcDx, n = 240] được so sánh với vincristine – doxorubicin - dexamethasone [VDDx, n = 242]. Bệnh nhân trong nhóm VcDx đã được điều trị 4 chu kỳ 21 ngày, mỗi chu kỳ gồm VELCADE (1,3 mg/m2 dùng đường tĩnh mạch hai lần mỗi tuần vào các ngày 1, 4, 8 và 11) và dexamethasone uống (40 mg/ngày trong các ngày 1 đến 4 và các ngày 9 đến 12, ở các Chu kỳ 1 và 2, và trong các ngày 1 đến 4 trong các Chu kỳ 3 và 4).
Trong các nhóm dùng VDDx và VcDx, tương ứng có 198 (82%) bệnh nhân và 208 (87%) bệnh nhân được ghép tế bào gốc tự thân; phần lớn bệnh nhân đã trải qua một lần ghép. Đặc điểm nhân khẩu học và đặc điểm bệnh lý trước điều trị của bệnh nhân là tương tự nhau giữa các nhóm điều trị. Trung vị tuổi của bệnh nhân trong nghiên cứu là 57 tuổi, 55% là nam giới và 48% bệnh nhân có nguy cơ cao về di truyền tế bào. Trung vị thời gian điều trị là 13 tuần đối với nhóm VDDx và 11 tuần đối với nhóm VcDx. Trung vị số chu kỳ nhận được cho cả hai nhóm là 4 chu kỳ.
Tiêu chí hiệu quả chính của nghiên cứu là tỷ lệ đáp ứng sau điều trị tấn công (CR + nCR). Sự khác biệt có ý nghĩa thống kê về CR + nCR được quan sát thấy có lợi cho nhóm VELCADE kết hợp với dexamethasone. Các tiêu chí hiệu quả phụ bao gồm tỷ lệ đáp ứng sau ghép (CR + nCR, CR + nCR + VGPR + PR), sống không tiến triển bệnh và sống còn toàn bộ. Các kết quả về hiệu quả chính được trình bày trong Bảng 2.
- xem Bảng 2.

Image from Drug Label Content

Trong nghiên cứu MMY-3010 điều trị tấn công bằng VELCADE kết hợp với thalidomide và dexamethasone [VcTDx, n = 130] được so sánh với kết hợp thalidomide- dexamethasone [TDx, n = 127]. Bệnh nhân trong nhóm VcTDx nhận được 6 chu kỳ điều trị 4 tuần, mỗi chu kỳ gồm VELCADE (1,3 mg/m2 dùng hai lần mỗi tuần vào các ngày 1, 4, 8 và 11, sau đó là 17 ngày nghỉ từ ngày 12 đến ngày 28), dexamethasone (40 mg dùng đường uống vào các ngày 1 đến 4 và các ngày 8 đến 11), và thalidomide (dùng đường uống 50 mg mỗi ngày vào các ngày 1 - 14, tăng lên đến 100 mg trong các ngày 15 - 28 và sau đó đến 200 mg mỗi ngày).
105 (81%) bệnh nhân và 78 (61%) bệnh nhân được ghép tế bào gốc tự thân một lần tương ứng trong các nhóm VcTDx và TDx . Đặc điểm nhân khẩu học và bệnh lý trước điều trị của bệnh nhân là tương tự giữa các nhóm điều trị. Bệnh nhân trong nhóm VcTDx và TDx lần lượt có giá trị trung vị tuổi là 57 so với 56 tuổi, 99% so với 98% bệnh nhân là người da trắng, và 58% so với 54% là nam giới. Trong nhóm VcTDx, 12% bệnh nhân được phân loại nguy cơ cao về di truyền tế bào so với 16% bệnh nhân trong nhóm TDx. Trung vị thời gian điều trị là 24,0 tuần và trung vị số chu kỳ điều trị nhận được là 6,0 và nhất quán giữa các nhóm điều trị.
Tiêu chí hiệu quả chính của nghiên cứu là tỷ lệ đáp ứng sau điều trị tấn công và sau ghép (CR + nCR). Sự khác biệt có ý nghĩa thống kê về CR + nCR được quan sát thấy có lợi cho nhóm VELCADE kết hợp với dexamethasone và thalidomide. Các tiêu chí hiệu quả phụ bao gồm sống không tiến triển bệnh và sống còn toàn bộ. Các kết quả về hiệu quả chính được trình bày trong Bảng 3.
- xem Bảng 3.

