Viêm mô tế bào/Viêm quầng Đánh giá ban đầu

Cập nhật: 10 April 2025

Biểu hiện lâm sàng

Viêm mô tế bào không biến chứng

Vùng tổn thương trong viêm mô tế bào không biến chứng có màu da đỏ, ấm khi sờ và sưng, và được phân biệt với viêm quầng bởi bờ không nhô cao, mờ không rõ. Tổn thương chủ yếu liên quan đến mô dưới da và trung bì. Bệnh nhân thường không có triệu chứng và không có bệnh đi kèm. Căn nguyên là liên cầu khuẩn tan huyết beta trong 90% trường hợp nhiễm, nhưng khó loại trừ S. aureus, đặc biệt nếu có nhiễm khuẩn hỗn hợp.

Viêm mô tế bào biến chứng

Cellulitis Erysipelas_Initial Assesment 1Cellulitis Erysipelas_Initial Assesment 1


Viêm mô tế bào biến chứng gặp ở bệnh nhân đái tháo đường, bao gồm loét chân do đái tháo đường. Có hiện diện bệnh đi kèm hoặc suy giảm tưới máu (ví dụ bệnh mạch máu ngoại biên, suy tĩnh mạch mạn, béo phì bệnh lý), và khi cần thiết, bệnh nhân được nhập viện để ổn định các bệnh đi kèm. Cũng có các triệu chứng toàn thân đáng kể như lú lẫn cấp tính, nhịp tim nhanh, thở nhanh và hạ huyết áp. Dấu hiệu của nhiễm trùng mô mềm sâu có khả năng là mức độ nặng gồm bóng nước màu tím, xuất huyết da, bong da và có hơi trong mô. Có thể cần phẫu thuật cắt lọc vùng tổn thương. Căn nguyên gồm liên cầu khuẩn nhóm A, S. aureus, Enterobacteriaceae và vi khuẩn kỵ khí.

Viêm mô tế bào mưng mủ

Viêm mô tế bào mưng mủ là sự hiện diện của dịch tiết mủ hoặc chảy dịch mà không có ổ áp xe dẫn lưu được.

Viêm mô tế bào không mưng mủ

Viêm mô tế bào không mưng mủ là không có dịch tiết mủ hoặc chảy dịch và không có ổ áp xe.

Viêm mô tế bào tái phát

Viêm mô tế bào tái phát là viêm mô tế bào xảy ra 3–4 lần/năm ngay cả khi đã dùng thuốc dự phòng và kiểm soát các yếu tố rủi ro.

Tiền sử

Các dấu hiệu và triệu chứng bao gồm vùng viêm cấp tính của trung bì và mô dưới da lan nhanh, thường một bên và hay gặp ở chi dưới.

Cellulitis Erysipelas_Initial Assesment 2Cellulitis Erysipelas_Initial Assesment 2

Khám thực thể

Tổn thương dạng “cánh bướm” ở mặt và tai (dấu tai Milian) gợi ý viêm quầng. Có thể có viêm mạch bạch huyết và viêm hạch bạch huyết vùng. Tổn thương biểu hiện là vùng da đỏ, sưng, đau, ấm và ấn đau. Bệnh nhân có thể mệt mỏi, sốt và ớn lạnh. Khi khám thực thể, cần ghi nhận vị trí và mức độ phù, ban đỏ, ấm và ấn đau để có thể theo dõi chi tiết sự thoái lui hoặc tiến triển. Khám tìm bóng nước, lạo xạo dưới da (crepitus), lùng nhùng (fluctuance), hoại tử, ban xuất huyết và các dấu hiệu toàn thân (ví dụ nhịp tim nhanh, hạ huyết áp).