Zopistad

Zopistad

zopiclone

Nhà sản xuất:

Stellapharm

Nhà phân phối:

Khuong Duy
Thông tin kê toa chi tiết tiếng Việt
Thành phần
Mỗi viên: Zopiclone 7,5 mg.
Mô tả
Tá dược: Lactose monohydrat, calci hydrogen phosphat dihydrat, tinh bột tiền gelatin hóa, croscarmellose natri, magnesi stearat, hypromellose, titan dioxyd.
Dạng bào chế: Viên nén bao phim.
Viên nén tròn, bao phim màu trắng, hai mặt khum, một mặt khắc vạch và một mặt trơn. Viên có thể bẻ đôi.
Dược lực học
Nhóm dược lý: Thuốc gây ngủ và an thần; các thuốc liên quan đến benzodiazepine.
Mã ATC: N05CF01.
Cơ chế hoạt động
Zopiclone là một dẫn chất của cyclopyrrolone có tác dụng an thần gây ngủ. Thuốc tạo giấc ngủ khởi đầu nhanh và duy trì giấc ngủ sóng chậm mà không làm giảm tổng thời gian giấc ngủ chuyển động mắt nhanh (REM). Các tác động buồn ngủ còn sót lại vào sáng hôm sau không đáng kể. Các đặc tính dược lý của zopiclone bao gồm tác dụng gây ngủ, an thần, giải lo âu, chống co giật và giãn cơ. Zopiclone có ái lực cao và chủ vận chuyên biệt đối với các thụ thể trung tâm thuộc phức hợp thụ thể ‘GABA’ giúp điều hòa sự mở kênh ion chloride. Tuy nhiên, zopiclone và các thuốc khác thuộc nhóm cyclopyrrolone gắn tại vị trí khác với nhóm benzodiazepine và gây ra sự thay đổi các cấu hình khác nhau trong phức hợp thụ thể.
Dược động học
Hấp thu
Zopiclone được hấp thu nhanh. Nồng độ đỉnh đạt được trong vòng 1,5 - 2 giờ, vào khoảng 30 ng/mL và 60 ng/mL sau khi sử dụng tương ứng 3,75 mg và 7,5 mg zopiclone. Quá trình hấp thu không bị ảnh hưởng bởi giới tính, thức ăn hay liều lặp lại.
Phân bố
Zopiclone được phân bố nhanh từ các khoang mạch máu vào mô. Khả năng gắn kết của thuốc với protein huyết tương thấp (khoảng 45%) và không bão hòa. Có rất ít nguy cơ xảy ra tương tác thuốc do cạnh tranh vị trí gắn với protein huyết tương. Thể tích phân bố của thuốc từ 91,8 - 104,6 L.
Trong khoảng liều 3,75 - 15 mg, độ thanh thải trong huyết tương không phụ thuộc vào liều lượng. Thời gian bán thải khoảng 5 giờ. Sau khi dùng liều lặp lại, không có sự tích lũy thuốc và sự dao động giữa các cá thể là rất nhỏ.
Chuyển hóa
Zopiclone được chuyển hóa nhanh ở người thành hai chất chuyển hóa chính, N-oxide zopiclone (có hoạt tính trên động vật) và N-desmethyl zopiclone (không có hoạt tính trên động vật). Một nghiên cứu in vitro chỉ ra rằng cytochrom P450 (CYP) 3A4 là isoenzym chính tham gia vào quá trình chuyển hóa zopiclone thành cả hai chất chuyển hóa và CYP2C8 cũng tham gia vào quá trình hình thành N-desmethyl zopiclone. Thời gian bán thải biểu kiến của chúng (được đánh giá từ dữ liệu mẫu nước tiểu) tương ứng khoảng 4,5 giờ và 1,5 giờ.
Không thấy có sự tích lũy thuốc đáng kể khi dùng liều lặp lại (15 mg) trong 14 ngày. Ở động vật, không quan sát thấy cảm ứng enzym ngay cả ở liều cao.
