Velcade

Velcade Cảnh báo

bortezomib

Nhà sản xuất:

Janssen-Cilag

Nhà phân phối:

DKSH
Thông tin kê toa chi tiết tiếng Việt
Cảnh báo
Khi sử dụng VELCADE kết hợp với các thuốc khác, phải tham khảo Tóm tắt Đặc tính sản phẩm của các thuốc này trước khi bắt đầu điều trị bằng VELCADE. Khi sử dụng thalidomide, cần đặc biệt chú ý tới xét nghiệm có thai và cần sử dụng các biện pháp ngừa thai (xem Sử dụng ở phụ nữ có thai và cho con bú).
Tiêm vào khoang dưới nhện của tủy sống
Đã có các trường hợp tử vong do vô ý sử dụng VELCADE tiêm vào khoang dưới nhện của tủy sống. VELCADE 1 mg bột pha dung dịch tiêm chỉ dùng cho đường tĩnh mạch, trong khi VELCADE 3,5 mg bột pha dung dịch tiêm dùng cho tiêm tĩnh mạch hoặc tiêm dưới da. Không tiêm VELCADE vào khoang dưới nhện của tủy sống.
Độc tính trên đường tiêu hóa
Độc tính trên đường tiêu hóa, bao gồm buồn nôn, tiêu chảy, nôn và táo bón rất phổ biến khi điều trị bằng VELCADE. Các trường hợp liệt ruột đã được báo cáo là ít gặp (xem Tác dụng không mong muốn). Do đó, những bệnh nhân bị táo bón cần được theo dõi chặt chẽ.
Độc tính huyết học
Điều trị VELCADE rất thường gặp các độc tính huyết học (giảm tiểu cầu, giảm bạch cầu trung tính và thiếu máu). Trong những nghiên cứu trên bệnh nhân đa u tủy tái phát được điều trị bằng VELCADE và ở bệnh nhân MCL chưa được điều trị trước đó khi được điều trị bằng phác đồ phối hợp VELCADE với rituximab, cyclophosphamide, doxorubicin và prednisone (VcR-CAP), một trong những độc tính huyết học phổ biến nhất là giảm tiểu cầu thoáng qua. Tiểu cầu ở mức thấp nhất vào ngày thứ 11 của mỗi chu kỳ điều trị VELCADE và thường hồi phục đến ngưỡng ban đầu trước điều trị vào chu kỳ kế tiếp. Không có bằng chứng về giảm tiểu cầu tích lũy. Số lượng tiểu cầu trung bình lúc thấp nhất đo được là khoảng 40% so với trước điều trị trong các nghiên cứu đa u tủy sử dụng đơn trị liệu và bằng 50% trong nghiên cứu MCL. Ở bệnh nhân đa u tủy tiến triển, mức độ nặng của tình trạng giảm tiểu cầu có liên quan đến số lượng tiểu cầu trước khi điều trị: với số lượng tiểu cầu ban đầu <75.000/μL, 90% trong số 21 bệnh nhân có số lượng ≤25.000/μL trong thời gian nghiên cứu, bao gồm 14% <10.000/μL; ngược lại, với số lượng tiểu cầu ban đầu >75.000/μL, chỉ có 14% trong số 309 bệnh nhân có số lượng ≤25.000/μL trong thời gian nghiên cứu.
Ở những bệnh nhân MCL (nghiên cứu LYM-3002), tần suất giảm tiểu cầu Độ ≥ 3 ở nhóm điều trị VELCADE (VcR-CAP) cao hơn so với nhóm điều trị không có VELCADE (rituximab, cyclophosphamide, doxorubicin, vincristine, và prednisone [R-CHOP]) (56,7% so với 5,8%). Hai nhóm điều trị tương tự nhau về tần suất chung biến cố xuất huyết ở tất cả các mức độ (6,3% ở nhóm VcR-CAP và 5,0% ở nhóm R-CHOP) cũng như các biến cố xuất huyết Độ 3 và cao hơn (VcR-CAP: 4 bệnh nhân [ 1,7%], R-CHOP: 3 bệnh nhân [1,2%]). Trong nhóm VcR-CAP, 22,5% bệnh nhân được truyền tiểu cầu so với 2,9% bệnh nhân trong nhóm R-CHOP.