Image from Drug Label Content

Hiệu quả lâm sàng trong điều trị đa u tủy tái phát hoặc kháng trị
An toàn và hiệu quả của VELCADE (tiêm tĩnh mạch) được đánh giá trong 2 nghiên cứu ở liều khuyến cáo là 1,3 mg/m2: một nghiên cứu pha III ngẫu nhiên so sánh (APEX), so với dexamethasone (Dex), trên 669 bệnh nhân đa u tủy tái phát hoặc kháng trị đã dùng 1 - 3 trị liệu trước đó và một nghiên cứu pha II đơn nhóm trên 202 bệnh nhân bị đa u tủy tái phát và kháng trị, những người đã dùng ít nhất 2 trị liệu trước đó và đang tiến triển bệnh trong liệu trình điều trị gần nhất.
Trong nghiên cứu pha III, điều trị bằng VELCADE đã kéo dài đáng kể thời gian đến khi bệnh tiến triển, thời gian sống còn kéo dài đáng kể và tỷ lệ đáp ứng cao hơn đáng kể so với điều trị bằng dexamethasone (xem Bảng 4), ở tất cả bệnh nhân cũng như ở bệnh nhân dùng 1 trị liệu trước đó. Theo kết quả của một phân tích tạm thời theo kế hoạch, nhóm dexamethasone bị ngừng điều trị theo đề nghị của ủy ban giám sát dữ liệu và tất cả bệnh nhân được phân ngẫu nhiên vào nhóm dùng dexamethasone sau đó được cho dùng VELCADE, bất kể tình trạng bệnh lý. Do sự bắt chéo nhóm sớm này, trung vị thời gian theo dõi sống còn ở bệnh nhân là 8,3 tháng. Cả những bệnh nhân kháng trị với phác đồ trước đó và những người không kháng trị, thời gian sống còn toàn bộ lâu hơn đáng kể và tỷ lệ đáp ứng cao hơn đáng kể ở nhóm VELCADE.
Trong số 669 bệnh nhân tham gia nghiên cứu, 245 (37%) có tuổi từ 65 tuổi trở lên. Các thông số về đáp ứng cũng như TTP vẫn tốt hơn đáng kể ở nhóm VELCADE, không phụ thuộc vào tuổi. Bất kể nồng độ β2- microglobulin ở thời điểm ban đầu, tất cả các thông số về hiệu quả (thời gian đến khi có tiến triển bệnh và sống còn toàn bộ, cũng như tỷ lệ đáp ứng) được cải thiện đáng kể trên nhóm dùng VELCADE.
Trong nhóm kháng trị của một nghiên cứu pha II, các đáp ứng được xác định bởi một hội đồng đánh giá độc lập và tiêu chuẩn xác định đáp ứng là của Nhóm Ghép Tủy Châu Âu (European Bone Marrow Transplant Group). Trung vị thời gian sống còn của tất cả bệnh nhân tham gia nghiên cứu là 17 tháng (trong khoảng <1 đến 36+ tháng). Thời gian sống còn này lớn hơn trung vị thời gian sống còn mà được các nghiên cứu viên lâm sàng cố vấn dự đoán cho một dân số bệnh nhân tương tự từ 6 đến 9 tháng. Bằng cách phân tích đa biến, tỷ lệ đáp ứng là độc lập với thể u tủy, chỉ số toàn trạng, tình trạng mất nhiễm sắc thể số 13, hoặc số lượng hoặc loại trị liệu trước đây. Bệnh nhân đã được điều trị 2 đến 3 phác đồ điều trị trước có tỷ lệ đáp ứng là 32% (10/32) và những bệnh nhân được điều trị trước đó trên 7 phác đồ có tỷ lệ đáp ứng là 31% (21/67).
- xem Bảng 4.

Image from Drug Label Content

Trong một nghiên cứu pha II, những bệnh nhân không có đáp ứng tối ưu với đơn trị liệu bằng VELCADE đã có thể nhận được liều cao dexamethasone kết hợp với VELCADE. Phác đồ này cho phép bệnh nhân dùng dexamethasone nếu họ không có đáp ứng tối ưu với VELCADE. Tổng cộng có 74 bệnh nhân có thể đánh giá được, đã dùng dexamethasone phối hợp với VELCADE. 18 phần trăm bệnh nhân đạt được đáp ứng, hoặc đã có đáp ứng cải thiện [MR (11%) hoặc PR (7%)] với điều trị kết hợp.