Thải trừ
Giá trị độ thanh thải ở thận của zopiclone dạng nguyên vẹn (trung bình 8,4 mL/phút) thấp so với độ thanh thải trong huyết tương (232 mL/phút) cho thấy độ thanh thải zopiclone chủ yếu qua con đường chuyển hóa. Thuốc được thải trừ qua nước tiểu (khoảng 80%) dưới dạng chất chuyển hóa tự do (dẫn xuất N-oxide và N-desmethyl) và thải trừ qua phân (khoảng 16%).
Nhóm đối tượng đặc biệt
Ở những bệnh nhân cao tuổi, mặc dù có giảm nhẹ chuyển hóa ở gan và kéo dài thời gian bán thải đến khoảng 7 giờ, các nghiên cứu khác nhau cho thấy không có sự tích lũy dược chất trong huyết tương khi dùng liều lặp lại.
Ở bệnh nhân suy thận, không phát hiện thấy sự tích lũy zopiclone hoặc các chất chuyển hóa của nó sau khi dùng kéo dài. Zopiclone qua được màng thẩm phân.
Ở những bệnh nhân xơ gan, độ thanh thải của zopiclone trong huyết tương giảm rõ rệt do quá trình demethyl chậm lại, do đó cần phải điều chỉnh liều dùng ở những bệnh nhân này.
Chỉ định/Công dụng
Zopistad 7.5 được chỉ định để điều trị ngắn hạn chứng mất ngủ ở người lớn.
Liều dùng/Hướng dẫn sử dụng
Cách dùng
Dùng đường uống. Nên nuốt nguyên viên thuốc, không ngậm hoặc nhai.
Liều dùng
Sử dụng liều thấp nhất có hiệu quả. Zopistad 7.5 nên được uống một lần duy nhất và không sử dụng lặp lại trong cùng một đêm.
Cũng như các loại thuốc gây ngủ khác, không nên sử dụng zopiclone lâu dài. Điều trị nên càng ngắn càng tốt và không nên vượt quá 4 tuần bao gồm cả thời gian giảm dần liều.
Không nên mở rộng thời gian điều trị tối đa mà không đánh giá lại tình trạng của bệnh nhân, vì nguy cơ lạm dụng và lệ thuộc thuốc sẽ tăng lên theo thời gian điều trị.
Nên uống thuốc vào buổi tối ngay trước khi đi ngủ.
Người lớn
Liều khuyến cáo là 1 viên Zopistad 7.5 (7,5 mg zopiclone) uống ngay trước khi đi ngủ.
Người cao tuổi
Nên bắt đầu điều trị với liều thấp hơn là 3,75 mg zopiclone ở người cao tuổi. Tùy thuộc vào hiệu quả và khả năng dung nạp, liều lượng sau đó có thể được tăng lên nếu cần thiết về mặt lâm sàng.
Trẻ em
Không nên sử dụng zopiclone cho trẻ em và thanh thiếu niên dưới 18 tuổi. Tính an toàn và hiệu quả của zopiclone ở trẻ em và thanh thiếu niên dưới 18 tuổi chưa được xác định.
Suy gan
Vì có thể bị giảm đào thải zopiclone ở những bệnh nhân rối loạn chức năng gan, nên dùng liều thấp hơn là 3,75 mg zopiclone mỗi đêm.
Liều tiêu chuẩn 7,5 mg zopiclone có thể được sử dụng thận trọng trong một số trường hợp, tùy thuộc vào hiệu quả và khả năng dung nạp.
Suy thận
Không thấy có sự tích lũy zopiclone hoặc các chất chuyển hóa của nó trong quá trình điều trị chứng mất ngủ ở bệnh nhân suy thận. Tuy nhiên, bệnh nhân suy giảm chức năng thận nên bắt đầu điều trị với liều 3,75 mg.
Suy hô hấp mạn tính
Ở những bệnh nhân suy hô hấp mạn tính, liều khuyến cáo ban đầu là 3,75 mg zopiclone.
Liều lượng sau đó có thể được tăng lên 7,5 mg.
Chống chỉ định
Chống chỉ định dùng Zopistad 7.5 ở những bệnh nhân:
– Nhược cơ.
– Suy hô hấp.
– Mắc hội chứng ngưng thở khi ngủ mức độ nghiêm trọng.