Xuất huyết tiêu hóa và nội sọ đã được báo cáo có liên quan đến điều trị bằng VELCADE. Do đó, số lượng tiểu cầu phải được theo dõi trước mỗi liều VELCADE. Cần tạm ngừng điều trị VELCADE khi số lượng tiểu cầu <25.000/μL, hoặc trong trường hợp kết hợp với melphalan và prednisone, khi số lượng tiểu cầu là ≤30.000/μL (xem Liều lượng và cách dùng). Lợi ích tiềm tàng của điều trị cần được cân nhắc kỹ lưỡng trước những nguy cơ, đặc biệt trong trường hợp giảm tiểu cầu từ trung bình đến nặng và có các yếu tố nguy cơ chảy máu.
Thường xuyên theo dõi công thức máu toàn phần (Complete blood counts - CBC) có phân biệt các loại và bao gồm đếm số lượng tiểu cầu trong suốt quá trình điều trị với VELCADE. Có thể xem xét truyền tiểu cầu khi thích hợp về mặt lâm sàng (xem Liều lượng và cách dùng).
Ở những bệnh nhân MCL, đã thấy có giảm bạch cầu trung tính thoáng qua có thể hồi phục giữa các chu kỳ, không có bằng chứng của giảm bạch cầu trung tính tích lũy. Bạch cầu trung tính thấp nhất vào Ngày 11 của mỗi chu kỳ điều trị VELCADE và thường hồi phục đến mức ban đầu vào chu kỳ kế tiếp. Trong nghiên cứu LYM-3002, điều trị hỗ trợ bằng yếu tố kích thích bạch cầu hạt đã được dùng cho 78% bệnh nhân trong nhóm VcR-CAP và 61% ở bệnh nhân nhóm R-CHOP. Vì bệnh nhân giảm bạch cầu trung tính có nguy cơ gia tăng bị mắc nhiễm trùng nên cần theo dõi các dấu hiệu và triệu chứng của nhiễm trùng và điều trị kịp thời. Các yếu tố kích thích bạch cầu hạt có thể được sử dụng cho độc tính huyết học phù hợp với thực hành chuẩn tại cơ sở/địa phương. Cần xem xét sử dụng dự phòng các yếu tố kích thích bạch cầu hạt trong trường hợp lặp lại việc trì hoãn trong chu kỳ dùng thuốc (xem Liều lượng và cách dùng).
Tái hoạt virus Herpes zoster
Dự phòng bằng thuốc kháng virus được khuyến cáo ở những bệnh nhân đang điều trị bằng VELCADE.
Trong nghiên cứu pha III ở bệnh nhân đa u tủy chưa được điều trị trước đó, tỉ lệ chung về tái hoạt Herpes zoster là thường gặp hơn ở nhóm bệnh nhân điều trị bằng VELCADE + Melphalan + Prednisone so với nhóm Melphalan + Prednisone (tương ứng là 14% so với 4%).
Ở những bệnh nhân MCL (nghiên cứu LYM-3002), tỷ lệ mắc Herpes zoster là 6,7% ở nhóm VcR-CAP và 1,2% ở nhóm R-CHOP (xem Tác dụng không mong muốn).
Nhiễm trùng và tái hoạt virus viêm gan B (HBV)
Khi dùng rituximab kết hợp với VELCADE, phải luôn kiểm tra HBV ở những bệnh nhân có nguy cơ nhiễm HBV trước khi bắt đầu điều trị. Những người mang virus viêm gan B và những bệnh nhân có tiền sử bị viêm gan virus B phải được theo dõi chặt chẽ về các dấu hiệu lâm sàng và xét nghiệm của tình trạng nhiễm HBV hoạt động, trong và sau khi điều trị phối hợp rituximab với VELCADE. Nên xem xét điều trị dự phòng thuốc kháng virus. Tham khảo Tóm tắt Đặc tính sản phẩm của rituximab để biết thêm thông tin.