Hiệu quả lâm sàng của VELCADE tiêm dưới da ở bệnh nhân u đa tủy tái phát/kháng trị
Trong một nghiên cứu không so sánh kém hơn (non-inferiority study) pha III, nhãn mở, ngẫu nhiên so sánh hiệu quả và an toàn của VELCADE tiêm dưới da với tiêm tĩnh mạch. Nghiên cứu bao gồm 222 bệnh nhân u đa tủy tái phát/kháng trị đã được chọn ngẫu nhiên với tỷ lệ 2:1 để nhận VELCADE 1,3 mg/m2 qua đường tiêm dưới da hoặc tiêm tĩnh mạch trong 8 chu kỳ. Bệnh nhân mà không đạt được đáp ứng tối ưu (thấp hơn đáp ứng hoàn toàn [CR]) với VELCADE đơn trị liệu sau 4 chu kỳ đã được dùng dexamethasone 20 mg mỗi ngày vào ngày dùng VELCADE và ngày sau đó. Bệnh nhân có bệnh lý thần kinh ngoại vi Độ ≥ 2 hoặc số lượng tiểu cầu <50.000/μL tại thời điểm trước điều trị đã bị loại khỏi nghiên cứu. Đã đánh giá đáp ứng trên tổng số 218 bệnh nhân.
Nghiên cứu này đáp ứng tiêu chí chính về tỷ lệ đáp ứng không so sánh kém hơn (CR+PR) sau 4 chu kỳ đơn trị liệu với VELCADE tiêm dưới da và tiêm tĩnh mạch, 42% trong hai nhóm. Hơn nữa, đánh giá tiêu chí hiệu quả liên quan đến đáp ứng thứ phát và thời gian đến khi có biến cố cho thấy kết quả nhất quán đối với tiêm dưới da và tiêm tĩnh mạch (Bảng 5).
- xem Bảng 5.

Image from Drug Label Content

Điều trị VELCADE kết hợp với doxorubicin liposome pegylat hóa (nghiên cứu DOXIL MMY-3001)
Một nghiên cứu pha III ngẫu nhiên, nhóm song song, nhãn mở, đa trung tâm được thực hiện trên 646 bệnh nhân so sánh an toàn và hiệu quả của VELCADE phối hợp doxorubicin liposome pegylate hóa so với VELCADE đơn trị liệu ở bệnh nhân đa u tủy dùng ít nhất 1 trị liệu trước đó và những bệnh nhân không tiến triển trong khi đang dùng trị liệu có anthracycline. Tiêu chí đánh giá hiệu quả chính là TTP, còn các tiêu chí đánh giá hiệu quả phụ là OS và ORR (CR + PR), sử dụng các tiêu chí của Nhóm Ghép Tủy và Máu Châu Âu (European Group for Blood and Marrow Transplantation - EBMT).
Một phân tích tạm thời xác định trước trong đề cương (dựa trên 249 biến cố TTP) đã kích hoạt việc ngừng nghiên cứu sớm trước thời hạn do đạt hiệu quả. Phân tích tạm thời này cho thấy giảm nguy cơ TTP là 45% (khoảng tin cậy 95%, 29- 57%, p <0,0001) đối với những bệnh nhân điều trị VELCADE kết hợp doxorubicin liposome pegylate hóa. Trung vị TTP là 6,5 tháng đối với bệnh nhân đơn trị liệu VELCADE so với 9,3 tháng đối với bệnh nhân trị liệu VELCADE kết hợp doxorubicin liposome pegylate hóa. Các kết quả này, mặc dù chưa hoàn toàn đầy đủ, đã làm nên phân tích cuối cùng xác định trước trong đề cương.
Phân tích cuối cùng về OS được tiến hành sau trung vị thời gian theo dõi là 8,6 năm cho thấy không có sự khác biệt đáng kể về OS giữa hai nhóm điều trị. Trung vị OS là 30,8 tháng (khoảng tin cậy 95%, 25,2- 36,5 tháng) đối với bệnh nhân đơn trị liệu VELCADE và 33,0 tháng (khoảng tin cậy 95%, 28,9 - 37,1 tháng) đối với bệnh nhân trị liệu VELCADE kết hợp doxorubicin liposome pegylate hóa.
Điều trị phối hợp VELCADE với dexamethasone
Do không có bất kỳ so sánh trực tiếp nào giữa VELCADE và VELCADE kết hợp với dexamethasone ở bệnh nhân đa u tủy tiến triển, một phân tích thống kê ghép cặp đã được tiến hành để so sánh kết quả từ nhóm không được phân ngẫu nhiên của VELCADE kết hợp với dexamethasone (nghiên cứu nhãn mở pha II MMY- 2045), với kết quả thu được ở các nhóm dùng đơn trị liệu VELCADE từ các nghiên cứu pha III ngẫu nhiên khác nhau (M34101-039 [APEX] và DOXIL MMY-3001) trong cùng một chỉ định.