– Suy gan nặng.
– Quá mẫn với zopiclone hoặc với bất kỳ tá dược nào của thuốc.
– Đã từng trải qua các hành vi phức tạp khi ngủ sau khi dùng zopiclone.
– Cũng như các thuốc gây ngủ khác, không nên sử dụng Zopistad 7.5 cho trẻ em.
Cảnh báo và thận trọng
Nên xác định nguyên nhân của chứng mất ngủ bất cứ khi nào có thể và nên điều trị các nguyên nhân tiềm ẩn trước khi kê đơn thuốc an thần.
Các nhóm bệnh nhân cụ thể
Suy gan: Nên giảm liều. Benzodiazepine không được chỉ định để điều trị bệnh nhân suy gan nặng vì có thể gây ra bệnh não.
Suy thận: Nên giảm liều.
Suy hô hấp: Vì thuốc gây ngủ có khả năng ức chế hô hấp, nên cần thận trọng khi kê đơn zopiclone cho bệnh nhân bị suy giảm chức năng hô hấp. Khuyến cáo dùng liều thấp hơn cho bệnh nhân suy hô hấp mạn tính do nguy cơ ức chế hô hấp.
Trẻ em: Không nên sử dụng zopiclone cho trẻ em và thanh thiếu niên dưới 18 tuổi. Tính an toàn và hiệu quả của zopiclone ở trẻ em và thanh thiếu niên dưới 18 tuổi chưa được xác định.
Người cao tuổi: Người cao tuổi nên được giảm liều.
Nguy cơ lệ thuộc thuốc
Sử dụng zopiclone có thể dẫn đến tình trạng lạm dụng thuốc và/hoặc lệ thuộc về thể chất và tinh thần.
Nguy cơ lệ thuộc thuốc tăng theo liều dùng và thời gian điều trị. Các trường hợp lệ thuộc thuốc đã được báo cáo thường gặp hơn ở những bệnh nhân được điều trị với zopiclone lâu hơn 4 tuần. Nguy cơ lạm dụng và lệ thuộc thuốc cũng cao hơn ở những bệnh nhân có tiền sử rối loạn tâm thần và/hoặc nghiện rượu, chất kích thích hoặc ma túy. Zopistad 7.5 nên được sử dụng hết sức thận trọng ở những bệnh nhân đang hoặc có tiền sử nghiện rượu, chất kích thích hoặc ma túy.
Nếu sự lệ thuộc về thể chất tiến triển, ngưng điều trị đột ngột sẽ kèm theo những triệu chứng cai thuốc.
Cai thuốc
Việc ngừng điều trị với zopiclone không chắc có liên quan đến những triệu chứng cai thuốc khi quá trình điều trị được giới hạn trong 4 tuần. Bệnh nhân có thể có lợi từ việc giảm liều dần dần trước khi ngừng hẳn.
Có ý định tự tử/cố gắng tự tử/tự tử vì bệnh trầm cảm
Một số nghiên cứu dịch tễ học cho thấy tỷ lệ gia tăng ý định tự tử, cố gắng tự tử và tự tử ở những bệnh nhân có hoặc không mắc bệnh trầm cảm và được điều trị bằng benzodiazepine và các thuốc gây ngủ khác, bao gồm cả zopiclone. Tuy nhiên, mối quan hệ nhân quả vẫn chưa được thiết lập.
Cũng giống như các thuốc gây ngủ khác, zopiclone không phải là thuốc điều trị trầm cảm và thậm chí có thể che giấu các triệu chứng của bệnh (có thể xảy ra tự tử ở những bệnh nhân này).
Zopistad 7.5 nên được sử dụng thận trọng ở những bệnh nhân có các triệu chứng trầm cảm.
Bệnh nhân có thể xuất hiện xu hướng tự tử, do đó nên cung cấp lượng thuốc Zopistad 7.5 ít nhất có thể cho những bệnh nhân này để tránh khả năng bệnh nhân cố ý dùng quá liều.
