Velcade

Velcade Tác dụng không mong muốn

bortezomib

Nhà sản xuất:

Janssen-Cilag

Nhà phân phối:

DKSH
Thông tin kê toa chi tiết tiếng Việt
Tác dụng không mong muốn
Tóm tắt hồ sơ an toàn
Các phản ứng bất lợi nghiêm trọng ít được báo cáo trong quá trình điều trị bằng VELCADE bao gồm suy tim, hội chứng ly giải khối u, tăng huyết áp động mạch phổi, hội chứng bệnh não tuần hoàn sau có thể hồi phục (posterior reversible encephalopathy syndrome-PRES), rối loạn phổi thâm nhiễm lan tỏa cấp tính và hiếm gặp bệnh lý thần kinh tự động.
Các phản ứng bất lợi thường gặp nhất khi điều trị với VELCADE là buồn nôn, tiêu chảy, táo bón, nôn, mệt mỏi, sốt, giảm tiểu cầu, thiếu máu, giảm bạch cầu trung tính, bệnh lý thần kinh ngoại biên (bao gồm thần kinh cảm giác), đau đầu, dị cảm, giảm ngon miệng, khó thở, phát ban, Herpes zoster và đau cơ.
Bảng tóm tắt phản ứng bất lợi
Đa u tủy
Tác dụng không mong muốn trong Bảng 7 được đánh giá bởi các nghiên cứu viên có ít nhất một mối quan hệ nhân quả ở mức có thể hoặc có khả năng xảy ra với VELCADE. Những phản ứng bất lợi này dựa trên một bộ dữ liệu tích hợp trên 5476 bệnh nhân, trong đó 3996 bệnh nhân được điều trị bằng VELCADE với liều 1,3 mg/m2 và được đưa vào Bảng 7.
Nhìn chung, VELCADE được dùng để điều trị đa u tủy trên 3974 bệnh nhân.
Phản ứng bất lợi được liệt kê dưới đây theo hệ cơ quan và nhóm tần suất. Các tần suất được định nghĩa là: Rất thường gặp (≥1/10); thường gặp (≥1/100 đến <1/10); ít gặp (≥ 1/1.000 đến <1/100); hiếm gặp (≥1/10.000 đến <1/1.000); rất hiếm gặp (<1/10.000); chưa biết (không thể ước lượng tần suất từ dữ liệu sẵn có). Trong mỗi nhóm tần suất, tác dụng không mong muốn được trình bày theo thứ tự giảm dần về mức độ nghiêm trọng. Bảng 13a & 13b đã được tạo ra dựa trên phiên bản 14.1 của MedDRA. Các phản ứng bất lợi xuất hiện trong giai đoạn sau khi thuốc lưu hành mà không gặp trong các thử nghiệm lâm sàng cũng được đưa vào.
- xem Bảng 13a & 13b.

