Xét nghiệm và hỗ trợ chẩn đoán
Nhuộm Gram, nuôi cấy và kháng sinh đồ
Căn nguyên của viêm mô tế bào vẫn không xác định được ở đa số bệnh nhân và điều trị cần mang tính theo kinh nghiệm dựa trên biểu hiện lâm sàng.
Nuôi cấy từ tổn thương
Nuôi cấy dịch chọc hút, sinh thiết và mẫu máu ở người lớn không có bệnh đi kèm cho kết quả kém và nhìn chung không được chỉ định. Chỉ thật sự cần thiết ở những người có tiền sử bệnh ác tính hoặc ức chế miễn dịch, áp xe tái phát hoặc đa ổ, thất bại với phác đồ kháng sinh ban đầu, bệnh nhân có biến chứng toàn thân (như sốt, hạ huyết áp), các yếu tố rủi ro (như tổn thương do ngâm nước, động vật cắn, giảm bạch cầu trung tính), nhiễm trùng tại chỗ nặng, chỉ định dự phòng viêm nội tâm mạc nhiễm khuẩn và sống ở khu vực có tăng độ nhạy cảm với S. aureus. Chọc hút kim nhỏ ở tổn thương kín cho kết quả dương tính khoảng 30% trường hợp. Kỹ thuật này có thể hữu ích khi nghi ngờ tác nhân không điển hình (ví dụ bệnh nhân suy giảm miễn dịch), khi phát hiện vùng lùng nhùng hoặc khi liệu pháp kháng khuẩn ban đầu thất bại. Nếu có thể lấy bệnh phẩm từ vị trí khởi phát của viêm mô tế bào, có thể thu được nuôi cấy dương tính ở khoảng 1/3 bệnh nhân.
Nuôi cấy máu (BC)
Cellulitis Erysipelas_Diagnostics
Cấy máu chỉ hữu ích ở những bệnh nhân có tăng bạch cầu đáng kể, triệu chứng toàn thân nặng, bệnh nền đi kèm, viêm mô tế bào biến chứng phù bạch huyết, viêm mô tế bào vùng miệng hoặc quanh hốc mắt, viêm mô tế bào dai dẳng/tái phát, một số phơi nhiễm nhất định (chấn thương liên quan đến nước hoặc vết cắn động vật) và ở bệnh nhân cao tuổi hoặc suy giảm miễn dịch.
Xét nghiệm huyết thanh
Bệnh nhân có tiền sử viêm mô tế bào tái phát có thể được lợi từ các xét nghiệm huyết thanh như phản ứng kháng streptolysin-O (ASO), xét nghiệm kháng deoxyribonuclease B (anti-DNAse B), xét nghiệm kháng hyaluronidase (AHT), hoặc Streptozyme.
Căn nguyên của viêm mô tế bào vẫn không xác định được ở đa số bệnh nhân và điều trị cần mang tính theo kinh nghiệm dựa trên biểu hiện lâm sàng.
Nuôi cấy từ tổn thương
Nuôi cấy dịch chọc hút, sinh thiết và mẫu máu ở người lớn không có bệnh đi kèm cho kết quả kém và nhìn chung không được chỉ định. Chỉ thật sự cần thiết ở những người có tiền sử bệnh ác tính hoặc ức chế miễn dịch, áp xe tái phát hoặc đa ổ, thất bại với phác đồ kháng sinh ban đầu, bệnh nhân có biến chứng toàn thân (như sốt, hạ huyết áp), các yếu tố rủi ro (như tổn thương do ngâm nước, động vật cắn, giảm bạch cầu trung tính), nhiễm trùng tại chỗ nặng, chỉ định dự phòng viêm nội tâm mạc nhiễm khuẩn và sống ở khu vực có tăng độ nhạy cảm với S. aureus. Chọc hút kim nhỏ ở tổn thương kín cho kết quả dương tính khoảng 30% trường hợp. Kỹ thuật này có thể hữu ích khi nghi ngờ tác nhân không điển hình (ví dụ bệnh nhân suy giảm miễn dịch), khi phát hiện vùng lùng nhùng hoặc khi liệu pháp kháng khuẩn ban đầu thất bại. Nếu có thể lấy bệnh phẩm từ vị trí khởi phát của viêm mô tế bào, có thể thu được nuôi cấy dương tính ở khoảng 1/3 bệnh nhân.
Nuôi cấy máu (BC)
Cellulitis Erysipelas_DiagnosticsCấy máu chỉ hữu ích ở những bệnh nhân có tăng bạch cầu đáng kể, triệu chứng toàn thân nặng, bệnh nền đi kèm, viêm mô tế bào biến chứng phù bạch huyết, viêm mô tế bào vùng miệng hoặc quanh hốc mắt, viêm mô tế bào dai dẳng/tái phát, một số phơi nhiễm nhất định (chấn thương liên quan đến nước hoặc vết cắn động vật) và ở bệnh nhân cao tuổi hoặc suy giảm miễn dịch.
Xét nghiệm huyết thanh
Bệnh nhân có tiền sử viêm mô tế bào tái phát có thể được lợi từ các xét nghiệm huyết thanh như phản ứng kháng streptolysin-O (ASO), xét nghiệm kháng deoxyribonuclease B (anti-DNAse B), xét nghiệm kháng hyaluronidase (AHT), hoặc Streptozyme.
Hình ảnh học
Đa số trường hợp không cần làm xét nghiệm hình ảnh. Có thể yêu cầu chụp cắt lớp vi tính (CT) hoặc cộng hưởng từ (MRI) nếu nghi viêm cân mạc hoại tử. Các thăm dò X-quang có thể được sử dụng để loại trừ viêm tủy xương và các bệnh khác có thể thứ phát do bệnh nền đi kèm.