Bệnh não chất trắng đa ổ tiến triển (PML - progressive multifocalleukoencephalopathy)
Đã có báo cáo về một số rất hiếm các trường hợp nhiễm virus John Cunningham (JC) mà không rõ nguyên nhân, dẫn đến PML và tử vong, ở những bệnh nhân điều trị bằng VELCADE. Bệnh nhân được chẩn đoán PML đã điều trị ức chế miễn dịch trước đó hoặc đồng thời. Hầu hết các trường hợp PML được chẩn đoán trong vòng 12 tháng kể từ lần đầu tiên dùng VELCADE. Bệnh nhân cần được theo dõi thường xuyên định kỳ về bất kỳ triệu chứng hoặc dấu hiệu thần kinh mới hoặc bị trầm trọng hơn mà có thể gợi ý bị PML, như là một phần của chẩn đoán phân biệt với các vấn đề trên thần kinh trung ương. Nếu chẩn đoán nghi ngờ PML, bệnh nhân nên được chuyển đến một chuyên gia về PML và nên bắt đầu tiến hành các biện pháp chẩn đoán thích hợp đối với PML. Ngừng VELCADE nếu PML được chẩn đoán.
Bệnh lý thần kinh ngoại biên
Bệnh lý thần kinh ngoại biên, chủ yếu là bệnh lý thần kinh cảm giác, rất thường gặp khi điều trị bằng VELCADE. Tuy nhiên, đã có báo cáo về các trường hợp bệnh lý thần kinh vận động nặng có hoặc không kèm theo bệnh lý thần kinh cảm giác ngoại biên. Tỷ lệ mắc bệnh lý thần kinh ngoại biên tăng lên trong giai đoạn đầu điều trị và đã được quan sát thấy đạt đỉnh điểm trong chu kỳ 5.
Khuyến cáo bệnh nhân nên được theo dõi cẩn thận về các triệu chứng của bệnh lý thần kinh như cảm giác bỏng rát, chứng tăng cảm giác, giảm cảm giác, dị cảm, khó chịu, đau thần kinh hoặc cảm giác yếu.
Trong nghiên cứu giai đoạn III so sánh VELCADE tiêm tĩnh mạch với tiêm dưới da, tỉ lệ mắc phải các biến cố bệnh lý thần kinh ngoại biên Độ ≥ 2 là 24% ở nhóm dùng đường tiêm dưới da và 41% ở nhóm dùng đường tiêm tĩnh mạch (p = 0,0124). Bệnh lý thần kinh ngoại biên Độ ≥ 3 xảy ra ở 6% bệnh nhân trong nhóm tiêm dưới da, so với 16% trong nhóm tiêm tĩnh mạch (p = 0,0264). Tỉ lệ bệnh lý thần kinh ngoại biên ở mọi mức độ khi dùngVELCADE đường tiêm tĩnh mạch trong các nghiên cứu trước đây đều được ghi nhận thấp hơn so với nghiên cứu MMY-3021.
Bệnh nhân mới bị bệnh lý thần kinh ngoại biên hoặc bệnh tiến triển xấu thì nên được đánh giá về thần kinh và có thể cần thay đổi liều hoặc đường dùng VELCADE thành tiêm dưới da (xem Liều lượng và cách dùng). Bệnh lý thần kinh đã được điều trị bằng chăm sóc hỗ trợ và các liệu pháp khác.
Cần cân nhắc theo dõi sớm và thường xuyên các triệu chứng của bệnh lý thần kinh liên quan đến điều trị với đánh giá về thần kinh ở các bệnh nhân dùng VELCADE kết hợp với các thuốc được biết là có liên quan đến bệnh lý thần kinh (ví dụ như thalidomide) và cần phải cân nhắc giảm liều phù hợp hoặc ngừng thuốc.
Ngoài bệnh lý thần kinh ngoại biên, có thể có sự góp phần của bệnh lý thần kinh tự động vào một số phản ứng bất lợi như hạ huyết áp tư thế và táo bón nặng kèm theo liệt ruột. Thông tin về bệnh lý thần kinh tự động và sự liên quan của nó đối với những tác dụng không mong muốn này còn hạn chế.
Co giật
Co giật đã được báo cáo ít gặp ở những bệnh nhân không có tiền sử cơn động kinh hoặc co giật trước đó. Cần lưu ý đặc biệt khi điều trị bệnh nhân có bất kỳ yếu tố nguy cơ co giật nào.