Bệnh trầm cảm tiềm ẩn có thể bộc phát trong quá trình sử dụng zopiclone. Vì mất ngủ có thể là một triệu chứng của bệnh trầm cảm, bệnh nhân nên được chẩn đoán lại nếu gặp tình trạng mất ngủ kéo dài.
Bất kỳ nguyên nhân cơ bản nào của chứng mất ngủ cũng nên được xác định trước khi điều trị triệu chứng để tránh những ảnh hưởng tiềm ẩn nghiêm trọng của bệnh trầm cảm.
Dung nạp thuốc
Tác dụng gây ngủ của benzodiazepine và các thuốc tương tự benzodiazepine có thể bị mất khi sử dụng lặp lại trong một vài tuần. Tuy nhiên, với Zopistad 7.5 không có bất kỳ sự dung nạp rõ rệt nào trong thời gian điều trị đến 4 tuần.
Mất ngủ tái phát
Mất ngủ tái phát là một hội chứng tạm thời khi mà bệnh nhân đang sử dụng thuốc benzodiazepine hoặc các thuốc tương tự benzodiazepine ngừng thuốc đột ngột, bệnh nhân mất ngủ với mức độ nghiêm trọng hơn. Mất ngủ tái phát có thể đi kèm với các phản ứng khác bao gồm thay đổi tâm trạng, lo lắng và bồn chồn. Do nguy cơ gặp hội chứng cai thuốc/mất ngủ tái phát có thể tăng lên khi điều trị kéo dài, hoặc ngừng điều trị đột ngột, nên giảm liều dần dần và tư vấn phù hợp cho bệnh nhân.
Trong một đợt điều trị, để điều trị hiệu quả nên sử dụng liều thấp nhất có hiệu quả trong thời gian ngắn nhất có thể. Một đợt điều trị không nên kéo dài hơn 4 tuần, bao gồm cả thời gian giảm dần liều.
Chứng quên
Chứng quên hiếm gặp nhưng có thể xảy ra chứng quên về sau, đặc biệt khi giấc ngủ bị gián đoạn hay việc đi ngủ bị trì hoãn sau khi dùng thuốc. Vì vậy, để giảm thiểu chứng quên về sau, bệnh nhân chỉ nên uống thuốc khi chắc chắn đi ngủ và có thể có giấc ngủ trọn đêm (giấc ngủ không bị gián đoạn khoảng 7 - 8 tiếng).
Suy giảm tâm thần vận động
Giống như các loại thuốc an thần/gây ngủ khác, zopiclone có tác dụng ức chế thần kinh trung ương. Nguy cơ suy giảm tâm thần vận động, bao gồm suy giảm khả năng lái xe, sẽ tăng lên nếu: dùng zopiclone trong vòng 12 giờ khi thực hiện các hoạt động đòi hỏi sự tỉnh táo, dùng liều cao hơn liều khuyến cáo, hoặc dùng chung zopiclone với các thuốc ức chế thần kinh trung ương khác, rượu hoặc với các thuốc khác làm tăng nồng độ zopiclone trong máu. Bệnh nhân nên được cảnh báo không tham gia vào các công việc nguy hiểm đòi hỏi sự tỉnh táo hoàn toàn hoặc phối hợp vận động như vận hành máy móc hoặc lái xe cơ giới sau khi dùng zopiclone và đặc biệt trong vòng 12 giờ sau khi dùng thuốc.
Nguy cơ khi dùng đồng thời với opioid
Sử dụng đồng thời opioid với benzodiazepine hoặc các thuốc an thần-gây ngủ khác, bao gồm zopiclone có thể dẫn đến an thần, ức chế hô hấp, hôn mê và tử vong. Do những nguy cơ này, chỉ nên sử dụng phối hợp opioid và benzodiazepine cho những bệnh nhân không còn lựa chọn điều trị thay thế nào.
Nếu quyết định kê đơn phối hợp zopiclone và opioid, nên dùng liều thấp nhất có hiệu quả trong thời gian ngắn nhất có thể, đồng thời theo dõi bệnh nhân chặt chẽ để biết các dấu hiệu và triệu chứng của suy hô hấp và an thần.