Phân tích ghép cặp là một phương pháp thống kê, trong đó các bệnh nhân ở nhóm điều trị (ví dụ như VELCADE phối hợp với dexamethasone) và bệnh nhân trong nhóm so sánh (ví dụ như VELCADE) có đặc điểm tương tự về các yếu tố gây nhiễu bằng cách ghép cặp từng đối tượng nghiên cứu riêng lẻ. Điều này giảm thiểu các tác động của yếu tố gây nhiễu quan sát được khi ước tính hiệu quả điều trị mà sử dụng dữ liệu trên các bệnh nhân không được phân ngẫu nhiên.
Một trăm hai mươi bảy cặp bệnh nhân phù hợp được xác định. Phân tích cho thấy có cải thiện ORR (CR + PR) (tỉ suất chênh 3,769, khoảng tin cậy 95%: 2,045-6,947, p <0,001), PFS (tỷ số nguy cơ 0,511; khoảng tin cậy 95%: 0,309 - 0,845, p = 0,008), TTP (tỷ số nguy cơ 0,385; khoảng tin cậy 95%: 0,212 - 0,698; p = 0,001) đối với VELCADE kết hợp với dexamethasone tốt hơn so với đơn trị liệu VELCADE.
Hiện thông tin còn hạn chế về tái điều trị VELCADE ở bệnh đa u tủy tái phát.
Một nghiên cứu Pha II, MMY- 2036 (RETRIEVE), một nhánh, nhãn mở đã được tiến hành để xác định hiệu quả và an toàn của tái điều trị với VELCADE. Một trăm ba mươi bệnh nhân (≥18 tuổi) bị đa u tủy, những người trước đây đã có ít nhất đáp ứng một phần với phác đồ có VELCADE, đã được tái điều trị khi bệnh tiến triển. Ít nhất 6 tháng sau trị liệu trước đó, VELCADE được bắt đầu ở liều đã dung nạp gần nhất là 1,3 mg/m2 (n = 93) hoặc ≤1,0 mg/m2 (n = 37) và được dùng vào các ngày 1, 4, 8 và 11 mỗi 3 tuần trong tối đa 8 chu kỳ với phác đồ đơn trị liệu hoặc kết hợp với dexamethasone dùng phù hợp theo điều trị chuẩn. Dexamethasone đã được dùng kết hợp với VELCADE cho 83 bệnh nhân trong Chu kỳ 1 và thêm 11 bệnh nhân dùng dexamethasone trong suốt các chu kỳ tái điều trị với VELCADE.
Tiêu chí chính là đáp ứng tốt nhất được xác nhận với việc tái điều trị đánh giá theo tiêu chí của EBMT. Tỷ lệ đáp ứng chung tốt nhất (CR + PR), với tái điều trị ở 130 bệnh nhân là 38,5% (khoảng tin cậy 95%: 30,1; 47,4).
Hiệu quả lâm sàng trên u lympho tế bào vỏ (MCL) chưa được điều trị trước đó
Nghiên cứu LYM 3002 là một nghiên cứu pha III, ngẫu nhiên và nhãn mở, so sánh hiệu quả và an toàn của VELCADE kết hợp rituximab, cyclophosphamide, doxorubicin và prednisone (VcR-CAP; n = 243) so với rituximab, cyclophosphamide, doxorubicin, vincristine và prednisone (R - CHOP; n = 244) ở bệnh nhân người lớn bị MCL chưa được điều trị trước đó (Giai đoạn II, III hoặc IV). Bệnh nhân trong nhóm điều trị VcR-CAP được dùng VELCADE (1,3 mg/m2; vào ngày 1, 4, 8, 11, giai đoạn nghỉ là các ngày 12 - 21), rituximab 375 mg/m2 đường tĩnh mạch vào ngày 1; cyclophosphamide 750 mg/m2 đường tĩnh mạch vào ngày 1; doxorubicin 50 mg/m2 đường tĩnh mạch vào ngày 1; và prednisone 100 mg/m2 dùng đường uống vào ngày 1 đến ngày 5 của chu kỳ điều trị VELCADE 21 ngày. Đối với những bệnh nhân có đáp ứng đầu tiên được ghi nhận ở chu kỳ 6, được điều trị thêm hai chu kỳ.
