Biểu hiện lâm sàng
Dấu hiệu và triệu chứng
Việc sàng lọc các bằng chứng lâm sàng của tổn thương cơ quan đích là điều thiết yếu để xác định tăng huyết áp cấp cứu, là tình trạng cần nhận viện ngay lập tức. Bệnh não do tăng huyết áp có thể biểu hiện triệu chứng thần kinh như đau đầu, chóng mặt, thay đổi mức độ nhận thức, co giật, kích động và rối loạn thị giác. Các dấu thần kinh khu trú có thể xảy ra, mặc dù hiếm gặp, và cần phải nghi ngờ đột quỵ thiếu máu não cấp hoặc xuất huyết não. Những bệnh nhân này thường có bệnh võng mạc tiến triển với những thay đổi về tiểu động mạch, xuất huyết và dịch tiết, kèm phù gai thị.
Bệnh nhân có nghi ngờ bị bóc tách động mạch chủ có thể có đau ngực dữ dội, đau lưng, mạch không đều giữa các chi và trung thất giãn rộng. Bệnh nhân suy tim mất bù có thể bị đau hoặc tức ngực, khó thở, ho, khó thở khi nằm hoặc phù phổi. Nghi ngờ suy thận khi có thiểu niệu và/hoặc tiểu máu. Bệnh nhân cũng có thể biểu hiện nhồi máu cơ tim cấp tính (AMI) hoặc đau thắt ngực. Bệnh nhân tăng áp lực nội sọ (ICP) có thể biểu hiện buồn nôn và nôn. Tiền sản giật hoặc sản giật có thể xảy ra ở phụ nữ mang thai bị tăng huyết áp nặng. Bệnh nhân tăng huyết áp nặng cấp tính có thể bị đau đầu dữ dội, khó thở, đau ngực, phù, chảy máu cam, lo âu nhiều hoặc choáng váng.
Cần nhanh chóng khai thác tiền sử và khám thực thể đồng thời với việc bắt đầu điều trị với thuốc hạ huyết áp.
Việc sàng lọc các bằng chứng lâm sàng của tổn thương cơ quan đích là điều thiết yếu để xác định tăng huyết áp cấp cứu, là tình trạng cần nhận viện ngay lập tức. Bệnh não do tăng huyết áp có thể biểu hiện triệu chứng thần kinh như đau đầu, chóng mặt, thay đổi mức độ nhận thức, co giật, kích động và rối loạn thị giác. Các dấu thần kinh khu trú có thể xảy ra, mặc dù hiếm gặp, và cần phải nghi ngờ đột quỵ thiếu máu não cấp hoặc xuất huyết não. Những bệnh nhân này thường có bệnh võng mạc tiến triển với những thay đổi về tiểu động mạch, xuất huyết và dịch tiết, kèm phù gai thị.
Bệnh nhân có nghi ngờ bị bóc tách động mạch chủ có thể có đau ngực dữ dội, đau lưng, mạch không đều giữa các chi và trung thất giãn rộng. Bệnh nhân suy tim mất bù có thể bị đau hoặc tức ngực, khó thở, ho, khó thở khi nằm hoặc phù phổi. Nghi ngờ suy thận khi có thiểu niệu và/hoặc tiểu máu. Bệnh nhân cũng có thể biểu hiện nhồi máu cơ tim cấp tính (AMI) hoặc đau thắt ngực. Bệnh nhân tăng áp lực nội sọ (ICP) có thể biểu hiện buồn nôn và nôn. Tiền sản giật hoặc sản giật có thể xảy ra ở phụ nữ mang thai bị tăng huyết áp nặng. Bệnh nhân tăng huyết áp nặng cấp tính có thể bị đau đầu dữ dội, khó thở, đau ngực, phù, chảy máu cam, lo âu nhiều hoặc choáng váng.
Cần nhanh chóng khai thác tiền sử và khám thực thể đồng thời với việc bắt đầu điều trị với thuốc hạ huyết áp.
Tiền sử
Hypertensive Crisis_Initial Assesment 1Bệnh sử cần khai thác bao gồm thời gian và mức độ nặng của tăng huyết áp, các thuốc đang sử dụng và các chất hướng thần (ví dụ thuốc ức chế monoamine oxidase [MAOI], phenylpropanolamine, cocaine, amphetamine), mức kiểm soát huyết áp thông thường, và các bệnh đồng mắc hoặc tổn thương cơ quan đích (ví dụ tổn thương tim mạch, mạch máu não hoặc thận). Ngoài ra, cần khai thác thêm về các cơn tăng huyết áp cấp cứu trước đây và việc không tuân thủ điều trị bằng thuốc hạ huyết áp. Có nhiều trường hợp bệnh nhân bị tăng huyết áp nặng cấp tính không tuân thủ thuốc hạ huyết áp hoặc không điều trị đầy đủ.
Khám thực thể
Hypertensive Crisis_Initial Assesment 2Cần đo huyết áp ở cả hai tay và ít nhất một chân, ở tư thế nằm ngửa và đứng. Sử dụng băng quấn tay có kích thước phù hợp và thiết bị đo huyết áp đã được hiệu chuẩn.
|
KÍCH THƯỚC BĂNG QUẤN KHUYẾN NGHỊ |
||
|
Chu vi cánh tay (cm) |
Mô tả |
Kích thước băng (cm) |
|
22-26 |
Người lớn có thể trạng nhỏ |
12 x 22 |
|
27-34 |
Người lớn có thể trạng tiêu chuẩn |
16 x 30 |
|
35-44 |
Người lớn có thể trạng lớn |
16 x 36 |
|
45-52 |
Đùi người lớn |
16 x 42 |
Bắt mạch và so sánh giữa chi trên, đùi và chi dưới. Khám tim cẩn thận cần bao gồm đánh giá áp lực tĩnh mạch cảnh, kiểm tra tiếng thổi, tiếng ngựa phi, hoặc tiếng thất trái (LV heave), và đánh giá phù chi dưới. Nghe động mạch cảnh và động mạch bụng để tìm tiếng thổi. Nghe phổi tìm dấu hiệu phù phổi (ví dụ ran nổ). Ngoài ra, cần khám thần kinh chuyên sâu và soi đáy mắt để phát hiện phù gai thị, xuất huyết hoặc dịch tiết.