Các phản ứng tâm thần và nghịch thường khác
Các phản ứng tâm thần và nghịch thường khác, như bồn chồn, kích động, cáu gắt, hung hăng, ảo tưởng, giận dữ, ác mộng, ảo giác, các hành vi không thích hợp và các hành vi bất lợi khác đã được báo cáo xảy ra khi sử dụng thuốc an thần/gây ngủ như zopiclone. Nếu các phản ứng này xảy ra, nên ngừng sử dụng zopiclone. Những phản ứng này thường xảy ra hơn ở người cao tuổi.
Mộng du và các hành vi liên quan
Hành vi phức tạp khi ngủ, bao gồm đi bộ khi ngủ và các hành vi liên quan khác như “lái xe khi ngủ”, nấu ăn và ăn, gọi điện thoại hoặc quan hệ tình dục, và hoàn toàn không nhớ hành vi của mình sau khi tỉnh dậy đã được báo cáo ở những bệnh nhân dùng zopiclone. Những sự kiện này có thể xảy ra sau lần sử dụng zopiclone đầu tiên hoặc bất kỳ lần tiếp theo nào.
Ngừng điều trị ngay lập tức nếu bệnh nhân trải qua một hành vi phức tạp khi ngủ, do nguy cơ đối với bệnh nhân và những người khác. Việc sử dụng rượu và các thuốc ức chế thần kinh trung ương khác cùng với zopiclone có thể làm tăng nguy cơ gặp các hành vi trên, cũng như việc sử dụng zopiclone ở liều vượt quá liều khuyến cáo tối đa.
Tá dược
Zopistad 7.5 có chứa lactose. Không nên dùng thuốc này cho bệnh nhân có các vấn đề về di truyền hiếm gặp không dung nạp galactose, thiếu hụt enzym lactase toàn phần hay kém hấp thu glucose-galactose.
Ảnh hưởng của thuốc lên khả năng lái xe, vận hành máy móc
Do đặc tính dược lý và khả năng tác động lên hệ thần kinh trung ương, Zopistad 7.5 có thể ảnh hưởng đến khả năng lái xe hoặc vận hành máy móc. Nguy cơ suy giảm tâm thần vận động, bao gồm suy giảm khả năng lái xe, sẽ tăng lên nếu:
+ Dùng zopiclone trong vòng 12 giờ khi thực hiện các hoạt động đòi hỏi sự tỉnh táo.
+ Dùng liều cao hơn liều khuyến cáo.
+ Dùng đồng thời zopiclone với các thuốc ức chế thần kinh trung ương khác, rượu hoặc với các thuốc khác làm tăng nồng độ zopiclone trong máu.
Bệnh nhân nên được cảnh báo không tham gia vào các công việc nguy hiểm đòi hỏi sự tỉnh táo hoàn toàn hoặc phối hợp vận động như vận hành máy móc hoặc lái xe cơ giới sau khi dùng zopiclone và đặc biệt trong 12 giờ sau khi dùng thuốc.
Sử dụng ở phụ nữ có thai & cho con bú
Phụ nữ có thai
Kinh nghiệm về việc sử dụng zopiclone trong thai kỳ vẫn còn hạn chế mặc dù chưa có những phát hiện bất lợi trên động vật. Vì vậy, không nên chỉ định zopiclone trong thai kỳ.
Phụ nữ cho con bú
Nên tránh sử dụng zopiclone cho phụ nữ đang cho con bú vì thuốc bài tiết qua sữa mẹ.
Tương tác
Kết hợp không được khuyến cáo:
Tác dụng an thần của zopiclone có thể tăng lên khi dùng kết hợp với rượu, do đó không khuyến cáo sử dụng đồng thời. Đặc biệt điều này có thể ảnh hưởng đến khả năng lái xe hoặc vận hành máy móc của bệnh nhân.
Kết hợp cần thận trọng:
Kết hợp với thuốc ức chế thần kinh trung ương có thể làm tăng tác dụng ức chế thần kinh.
