Táo bón chức năng mạn tính ở người lớn Đánh giá ban đầu

Cập nhật: 06 March 2025

Tiền sử

Khai thác tiền sử bệnh cần hỏi bệnh nhân về thói quen đại tiện hiện tại, tần suất và đặc điểm của đi tiêu. Thang điểm Bristol (Bristol Stool Scale) có thể giúp mô tả rõ hơn về thói quen đi tiêu và độ đặc của phân. Theo đó, táo bón do chậm vận chuyển có thể được dự đoán bởi phân loại 1 và 2 theo thang điểm Bristol. Bệnh nhân có thể kèm đau bụng hoặc khó chịu vùng bụng, tuy nhiên ở mức độ nhẹ hơn và không phải là triệu chứng chính so với hội chứng ruột kích thích (IBS). IBS có thể được gợi ý khi bệnh sử nổi bật với đau bụng, đầy hơi, mệt mỏi, có các triệu chứng đường tiêu hóa trên (ví dụ khó tiêu, ợ nóng) và triệu chứng đường tiết niệu, cùng với gia tăng cảm giác trực tràng, lo âu và trầm cảm. Ngoài ra, cần khai thác thêm về thói quen đi vệ sinh (ví dụ sử dụng các tư thế bất thường để hỗ trợ tống phân ra ngoài), việc ấn vào thành sau âm đạo, nâng đỡ vùng đáy chậu hoặc dùng tay ấn vào trực tràng để dễ dàng tống phân ra ngoài, cũng như tình trạng không thể thải hết được dịch thụt tháo ra ngoài. Rối loạn chức năng sàn chậu có thể được nghĩ đến khi bệnh nhân phải rặn kéo dài và quá mức trước khi đi tiêu; trong những trường hợp rối loạn tống xuất rõ rệt, ngay cả phân mềm hoặc dịch thụt tháo cũng khó thải ra; việc cần hỗ trợ bằng cách ấn vùng đáy chậu, âm đạo hoặc dùng tay ấn vào trực tràng cũng là dấu hiệu gợi ý táo bón. Các rối loạn tống xuất phân này thường đáp ứng kém với thuốc nhuận tràng.

Constipation in Adults_Initial Assesment 1Constipation in Adults_Initial Assesment 1


Khai thác về tiền sử dùng thuốc, bao gồm các sản phẩm đã sử dụng để giảm táo bón, cũng như việc sử dụng các thuốc opioid và codein. Đồng thời, cần khai thác thêm về tiền sử sản khoa và ngoại khoa, chế độ ăn uống hàng ngày, lối sống (mức độ hoạt động thể chất) và nghề nghiệp của bệnh nhân.

Khám thực thể

Kiểm tra vùng bụng xem có sưng, đau, sờ thấy khối bất thường, gan lách to và đánh giá nhu động ruột. Đồng thời, cần thăm khám các cơ quan khác để loại trừ nguyên nhân thứ phát của táo bón mạn tính (ví dụ khối u ở ổ bụng do nguyên nhân thực thể, da khô do suy giáp).

Khám trực tràng

Thăm khám trực tràng nên được thực hiện khi bệnh nhân nằm nghiêng sang trái. Quan sát vùng quanh hậu môn để phát hiện các tổn thương như nứt kẽ, rò, trĩ ngoại, sẹo, da thừa quanh hậu môn, mụn cóc, chảy máu, áp-xe hoặc rỉ phân. Xác định mức độ sa đáy chậu khi bệnh nhân ở trạng thái nghỉ và rặn. Sa đáy chậu có thể gợi ý tình trạng không giãn được cơ sàn chậu khi đi tiêu. Sa quá mức có thể cho thấy tình trạng lỏng lẻo của đáy chậu, thường liên quan đến sinh nở hoặc nhiều năm rặn kéo dài.