Image from Drug Label Content


Image from Drug Label Content

U lympho tế bào vỏ (MCL)
Hồ sơ an toàn của VELCADE trên 240 bệnh nhân MCL điều trị bằng VELCADE với liều 1,3 mg/m2 phối hợp với rituximab, cyclophosphamide, doxorubicin và prednisone (phác đồ VcR-CAP) so với 242 bệnh nhân điều trị bằng rituximab, cyclophosphamide, doxorubicin, vincristine, và prednisone [phác đồ R-CHOP] tương đối nhất quán những gì được quan sát thấy ở bệnh nhân đa u tủy với những khác biệt chính được mô tả dưới đây. Các phản ứng bất lợi bổ sung được xác định là có liên quan đến việc sử dụng liệu pháp kết hợp (VcR-CAP) là nhiễm virus viêm gan B (<1%) và thiếu máu cục bộ cơ tim (1,3%). Tần suất tương tự của các biến cố này ở cả hai nhóm điều trị, chỉ ra rằng các phản ứng bất lợi này không chỉ do VELCADE. Sự khác biệt đáng chú ý trong nhóm bệnh nhân MCL so với các bệnh nhân trong các nghiên cứu đa u tủy là tần suất xuất hiện các phản ứng bất lợi về huyết học cao hơn ≥ 5% (giảm bạch cầu trung tính, giảm tiểu cầu, giảm bạch cầu, thiếu máu, giảm bạch cầu lympho), bệnh thần kinh cảm giác ngoại biên, tăng huyết áp, sốt, viêm phổi, viêm miệng, và rối loạn tóc/lông.
Các phản ứng bất lợi được xác định có tần suất mắc ≥1%, tương tự hoặc cao hơn ở nhóm VcR-CAP và ít nhất có mối quan hệ nhân quả ở mức có thể hoặc có khả năng với các thành phần của nhóm VcR-CAP, được liệt kê trong Bảng 8. Bảng này cũng bao gồm phản ứng bất lợi của thuốc được xác định trong nhóm VcR-CAP mà đã được các nghiên cứu viên đánh giá là có ít nhất một mối quan hệ nhân quả ở mức có thể hoặc có khả năng với VELCADE dựa trên dữ liệu lịch sử trong các nghiên cứu đa u tủy.
Phản ứng bất lợi được liệt kê dưới đây theo hệ cơ quan và nhóm tần suất. Các tần suất được định nghĩa là: Rất thường gặp (≥1/10); thường gặp (≥1/100 đến <1/10); ít gặp (≥1/1.000 đến <1/100); hiếm gặp (≥1/10.000 đến <1/1.000); rất hiếm gặp (<1/10.000), chưa biết (không thể ước lượng tần suất từ dữ liệu sẵn có). Trong mỗi nhóm tần suất, tác dụng không mong muốn được trình bày theo thứ tự giảm dần về mức độ nghiêm trọng. Bảng 14 đã được tạo ra dựa trên phiên bản 16 của MedDRA.
- xem Bảng 14.

Image from Drug Label Content

Mô tả một số phản ứng bất lợi
Tái hoạt hóa virus Herpes zoster
Đa u tủy: Đã dùng thuốc kháng virus dự phòng cho 26% bệnh nhân trong nhóm Vc+M+P. Tỷ lệ mắc Herpes zoster trong số bệnh nhân ở nhóm điều trị Vc+M+P là 17% đối với bệnh nhân không điều trị dự phòng bằng thuốc kháng virus so với 3% đối với bệnh nhân được điều trị dự phòng bằng thuốc kháng virus.
U lympho tế bào vỏ: Dự phòng bằng thuốc kháng virus được dùng cho 137 trong số 240 bệnh nhân (57%) trong nhóm VcR-CAP. Tỷ lệ mắc Herpes zoster trong số các bệnh nhân trong nhóm VcR-CAP là 10,7% đối với bệnh nhân không điều trị dự phòng bằng thuốc kháng virus so với 3,6% đối với bệnh nhân điều trị dự phòng bằng thuốc kháng virus (xem Cảnh báo và thận trọng).
Tái hoạt hóa và nhiễm virus viêm gan B (HBV)
U lympho tế bào vỏ: Nhiễm HBV với kết cục tử vong xuất hiện ở 0,8% (n=2) bệnh nhân trong nhóm điều trị không dùng VELCADE (rituximab, cyclophosphamide, doxorubicin, vincristine, prednisone; R-CHOP) và 0,4% (n = 1) các bệnh nhân dùng VELCADE phối hợp với rituximab, cyclophosphamide, doxorubicin, và prednisone (VcR-CAP). Tỷ lệ chung nhiễm virus viêm gan B cũng tương tự ở những bệnh nhân được điều trị bằng VcR-CAP hoặc với R-CHOP (lần lượt là 0,8% so với 1,2%).
Bệnh lý thần kinh ngoại biên trong phác đồ phối hợp
Đa u tủy: Trong các thử nghiệm với VELCADE được điều trị như là một thuốc điều trị tấn công phối hợp với dexamethasone (nghiên cứu IFM-2005-01) và dexamethasone-thalidomide (nghiên cứu MMY-3010), tỷ lệ mắc bệnh lý thần kinh ngoại biên trong phác đồ phối hợp được trình bày trong Bảng 15:
- xem Bảng 15.