Cần cân nhắc cẩn thận lợi ích trị liệu trong việc kết hợp với các thuốc chống loạn thần kinh (thuốc an thần kinh), thuốc ngủ, thuốc giải lo âu/an thần, thuốc chống trầm cảm, thuốc giảm đau gây nghiện, thuốc chống động kinh, thuốc gây mê và thuốc kháng histamin có tác dụng an thần. Trong trường hợp phối hợp với thuốc giảm đau gây nghiện có thể gây tăng cảm giác hưng phấn dẫn đến tăng lệ thuộc về tinh thần. Các thuốc ức chế một số enzym gan nhất định (đặc biệt là cytochrom P450) có thể tăng tác dụng của benzodiazepine và các thuốc tương tự benzodiazepine.
Ảnh hưởng của erythromycin trên dược động học của zopiclone đã được nghiên cứu trên 10 đối tượng khỏe mạnh. AUC của zopiclone tăng lên 80% khi có erythromycin, điều này cho thấy rằng erythromycin có thể ức chế sự chuyển hóa của các thuốc được chuyển hóa bởi CYP3A4. Do đó, tác dụng gây ngủ của zopiclone có thể tăng lên.
Vì zopiclone được chuyển hóa bởi isoenzym cytochrom P450 (CYP) 3A4, nồng độ zopiclone trong huyết tương có thể tăng lên khi dùng đồng thời với các chất ức chế CYP3A4 như erythromycin, clarithromycin, ketoconazole, itraconazole và ritonavir. Có thể cần phải giảm liều zopiclone khi dùng đồng thời với các chất ức chế CYP3A4. Ngược lại, nồng độ zopiclone trong huyết tương có thể giảm khi dùng đồng thời với các chất cảm ứng CYP3A4 như rifampicin, carbamazepine, phenobarbital, phenytoin và St. John's wort. Có thể cần phải tăng liều đối với zopiclone khi dùng đồng thời với các chất cảm ứng CYP3A4.
Các thuốc giảm đau nhóm opioid:
Việc sử dụng đồng thời benzodiazepine và các thuốc an thần-gây ngủ khác, bao gồm zopiclone, cùng với opioid làm tăng nguy cơ an thần, ức chế hô hấp, hôn mê và tử vong vì làm tăng tác động ức chế thần kinh trung ương. Nên giới hạn liều lượng và thời gian sử dụng khi phối hợp đồng thời benzodiazepine và opioid.
Tương kỵ
Do không có các nghiên cứu về tính tương kỵ của thuốc, không trộn lẫn thuốc này với các thuốc khác.
Tác dụng không mong muốn
Thường gặp (1/100 ≤ ADR < 1/10)
Hệ thần kinh: Rối loạn vị giác (vị đắng), buồn ngủ (còn sót lại).
Tiêu hóa: Khô miệng.
Ít gặp (1/1000 ≤ ADR < 1/100)
Tâm thần: Ác mộng, kích động.
Hệ thần kinh: Chóng mặt, nhức đầu.
Tiêu hóa: Buồn nôn, nôn.
Toàn thân và tại chỗ dùng thuốc: Mệt mỏi.
Hiếm gặp (1/10.000 ≤ ADR < 1/1.000)
Tâm thần: Trạng thái lú lẫn, rối loạn ham muốn tình dục, cáu gắt, hung hăng, hoang tưởng.
Hệ thần kinh: Chứng quên về sau (chứng quên thuận chiều).
Hô hấp, lồng ngực và trung thất: Khó thở.
Da và mô dưới da: Nổi mày đay hoặc phát ban, ngứa.
Chấn thương, ngộ độc và các biến chứng: Té ngã (chủ yếu ở bệnh nhân cao tuổi).
Rất hiếm gặp (ADR < 1/10.000)
Hệ miễn dịch: Phù mạch, phản ứng phản vệ.
Gan mật: Tăng transaminase và/hoặc phosphatase kiềm (nhẹ đến trung bình).
Chưa rõ tần suất (không thể ước tính từ các dữ liệu có sẵn)
Tâm thần: Bồn chồn, hoang tưởng, giận dữ, các hành vi bất thường (có thể liên quan đến chứng quên) và các hành vi phức tạp khi ngủ bao gồm mộng du, lệ thuộc thuốc, hội chứng cai thuốc*.