Tiêu chí đánh giá hiệu quả chính là sống không tiến triển bệnh dựa trên đánh giá của Hội đồng Đánh giá Độc lập (Independent Review Committee -IRC). Các tiêu chí phụ bao gồm thời gian đến khi bệnh tiến triển (TTP), thời gian đến điều trị kháng u lympho tiếp theo (time to next anti-lymphoma treatment - TNT), khoảng thời gian không điều trị (treatment free interval - TFI), tỷ lệ đáp ứng chung (overall response rate - ORR) và tỷ lệ đáp ứng hoàn toàn (complete response -CR/CRu), sống còn toàn bộ (overall survival - OS) và khoảng thời gian đạt đáp ứng.
Đặc điểm nhân khẩu học và bệnh lý trước điều trị nhìn chung là cân bằng giữa hai nhóm điều trị: trung vị tuổi là 66 tuổi, 74% là nam giới, 66% là người da trắng và 32% người Châu Á, 69% bệnh nhân có kết quả chọc hút tủy và/hoặc sinh thiết tủy xương dương tính với MCL, 54% bệnh nhân có Chỉ số Tiên lượng Quốc tế (International Prognostic Index - IPI) ≥ 3, và 76% bệnh nhân ở giai đoạn IV. Thời gian điều trị (trung vị = 17 tuần) và thời gian theo dõi (trung vị = 40 tháng) là tương tự nhau ở cả hai nhóm điều trị. Bệnh nhân ở cả hai nhóm điều trị có trung vị 6 chu kỳ điều trị với 14% đối tượng trong nhóm VcR-CAP và 17% bệnh nhân trong nhóm R-CHOP được điều trị thêm 2 chu kỳ. Phần lớn bệnh nhân ở cả hai nhóm đã hoàn thành điều trị, 80% ở nhóm VcR-CAP và 82% ở nhóm R-CHOP. Các kết quả về hiệu quả được trình bày trong Bảng 6.
- xem Bảng 6.

Image from Drug Label Content

Trung vị của PFS theo đánh giá của nghiên cứu viên là 30,7 tháng trong nhóm VcR-CAP và 16,1 tháng ở nhóm R-CHOP (Tỷ số nguy hại [HR] = 0,51; p <0,001). Đã ghi nhận lợi ích đáng kể có ý nghĩa thống kê (p <0,001) đối với nhóm điều trị VcR-CAP so với nhóm R-CHOP về TTP (trung vị là 30,5 so với 16,1 tháng), TNT (trung vị 44,5 so với 24,8 tháng) và TFI (trung vị 40,6 so với 20,5 tháng). Trung vị khoảng thời gian có đáp ứng hoàn toàn là 42,1 tháng ở nhóm VcR-CAP so với 18 tháng ở nhóm R-CHOP. Khoảng thời gian có đáp ứng chung ở nhóm VcR-CAP dài hơn 21,4 tháng (trung vị là 36,5 tháng so với 15,1 tháng ở nhóm R-CHOP). Với trung vị thời gian theo dõi là 40 tháng, trung vị thời gian sống còn (56,3 tháng trong nhóm R-CHOP và chưa xác định được trong nhóm VcR-CAP) ưu thế cho nhóm VcR-CAP (HR ước tính = 0,80, p = 0,173). Có một xu hướng kéo dài thời gian sống còn ưu thế cho nhóm VcR-CAP; tỷ lệ bệnh nhân sống còn 4 năm ước tính là 53,9% ở nhóm R-CHOP và 64,4% ở nhóm VcR-CAP.
Bệnh nhân bị bệnh bột hóa chuỗi nhẹ (light-chain Amyloidosis – AL) đã được điều trị trước đó
Một nghiên cứu giai đoạn I/II nhãn mở, không ngẫu nhiên được tiến hành để xác định an toàn và hiệu quả của VELCADE ở bệnh nhân trước đó đã điều trị bệnh bột hóa chuỗi nhẹ (AL). Không có lo ngại mới nào về an toàn được quan sát trong quá trình nghiên cứu, và đặc biệt là VELCADE không làm gia tăng tổn thương cơ quan đích (tim, thận và gan). Trong một phân tích thăm dò hiệu quả, tỷ lệ đáp ứng 67,3% (bao gồm tỷ lệ CR 28,6%) được đo bằng đáp ứng huyết học (M-protein) đã được báo cáo ở 49 bệnh nhân có thể đánh giá được và được điều trị với liều tối đa cho phép là 1,6 mg/m2 mỗi tuần và 1,3 mg/m2 hai lần mỗi tuần. Đối với những nhóm liều này, tỷ lệ sống còn sau 1 năm là 88,1%.
