Velcade

Velcade Dược động học

bortezomib

Nhà sản xuất:

Janssen-Cilag

Nhà phân phối:

DKSH
Thông tin kê toa chi tiết tiếng Việt
Dược động học
Hấp thu
Sau khi tiêm tĩnh mạch nhanh với liều 1,0 mg/m2 và 1,3 mg/m2 cho 11 bệnh nhân đa u tủy và độ thanh thải creatinine lớn hơn 50 mL/phút, nồng độ tối đa trung bình trong huyết tương của liều đầu tiên bortezomib tương ứng là 57 và 112 ng/mL. Trong các liều tiếp theo, nồng độ tối đa trung bình trong huyết tương quan sát thấy dao động từ 67 đến 106 ng/mL đối với liều 1,0 mg/m2 và 89 đến 120 ng/mL đối với liều 1,3 mg/m2.
Sau khi tiêm tĩnh mạch nhanh hoặc tiêm dưới da liều 1,3 mg/m2 cho bệnh nhân đa u tủy (n = 14 cho nhóm tiêm tĩnh mạch, n = 17 cho nhóm tiêm dưới da), tổng nồng độ toàn thân sau liều lặp lại (AUClast) là tương tự khi tiêm tĩnh mạch hoặc tiêm dưới da. Cmax sau khi tiêm dưới da (20,4 ng/mL) là thấp hơn so với tiêm tĩnh mạch (223 ng/mL). Tỷ lệ phân bố biểu kiến trung bình là 0,99 và khoảng tin cậy 90% là 80,18%-122,80%.
Phân bố
Thể tích phân bố trung bình (Vd) của bortezomib dao động từ 1659 L đến 3294 L sau khi tiêm tĩnh mạch đơn liều hoặc liều lặp lại 1,0 mg/m2 hoặc 1,3 mg/m2 cho bệnh nhân đa u tủy. Điều này gợi ý rằng bortezomib phân bố rộng rãi vào các mô ngoại vi. Trong dải nồng độ bortezomib từ 0,01 đến 1,0 μg/mL, sự liên kết protein in vitro trung bình là 82,9% trong huyết tương người. Tỷ lệ bortezomib gắn với protein huyết tương không phụ thuộc vào nồng độ.
Chuyển dạng sinh học
Các nghiên cứu in vitro với microsome gan người và các phân typ enzym cytochrome P450 được biểu hiện cDNA của người cho thấy bortezomib được chuyển hóa chủ yếu bằng cách oxy hoá thông qua các enzyme cytochrome P450, 3A4, 2C19 và 1A2. Con đường chuyển hóa chính là deboron để tạo thành hai chất chuyển hóa deboron hóa mà những chất này sau đó được hydroxyl hóa thành nhiều chất chuyển hóa. Các chất chuyển hóa bortezomib deboron hóa không có hoạt tính ức chế proteasome 26S.
Thải trừ
Thời gian bán thải trung bình (t1/2) của bortezomib khi dùng đa liều dao động từ 40-193 giờ. Bortezomib được thải trừ nhanh hơn sau liều đầu tiên so với những liều tiếp theo. Thanh thải toàn bộ là 102 và 112 L/giờ sau liều đầu tiên lần lượt ở các mức liều 1,0 mg/m2 và 1,3 mg/m2 và dao động tương ứng trong khoảng từ 15 đến 32 L/giờ và 18 đến 32 L/giờ sau khi dùng đa liều 1,0 mg/m2 và 1,3 mg/m2.
Các quần thể bệnh nhân đặc biệt
Suy gan: Tác dụng của tình trạng suy gan đối với dược động học của bortezomib đã được đánh giá trong một nghiên cứu pha I trong chu kỳ điều trị đầu tiên, bao gồm 61 bệnh nhân chủ yếu bị các khối u rắn và có các mức độ suy gan khác nhau ở các liều bortezomib từ 0,5 đến 1,3 mg/m2.
Khi so sánh với những bệnh nhân có chức năng gan bình thường, suy gan nhẹ không làm thay đổi AUC chuẩn hóa theo liều của bortezomib. Tuy nhiên, các giá trị AUC trung bình chuẩn hóa theo liều đã tăng lên khoảng 60% ở những bệnh nhân suy gan mức độ trung bình hoặc nặng. Khuyến cáo liều khởi đầu thấp hơn ở những bệnh nhân suy gan mức độ trung bình hoặc nặng, và những bệnh nhân này cần được theo dõi chặt chẽ (xem Liều lượng và cách dùng, Bảng 12).
Suy thận: Một nghiên cứu dược động học đã được thực hiện ở những bệnh nhân có mức độ suy thận khác nhau, được phân loại theo các giá trị thanh thải creatinine (CrCl) của họ vào các nhóm sau: Bình thường (CrCl ≥ 60 mL/phút/1,73 m2, n = 12), Suy thận nhẹ (CrCL = 40-59 mL/phút/1,73 m2, n = 10), Suy thận trung bình (CrCl = 20-39 mL/phút/1,73 m2, n = 9) và Suy thận nặng (CrCl <20 mL/phút/1,73 m2, n = 3). Một nhóm bệnh nhân thẩm phân thận đã được dùng thuốc sau khi thẩm phân thận cũng được đưa vào nghiên cứu (n = 8). Bệnh nhân được dùng các liều tiêm tĩnh mạch từ 0,7 đến 1,3 mg/m2 của VELCADE hai lần mỗi tuần. Nồng độ của VELCADE (AUC và Cmax chuẩn hóa theo liều) là tương tự giữa tất cả các nhóm (xem Liều lượng và cách dùng).
Tuổi: Dược động học của bortezomib được mô tả sau khi dùng tiêm tĩnh mạch liều 1,3 mg/m2 hai lần mỗi tuần cho 104 bệnh nhân nhi (từ 2-16 tuổi) mắc bệnh lơ xê mi dòng lympho cấp tính (ALL) hoặc bệnh lơ xê mi dòng tủy cấp tính (AML). Dựa trên phân tích dược động học quần thể, thanh thải của bortezomib tăng lên khi diện tích bề mặt cơ thể (BSA) tăng lên. Các giá trị trung bình của thanh thải (%CV) là 7,79 (25%) L/giờ/m2, thể tích phân bố ở trạng thái ổn định là 834 (39%) L/m2 và thời gian bán thải là 100 (44%) giờ. Sau khi hiệu chỉnh theo BSA, các đặc điểm nhân khẩu học khác như tuổi, cân nặng và giới tính không ảnh hưởng đáng kể về mặt lâm sàng đối với thanh thải của bortezomib.
Thanh thải chuẩn hóa theo BSA của bortezomib ở bệnh nhân trẻ em cũng tương tự như ở người lớn.
Register or sign in to continue
Asia's one-stop resource for medical news, clinical reference and education
Sign up for free
Already a member? Sign in