Hệ thần kinh: Mất điều hòa, loạn cảm, rối loạn nhận thức như suy giảm trí nhớ, rối loạn chú ý, rối loạn ngôn ngữ.
Mắt: Chứng song thị.
Hô hấp, lồng ngực và trung thất: Suy hô hấp.
Tiêu hóa: Khó tiêu.
Cơ xương và mô liên kết: Yếu cơ.
Toàn thân và tại chỗ dùng thuốc: Lâng lâng, cơ thể thiếu sự phối hợp giữa các cơ quan.
* Hội chứng cai thuốc đã được báo cáo khi ngừng sử dụng zopiclone. Các triệu chứng cai thuốc khác nhau và có thể bao gồm mất ngủ tái phát, đau cơ, lo lắng, run rẩy, đổ mồ hôi, kích động, lú lẫn, nhức đầu, đánh trống ngực, nhịp tim nhanh, mê sảng, ác mộng, hoang tưởng, cơn hoảng loạn, đau cơ/chuột rút, rối loạn tiêu hóa và khó chịu. Trong trường hợp nặng hơn, có thể gặp các triệu chứng sau: rối loạn tri giác sai thực tại, rối loạn giải thể nhân cách, rối loạn tăng thính, tê và ngứa ran các đầu chi, nhạy cảm với ánh sáng, tiếng ồn và các tiếp xúc vật lý, ảo giác. Trong một số trường hợp rất hiếm, co giật có thể xảy ra.
Quá liều
Chưa biết liều gây tử vong.
Triệu chứng
Quá liều thường được biểu hiện bằng các mức độ khác nhau của sự ức chế hệ thần kinh trung ương, từ buồn ngủ đến hôn mê tùy theo lượng thuốc uống quá liều. Trong trường hợp nhẹ, các triệu chứng bao gồm buồn ngủ, lú lẫn và hôn mê; trong những trường hợp nặng hơn, các triệu chứng có thể bao gồm mất điều hòa, giảm trương lực cơ, hạ huyết áp, methemoglobin huyết, ức chế hô hấp và hôn mê. Dùng quá liều không đe dọa đến tính mạng trừ khi kết hợp với các thuốc ức chế thần kinh trung ương khác, bao gồm rượu. Các yếu tố nguy cơ khác, như tình trạng bệnh sẵn có và tình trạng suy nhược của bệnh nhân, có thể làm tăng mức độ nặng của các triệu chứng, tuy nhiên rất hiếm khi có thể dẫn đến tử vong.
Xử trí
Khuyến cáo điều trị triệu chứng kèm hỗ trợ lâm sàng đầy đủ, cần chú ý theo dõi chức năng hô hấp và tim mạch.
Cân nhắc sử dụng than hoạt tính nếu đã uống hơn 150 mg ở người lớn hoặc uống hơn 1,5 mg/kg đối với trẻ em trong vòng một giờ. Ngoài ra, có thể tiến hành rửa dạ dày đối với người lớn trong vòng một giờ sau khi uống nếu quá liều có thể đe dọa tính mạng. Nếu ức chế thần kinh trung ương nặng, có thể cân nhắc sử dụng flumazenil. Flumazenil có thời gian bán thải ngắn (khoảng một giờ). Không được sử dụng nếu bệnh nhân quá liều đồng thời nhiều thuốc hoặc chỉ sử dụng để chẩn đoán. Xử trí nên gồm các biện pháp điều trị triệu chứng và hỗ trợ chung như làm thông thoáng đường thở, theo dõi tim mạch và các dấu hiệu sinh tồn cho đến khi ổn định.
Bảo quản
Bảo quản trong bao bì kín, nơi khô, tránh ánh sáng. Nhiệt độ không quá 30°C.
Hạn dùng: 36 tháng.
Phân loại MIMS
Thuốc ngủ & thuốc an thần
Phân loại ATC
N05CF01 - zopiclone ; Belongs to the class of benzodiazepine related agents. Used as hypnotics and sedatives.
Trình bày
Viên nén bao phim: hộp 1 vỉ x 10 viên.
Register or sign in to continue
Asia's one-stop resource for medical news, clinical reference and education
Already a member? Sign in