Giới thiệu
Phân biệt lâm sàng giữa tăng huyết áp cấp cứu và tăng huyết áp nặng cấp tính chủ yếu dựa vào sự hiện diện của tổn thương cơ quan đích (TOD), hơn là mức huyết áp (BP). Để điều trị thành công, cần phân biệt tăng huyết áp cấp cứu với tăng huyết áp nặng cấp tính.
Tăng huyết áp cấp cứu
Tăng huyết áp cấp cứu là huyết áp tăng rất cao (huyết áp tâm thu [SBP] >180 mmHg và/hoặc huyết áp tâm trương [DBP] >120 mmHg) kèm theo biến chứng là tổn thương cơ quan đích tiến triển hoặc trầm trọng hơn ở hệ thần kinh trung ương (CNS), tim, thận, phổi, các động mạch lớn, võng mạc, hoặc tử cung ở phụ nữ có thai. Không có ngưỡng huyết áp xác định nào cho chẩn đoán tăng huyết áp cấp cứu. Hầu hết các tổn thương cơ quan đích xảy ra khi DBP ≥130 mmHg.
Các tình trạng lâm sàng hoặc tổn thương cơ quan đích liên quan đáp ứng với tiêu chuẩn chẩn đoán tăng huyết áp cấp cứu:
Tăng huyết áp nặng cấp tính đề cập đến người bệnh có huyết áp tăng rất cao (>180 mmHg/120 mmHg) nhưng không có bằng chứng tổn thương cơ quan đích; thường không triệu chứng, có thể chỉ là đau đầu nhẹ. Thường liên quan đến không tuân thủ, tự ngưng hoặc giảm điều trị, cũng như lo âu, đau cấp tính, stress cảm xúc, hoặc không tuân thủ chế độ ăn ít muối.
Tăng huyết áp cấp cứu
Tăng huyết áp cấp cứu là huyết áp tăng rất cao (huyết áp tâm thu [SBP] >180 mmHg và/hoặc huyết áp tâm trương [DBP] >120 mmHg) kèm theo biến chứng là tổn thương cơ quan đích tiến triển hoặc trầm trọng hơn ở hệ thần kinh trung ương (CNS), tim, thận, phổi, các động mạch lớn, võng mạc, hoặc tử cung ở phụ nữ có thai. Không có ngưỡng huyết áp xác định nào cho chẩn đoán tăng huyết áp cấp cứu. Hầu hết các tổn thương cơ quan đích xảy ra khi DBP ≥130 mmHg.
Các tình trạng lâm sàng hoặc tổn thương cơ quan đích liên quan đáp ứng với tiêu chuẩn chẩn đoán tăng huyết áp cấp cứu:
- Suy thất trái (LV) cấp kèm phù phổi
- Hội chứng mạch vành cấp
- Suy thận cấp
- Cơn liên quan đến u tủy thượng thận
- Bóc tách thành động mạch chủ
- Bệnh não do tăng huyết áp
- Xuất huyết nội sọ hoặc tai biến mạch máu não (CVA)
- Sử dụng chất cấm (ví dụ amphetamine, cocaine)
- Tăng huyết áp chu phẫu
- Tiền sản giật/sản giật nặng
- Thiếu máu tán huyết vi mạch có triệu chứng
- Tăng huyết áp ác tính có hoặc không có bệnh lý huyết khối vi mạch hoặc suy thận cấp
Tăng huyết áp nặng cấp tính đề cập đến người bệnh có huyết áp tăng rất cao (>180 mmHg/120 mmHg) nhưng không có bằng chứng tổn thương cơ quan đích; thường không triệu chứng, có thể chỉ là đau đầu nhẹ. Thường liên quan đến không tuân thủ, tự ngưng hoặc giảm điều trị, cũng như lo âu, đau cấp tính, stress cảm xúc, hoặc không tuân thủ chế độ ăn ít muối.