Thăm khám trực tràng bằng ngón tay

Constipation in Adults_Initial Assesment 2Constipation in Adults_Initial Assesment 2


Đánh giá tình trạng ứ đọng phân, dính máu, đau cơ mu-trực tràng, hẹp, tắc nghẽn hoặc nứt hậu môn, trĩ nội, khối u vùng hậu môn-trực tràng, và sa âm đạo sau hoặc sa trực tràng. Lỗ hậu môn lỏng lẻo có thể gợi ý rối loạn thần kinh hoặc chấn thương là nguyên nhân gây suy giảm chức năng cơ thắt. Việc không thể hoặc khó đưa ngón tay vào ống hậu môn có thể gợi ý tăng trương lực cơ thắt trong lúc nghỉ hoặc tình trạng hẹp hậu môn. Chức năng co cơ của cơ mu-trực tràng và cơ thắt ngoài hậu môn có thể được xác định bằng độ siết chặt hậu môn khi co. Co thắt sàn chậu có thể được nghĩ đến khi ấn thấy đau ở thành sau trực tràng. Rối loạn vận động sàn chậu có thể được nghi ngờ khi ống hậu môn không giãn trong lúc bệnh nhân rặn. Đối với những bệnh nhân có kết quả thăm khám trực tràng bằng ngón tay bình thường nhưng vẫn còn triệu chứng dai dẳng, nên chỉ định các xét nghiệm thăm dò chức năng hậu môn-trực tràng để loại trừ khả năng rối loạn tống xuất phân.

Chẩn đoán & Tiêu chuẩn chẩn đoán

Táo bón chức năng

Táo bón chức năng là tình trạng không có bằng chứng về bệnh lý cấu trúc hoặc rối loạn chuyển hóa để giải thích cho các triệu chứng. Tình trạng này còn được gọi là táo bón vô căn mạn tính.

Tiêu chuẩn chẩn đoán Rome IV đối với táo bón chức năng bao gồm:
  • Có ≥2 tiêu chí sau, xuất hiện >25% số lần đại tiện: Phân cứng hoặc vón cục, phải dùng thủ thuật hỗ trợ để đi tiêu, cảm giác đi tiêu không hết, cảm giác tắc nghẽn hoặc cản trở ở vùng hậu môn–trực tràng, phải rặn nhiều, cảm giác muốn đi đại tiện <3 lần/tuần
  • Hiếm khi đi phân lỏng nếu không dùng thuốc nhuận tràng
  • Không đủ tiêu chuẩn chẩn đoán hội chứng ruột kích thích (IBS)
  • Các tiêu chí được đánh giá trong 3 tháng gần nhất với triệu chứng khởi phát từ ít nhất 6 tháng trước đó
Phân loại táo bón chức năng hoặc nguyên phát bao gồm: táo bón với vận chuyển bình thường hoặc chậm, giảm nhu động đại tràng (colonic inertia), rối loạn chức năng sàn chậu hoặc tắc nghẽn đường ra, và các trường hợp phối hợp nhiều nguyên nhân (ví dụ rối loạn sàn chậu kèm táo bón do chậm vận chuyển).

Tầm soát

Dấu hiệu và triệu chứng cảnh báo

Nếu xuất hiện bất kỳ dấu hiệu hoặc triệu chứng nào sau đây, bệnh nhân cần được chỉ định thực hiện thêm các xét nghiệm chẩn đoán:
  • Bất thường khi thăm khám lâm sàng (ví dụ: sờ thấy khối u ở bụng hoặc trực tràng)
  • Thay đổi kích thước/đường kính khuôn phân
  • Tiền sử gia đình mắc ung thư đại tràng hoặc bệnh viêm ruột (IBD)
  • Sốt
  • Đi tiêu ra máu
  • Thiếu máu thiếu sắt hoặc thiếu máu không rõ nguyên nhân
  • Mất cảm giác ngon miệng
  • Hội chứng đa polyp
  • Xét nghiệm máu ẩn trong phân cho kết quả dương tính
  • Thay đổi nhanh thói quen đi tiêu
  • Khởi phát táo bón gần đây ở người cao tuổi
  • Chảy máu trực tràng và/hoặc sa trực tràng
  • Giảm cân ngoài ý muốn >4,5 kg hoặc ≥10% trọng lượng cơ thể trong 3 tháng
  • Nôn ói