Hạ huyết áp
Điều trị VELCADE thường liên quan đến hạ huyết áp thế đứng/tư thế. Hầu hết phản ứng bất lợi có bản chất từ nhẹ đến trung bình và được quan sát thấy trong suốt quá trình điều trị. Bệnh nhân xuất hiện hạ huyết áp tư thế khi đang dùng VELCADE (tiêm tĩnh mạch) đã không có bằng chứng bị hạ huyết áp tư thế trước khi điều trị bằng VELCADE. Hầu hết bệnh nhân bị hạ huyết áp tư thế đều cần điều trị. Một số ít bệnh nhân bị hạ huyết áp tư thế đã có biến cố ngất. Hạ huyết áp thế đứng/tư thế không liên quan ngay đến việc truyền nhanh VELCADE. Cơ chế của biến cố này chưa được biết, mặc dù một phần có thể là do bệnh lý thần kinh tự động. Bệnh lý thần kinh tự động có thể liên quan đến bortezomib hoặc bortezomib có thể làm trầm trọng thêm một tình trạng nền như bệnh lý thần kinh do tiểu đường hoặc bệnh lý thần kinh thoái hóa bột (amyloidotic neuropathy). Cần thận trọng khi điều trị cho bệnh nhân có tiền sử ngất khi dùng các thuốc có liên quan đến hạ huyết áp; hoặc những người bị mất nước do tiêu chảy tái phát hoặc nôn. Điều trị hạ huyết áp thế đứng/tư thế có thể bao gồm điều chỉnh các thuốc điều trị tăng huyết áp, bù nước hoặc dùng các thuốc nhóm mineralocorticosteroid và/hoặc các thuốc giống giao cảm. Bệnh nhân cần được hướng dẫn để đi khám nếu họ gặp các triệu chứng chóng mặt, choáng váng hoặc ngất xỉu.
Hội chứng bệnh não tuần hoàn sau có hồi phục (Posterior Reversible Encephalopathy Syndrome -PRES)
Đã có báo cáo về PRES ở những bệnh nhân dùng VELCADE. PRES là một bệnh lý thần kinh hiếm gặp, thường hồi phục, tiến triển nhanh, có thể biểu hiện với co giật, tăng huyết áp, đau đầu, ngủ lịm, lú lẫn, mù lòa, và các rối loạn thị giác và thần kinh khác. Chẩn đoán hình ảnh não, thường dùng nhất, là chụp cộng hưởng từ (MRI), được sử dụng để chẩn đoán xác định. Ở bệnh nhân đang có PRES, nên ngừng dùng VELCADE.
Suy tim
Suy tim sung huyết cấp tính hoặc cơn kịch phát, và/hoặc khởi phát mới tình trạng giảm phân suất tống máu thất trái đã được báo cáo trong quá trình điều trị bortezomib. Giữ nước có thể là một yếu tố tiền triệu cho các dấu hiệu và triệu chứng của suy tim. Bệnh nhân có các yếu tố nguy cơ hoặc đang có bệnh tim nên được theo dõi chặt chẽ.
Thăm dò điện tim
Đã có những trường hợp riêng lẻ kéo dài khoảng QT trong các nghiên cứu lâm sàng, mối quan hệ nhân quả chưa được thiết lập.
Rối loạn hô hấp
Hiếm có báo cáo về bệnh phổi thâm nhiễm lan tỏa cấp tính không rõ nguyên nhân, như bệnh viêm phế nang (pneumonitis), viêm phổi kẽ, thâm nhiễm phổi, và hội chứng suy hô hấp cấp (ARDS) ở bệnh nhân đang dùng VELCADE (xem Tác dụng không mong muốn). Một số biến cố này đã gây tử vong. Khuyến cáo chụp X quang phổi trước khi điều trị để làm cơ sở ban đầu đánh giá những thay đổi tiềm tàng ở phổi sau điều trị.