Image from Drug Label Content

U lympho tế bào vỏ: Trong nghiên cứu LYM-3002, VELCADE được dùng với rituximab, cyclophosphamide, doxorubicin và prednisone (R-CAP), tỷ lệ mắc bệnh lý thần kinh ngoại biên trong phác đồ phối hợp được trình bày trong Bảng 16:
- xem Bảng 16.

Image from Drug Label Content

Bệnh nhân MCL cao tuổi
42,9% bệnh nhân trong nhóm VcR-CAP trong độ tuổi 65-74 tuổi và 10,4% bệnh nhân ≥ 75 tuổi. Mặc dù ở bệnh nhân ≥ 75 tuổi, cả VcR-CAP và R-CHOP đều kém dung nạp hơn, tỷ lệ biến cố bất lợi nghiêm trọng ở nhóm VcR-CAP là 68%, so với 42% ở nhóm R-CHOP.
Khác biệt đáng chú ý trong dữ liệu an toàn của VELCADE tiêm dưới da so với tiêm tĩnh mạch khi đơn trị liệu
Trong một nghiên cứu pha III, những bệnh nhân dùng VELCADE tiêm dưới da so với tiêm tĩnh mạch, tỷ lệ chung về phản ứng ngoại ý liên quan đến điều trị ở Độ ≥ 3 là thấp hơn 13%, và tỷ lệ ngừng điều trị VELCADE là thấp hơn 5%. Tỷ lệ chung về tiêu chảy, đau dạ dày ruột và đau bụng, suy nhược cơ thể, nhiễm trùng đường hô hấp trên và bệnh lý thần kinh ngoại biên là thấp hơn 12% - 15% ở nhóm tiêm dưới da so với nhóm tiêm tĩnh mạch. Ngoài ra tỷ lệ bệnh lý thần kinh ngoại biên ở Độ ≥ 3 là thấp hơn 10% và tỷ lệ ngừng thuốc do bệnh lý thần kinh ngoại biên thấp hơn 8% ở nhóm tiêm dưới da so với nhóm tiêm tĩnh mạch.
6% bệnh nhân có phản ứng bất lợi tại chỗ tiêm dưới da, phần lớn là đỏ da. Các trường hợp hồi phục trung bình trong 6 ngày, cần điều chỉnh liều trên hai bệnh nhân. Hai bệnh nhân (1%) có phản ứng nghiêm trọng; 1 trường hợp bị ngứa và 1 trường hợp đỏ da.
Tỉ lệ tử vong khi điều trị ở nhóm tiêm dưới da là 5% và ở nhóm tiêm tĩnh mạch là 7%. Tỷ lệ tử vong do "bệnh tiến triển" ở nhóm tiêm dưới da là 18% và ở nhóm tiêm tĩnh mạch là 9%.
Điều trị lại cho bệnh nhân đa u tuỷ tái phát
Trong một nghiên cứu với VELCADE được điều trị lại cho 130 bệnh nhân đa u tủy tái phát, những người trước đây có ít nhất đáp ứng một phần với phác đồ có chứa VELCADE, các biến cố bất lợi thường gặp nhất ở tất cả các mức độ, xảy ra ít nhất ở 25% số bệnh nhân là giảm tiểu cầu (55%), bệnh lý thần kinh (40%), thiếu máu (37%), tiêu chảy (35%) và táo bón (28%). Bệnh lý thần kinh ngoại biên tất cả mức độ và độ ≥ 3 được ghi nhận lần lượt ở 40% và 8,5% số bệnh nhân.
Báo cáo các trường hợp nghi ngờ phản ứng bất lợi
Báo cáo các trường hợp nghi ngờ phản ứng bất lợi sau khi cấp phép lưu hành sản phẩm là rất quan trọng. Nó cho phép tiếp tục theo dõi cân bằng lợi ích/nguy cơ của sản phẩm. Các cán bộ y tế được yêu cầu báo cáo bất kỳ trường hợp nghi ngờ phản ứng bất lợi nào thông qua hệ thống báo cáo quốc gia.
Register or sign in to continue
Asia's one-stop resource for medical news, clinical reference and education
Sign up for free
Already a member? Sign in