Dịch tễ học
Tăng huyết áp ảnh hưởng khoảng 1,3 tỷ người trên toàn thế giới, tuy nhiên chỉ khoảng 17-20% được kiểm soát huyết áp đầy đủ. Ước tính khoảng 1-2% người bệnh tăng huyết áp sẽ gặp cơn tăng huyết áp cấp do huyết áp không được điều trị hoặc kiểm soát không đầy đủ. Các kết quả do khác biệt về giới tính ở bệnh nhân tăng huyết áp cấp cứu không thống nhất. Hầu hết các nghiên cứu đã công bố đều ghi nhận tỷ lệ mắc cơn tăng huyết áp cấp tính cao hơn ở nữ; tuy nhiên, nhiều nghiên cứu trong số này bao gồm cả bệnh nhân tiền sản giật. Các nghiên cứu khác chỉ ra rằng nam giới chiếm tỷ lệ mắc nhỉnh hơn nữ trong các trường hợp tăng huyết áp cấp cứu.
Bệnh nhân da đen chiếm tỷ lệ lớn nhất trong các ca nhập viện vì tăng huyết áp cấp cứu, tiếp theo là người da trắng và gốc Tây Ban Nha. Tỷ lệ tăng huyết áp cấp cứu ở châu Á khác nhau giữa các quốc gia và khu vực, và thấp hơn so với các nước phương Tây. Các nghiên cứu cắt ngang và hồi cứu ở Nam Á và Đông Nam Á báo cáo rằng các trường hợp tăng huyết áp cấp cứu tại khoa cấp cứu chiếm khoảng 0,1–0,5% trường hợp.
Bệnh nhân da đen chiếm tỷ lệ lớn nhất trong các ca nhập viện vì tăng huyết áp cấp cứu, tiếp theo là người da trắng và gốc Tây Ban Nha. Tỷ lệ tăng huyết áp cấp cứu ở châu Á khác nhau giữa các quốc gia và khu vực, và thấp hơn so với các nước phương Tây. Các nghiên cứu cắt ngang và hồi cứu ở Nam Á và Đông Nam Á báo cáo rằng các trường hợp tăng huyết áp cấp cứu tại khoa cấp cứu chiếm khoảng 0,1–0,5% trường hợp.
Sinh bệnh học
Hypertensive Crisis_Disease Background 1Tăng huyết áp mạn tính không được kiểm soát gây tổn thương nội mô lâu dài, đặc trưng bởi stress oxy hóa và giảm sản xuất nitric oxide. Sự dày dần lên của tiểu động mạch và xơ vữa động mạch dẫn đến hẹp lòng mạch và giảm đàn hồi động mạch, bao gồm cả tuần hoàn não. Tăng huyết áp cấp cứu xảy ra khi cơ chế tự điều hòa mạch máu bị suy yếu, làm tăng đột ngột sức cản mạch máu toàn thân. Điều này kích hoạt tổn thương vi mạch, hoạt hóa hệ renin–angiotensin, gây co mạch, tăng thải natri do áp lực và giảm thể tích, tạo thành vòng lặp tự duy trì, làm tăng huyết áp hơn nữa.
Yếu tố nguy cơ
Các yếu tố nguy cơ của cơn tăng huyết áp cấp tính phần lớn trùng lắp với các yếu tố nguy cơ của bệnh tim mạch, bao gồm bệnh thận mạn, tăng huyết áp do hẹp động mạch thận, bệnh động mạch vành, suy tim, tiền sử đột quỵ, uống rượu và sử dụng chất hướng thần. Các trường hợp tăng huyết áp cấp cứu cũng thường liên quan đến các bệnh đồng mắc như đái tháo đường, rối loạn lipid máu, và bệnh thận mạn. Ở bệnh nhân tăng huyết áp nặng cấp tính, tuổi cao (>60 tuổi), nam giới, bệnh thận mạn và protein niệu là các yếu tố nguy cơ cần theo dõi sát, dù có thể điều trị ngoại trú. Không tuân thủ dùng thuốc hạ huyết áp cũng được ghi nhận là yếu tố nguy cơ đáng kể gây cơn tăng huyết áp cấp tính. Hiếm gặp trường hợp mà các rối loạn như u tủy thượng thận hoặc bệnh viêm mạch có thể khởi phát cơn tăng huyết áp cấp.