Trong trường hợp có các triệu chứng ở phổi mới xuất hiện hoặc trở nên trầm trọng hơn (ví dụ, ho, khó thở), cần tiến hành đánh giá chẩn đoán ngay và bệnh nhân được điều trị thích hợp. Tỷ số lợi ích/nguy cơ cần được xem xét trước khi tiếp tục điều trị bằng VELCADE.
Trong một thử nghiệm lâm sàng, hai bệnh nhân (một trong số 2 bệnh nhân) dùng cytarabine liều cao (2 g/m2/ngày) bằng cách truyền liên tục trong 24 giờ với daunorubicin và VELCADE để điều trị bệnh bạch cầu cấp dòng tủy tái phát đã tử vong do ARDS trong giai đoạn đầu của quá trình điều trị, và nghiên cứu đã bị ngừng. Vì vậy, không khuyến cáo phác đồ cụ thể này với việc dùng đồng thời liều cao cytarabine (2 g/m2/ngày) bằng cách truyền liên tục trong 24 giờ.
Suy thận
Các biến chứng trên thận thường xảy ra ở bệnh nhân đa u tủy. Bệnh nhân suy thận cần được theo dõi chặt chẽ (xem Liều lượng và cách dùngDược động học).
Suy gan
Bortezomib được chuyển hóa bởi các enzym gan. Nồng độ bortezomib tăng ở những bệnh nhân suy gan trung bình hoặc nặng; những bệnh nhân này nên giảm liều điều trị của VELCADE và theo dõi chặt chẽ về độc tính (xem Liều lượng và cách dùngDược động học).
Phản ứng trên gan
Các trường hợp hiếm gặp bị suy gan đã được báo cáo ở bệnh nhân dùng VELCADE và các thuốc dùng đồng thời với các tình trạng bệnh lý nền nghiêm trọng. Các phản ứng khác của gan được báo cáo bao gồm tăng các enzym gan, tăng bilirubin máu, và viêm gan. Những thay đổi này có thể hồi phục khi ngừng dùng bortezomib (xem Tác dụng không mong muốn).
Hội chứng ly giải khối u
Do bortezomib là một tác nhân gây độc tế bào và có thể nhanh chóng tiêu diệt các tế bào ác tính và tế bào MCL, nên có thể xảy ra các biến chứng của hội chứng ly giải khối u. Bệnh nhân có nguy cơ hội chứng ly giải khối u là những người có khối u lớn/nhiều trước khi điều trị. Những bệnh nhân này nên được theo dõi chặt chẽ và áp dụng các biện pháp phòng ngừa thích hợp.
Các thuốc dùng đồng thời
Bệnh nhân nên được theo dõi chặt chẽ khi dùng bortezomib kết hợp với các thuốc ức chế CYP3A4 mạnh. Cần thận trọng khi phối hợp bortezomib với các cơ chất của CYP3A4 hoặc CYP2C19 (xem Tương tác).
Cần xác nhận chức năng gan bình thường và cần thận trọng khi dùng thuốc ở những bệnh nhân đang dùng thuốc hạ đường huyết đường uống (xem Tương tác).
Phản ứng tiềm tàng qua trung gian phức hợp miễn dịch
Các phản ứng tiềm tàng qua trung gian phức hợp miễn dịch, như phản ứng kiểu bệnh huyết thanh, viêm đa khớp với phát ban và viêm thận cầu thận tăng sinh đã được báo cáo ít gặp. Nên ngừng bortezomib nếu phản ứng nghiêm trọng xảy ra.
Ảnh hưởng trên khả năng lái xe và vận hành máy móc
VELCADE có thể gây ảnh hưởng trung bình đến khả năng lái xe và sử dụng máy móc. VELCADE có thể gây ra mệt mỏi với tần suất rất thường gặp, chóng mặt với tần suất thường gặp, ngất với tần suất không thường gặp, hạ huyết áp tư thế/ hạ huyết áp thế đứng hoặc nhìn mờ với tần suất thường gặp. Do đó, bệnh nhân phải thận trọng khi lái xe hoặc sử dụng máy móc và cần được khuyên không lái xe hoặc vận hành máy móc nếu gặp các triệu chứng này (xem Tác dụng không mong muốn).
Register or sign in to continue
Asia's one-stop resource for medical news, clinical reference and education
Sign up for free
Already a member? Sign in