Dân số bệnh nhân trẻ em
Cơ quan Quản lý Dược phẩm Châu Âu đã miễn nghĩa vụ nộp các kết quả nghiên cứu của VELCADE trên tất cả các phân nhóm của dân số bệnh nhân trẻ em bị đa u tủy xương và u lympho tế bào vỏ (xem Liều lượng và cách dùng về thông tin sử dụng thuốc trên trẻ em).
Một thử nghiệm pha II, đơn nhánh, nghiên cứu về an toàn và dược động học được tiến hành bởi Nhóm Ung thư Trẻ em (Children’s Oncology Group) đánh giá tác dụng của việc bổ sung bortezomib vào phác đồ hóa trị liệu nhiều thuốc tái tấn công trên bệnh nhân trẻ em và thanh niên bị bệnh lý ác tính dòng lympho (lơ xê mi cấp dòng lympho tế bào tiền B- pre-B cell acute lymphoblastic leukemia -ALL], ALL tế bào T [T-cell ALL], và lơ xê mi dòng lympho tế bào T [T-cell lymphoblastic lymphoma -LL]). Chế độ hóa trị liệu nhiều thuốc tái tấn công được thực hiện theo 3 giai đoạn. VELCADE chỉ được sử dụng trong Giai đoạn 1 và 2 để tránh các độc tính tiềm tàng chồng lấp với các thuốc dùng đồng thời trong Giai đoạn 3.
Đáp ứng hoàn toàn (CR) được đánh giá vào cuối Giai đoạn 1. Trên các bệnh nhân B-ALL tái phát trong vòng 18 tháng sau khi chẩn đoán (n = 27) tỷ lệ CR là 67% (khoảng tin cậy 95%: 46, 84); tỷ lệ sống không có biến cố sau 4 tháng là 44% (khoảng tin cậy 95%: 26, 62). Trên các bệnh nhân B-ALL tái phát trong khoảng 18 - 36 tháng kể từ khi chẩn đoán (n = 33), tỷ lệ CR là 79% (khoảng tin cậy 95%: 61, 91) và tỷ lệ sống không biến cố sau 4 tháng là 73% (khoảng tin cậy 95%: 54, 85). Tỷ lệ CR ở bệnh nhân ALL tế bào T tái phát lần đầu tiên (n = 22) là 68% (khoảng tin cậy 95%: 45, 86) và tỷ lệ sống không có biến cố sau 4 tháng là 67% (khoảng tin cậy 95%: 42, 83). Các dữ liệu hiệu quả đã báo cáo được xem là chưa đủ để kết luận (xem Liều lượng và cách dùng).
Có 140 bệnh nhân bị ALL hoặc LL được tuyển chọn và đánh giá về an toàn; trung vị tuổi là 10 tuổi (khoảng từ 1 đến 26). Không có mối quan ngại mới nào về an toàn được quan sát thấy khi VELCADE được bổ sung vào phác đồ hóa trị liệu cốt lõi tiêu chuẩn điều trị ALL tế bào tiền B (pre-B cell ALL) trên trẻ em. Các phản ứng bất lợi sau đây (Độ ≥ 3) được quan sát thấy tần suất cao hơn trong phác đồ điều trị có chứa VELCADE so với nghiên cứu có đối chứng trước đây, trong đó phác đồ cốt lõi được dùng đơn độc: ở giai đoạn 1 bệnh lý thần kinh cảm giác ngoại biên (3% so với 0%); liệt ruột (2,1% so với 0%); giảm oxy mô (8% so với 2%). Không có thông tin về hậu quả có thể xảy ra hoặc tỷ lệ hồi phục bệnh lý thần kinh ngoại vi đã có trong nghiên cứu này. Tần suất cao hơn cũng được ghi nhận về các nhiễm trùng với giảm bạch cầu Độ ≥ 3 (24% so với 19% ở giai đoạn 1 và 22% so với 11% ở giai đoạn 2), tăng ALT (17% so với 8% ở giai đoạn 2), hạ kali máu (18% so với 6% trong giai đoạn 1 và 21% so với 12% ở giai đoạn 2) và hạ natri máu (12% so với 5% ở giai đoạn 1 và 4% so với 0 ở giai đoạn 2).
Register or sign in to continue
Asia's one-stop resource for medical news, clinical reference and education
Sign up for free
Already a member? Sign in