Nguyên tắc điều trị
Mục tiêu chính của điều trị là cải thiện hoặc giảm thiểu tổn thương cơ quan đích và bắt đầu điều trị phù hợp tăng huyết áp bằng đường tĩnh mạch (IV). Cần đánh giá xem liệu các cơ quan bị ảnh hưởng có cần can thiệp đặc hiệu và đồng thời xác định tình trạng mang thai của người bệnh, vì yếu tố này có thể ảnh hưởng đến kế hoạch điều trị. Ở người trưởng thành xuất hiện cơn tăng huyết áp cấp cứu tại cơ sở chăm sóc ban đầu đang chờ chuyển tuyến, cần khởi trị thuốc hạ huyết áp đường IV (hoặc đường uống nếu không có đường truyền IV) và chuyển ngay đến cơ sở y tế có khả năng theo dõi và kiểm soát giảm huyết áp an toàn. Cần đánh giá tình trạng dịch của bệnh nhân trước khi điều trị đường tĩnh mạch. Việc sử dụng thuốc đường tĩnh mạch có thời gian bán thải ngắn cho phép chỉnh liều thận trọng dựa trên đáp ứng huyết áp của bệnh nhân. Nên dùng liều khởi đầu thấp và tăng liều một cách thận trọng.
Mục tiêu điều trị
Mục tiêu điều trị phụ thuộc vào tình trạng lâm sàng của bệnh nhân. Ở bệnh nhân không có tình trạng bắt buộc phải can thiệp đặc hiệu, cần giảm huyết áp tâm thu (SBP) không quá 25% trong 1 giờ đầu, sau đó nếu tình trạng ổn định thì giảm huyết áp đến <160/100-110 mmHg trong 2-6 giờ tiếp theo, thận trọng giảm đến 130-140 mmHg trong 24-48 giờ tiếp theo nhằm hạn chế tổn thương cơ quan đích. Tránh hạ huyết áp quá mức vì có thể dẫn đến thiếu máu cục bộ ở mạch vành, não, hoặc thận. Một số trường hợp ngoại lệ không áp dụng nguyên tắc hạ huyết áp từ từ trong ngày đầu, bao gồm: bóc tách động mạch chủ cấp tính, tiền sản giật nặng hoặc sản giật, xuất huyết não, đột quỵ thiếu máu cục bộ, hoặc bệnh nhân được chỉ định sẽ dùng thuốc tiêu sợi huyết. Trong 1 giờ đầu tiên, SBP nên được giảm xuống <120 mmHg trong bóc tách động mạch chủ và xuống <140 mmHg cho hầu hết các tình trạng, bao gồm cơn tăng huyết áp do u tủy thượng thận, đồng thời theo dõi các tổn thương cơ quan đích khác. Một cách tiếp cận khác là giảm 10-15% huyết áp tâm trương (DBP) hoặc giảm về khoảng 110 mmHg trong 30-60 phút, với mục tiêu là giảm về huyết áp bình thường trong 24-48 giờ. Khi huyết áp đã được kiểm soát đạt mục tiêu tại đơn vị hồi sức tích cực (ICU), điều trị IV ban đầu được giảm dần và ngừng, và bắt đầu dùng thuốc đường uống.
Mục tiêu điều trị
Mục tiêu điều trị phụ thuộc vào tình trạng lâm sàng của bệnh nhân. Ở bệnh nhân không có tình trạng bắt buộc phải can thiệp đặc hiệu, cần giảm huyết áp tâm thu (SBP) không quá 25% trong 1 giờ đầu, sau đó nếu tình trạng ổn định thì giảm huyết áp đến <160/100-110 mmHg trong 2-6 giờ tiếp theo, thận trọng giảm đến 130-140 mmHg trong 24-48 giờ tiếp theo nhằm hạn chế tổn thương cơ quan đích. Tránh hạ huyết áp quá mức vì có thể dẫn đến thiếu máu cục bộ ở mạch vành, não, hoặc thận. Một số trường hợp ngoại lệ không áp dụng nguyên tắc hạ huyết áp từ từ trong ngày đầu, bao gồm: bóc tách động mạch chủ cấp tính, tiền sản giật nặng hoặc sản giật, xuất huyết não, đột quỵ thiếu máu cục bộ, hoặc bệnh nhân được chỉ định sẽ dùng thuốc tiêu sợi huyết. Trong 1 giờ đầu tiên, SBP nên được giảm xuống <120 mmHg trong bóc tách động mạch chủ và xuống <140 mmHg cho hầu hết các tình trạng, bao gồm cơn tăng huyết áp do u tủy thượng thận, đồng thời theo dõi các tổn thương cơ quan đích khác. Một cách tiếp cận khác là giảm 10-15% huyết áp tâm trương (DBP) hoặc giảm về khoảng 110 mmHg trong 30-60 phút, với mục tiêu là giảm về huyết áp bình thường trong 24-48 giờ. Khi huyết áp đã được kiểm soát đạt mục tiêu tại đơn vị hồi sức tích cực (ICU), điều trị IV ban đầu được giảm dần và ngừng, và bắt đầu dùng thuốc đường uống.
Điều trị bằng thuốc
Cơn tăng huyết áp cấp
cứu
Hypertensive Crisis_Management 1
Thuốc hạ huyết áp ưu tiên cho một số cơn tăng huyết áp cấp cứu1
Chưa có bằng chứng khuyến cáo một thuốc vượt trội hơn thuốc khác trong việc giảm tỷ lệ mắc bệnh hoặc tử vong. Lựa chọn thuốc phù hợp dựa trên biểu hiện lâm sàng của cá thể, bệnh đồng mắc, chống chỉ định, sự hiện diện và loại tổn thương cơ quan đích, dược lý của thuốc, cũng như tốc độ hạ huyết áp mong muốn.
1Khuyến cáo về thuốc hạ huyết áp ưu tiên có thể khác nhau giữa các quốc gia. Vui lòng tham khảo các hướng dẫn hiện có từ cơ quan y tế địa phương.
Bóc tách động mạch chủ cấp tính
Điều trị ưu tiên: esmolol, glyceryl trinitrate (GTN), nicardipine, nitroprusside (kèm thuốc chẹn β)
Có thể dùng labetalol hoặc metoprolol như các lựa chọn thay thế. Các thuốc này giúp giảm SBP xuống <120 mmHg và nhịp tim xuống <60 lần/phút trong 1 giờ đầu tiên. Điều trị hạ huyết áp đường tĩnh mạch nên được bắt đầu ngay khi nghi ngờ có bóc tách động mạch chủ cấp tính. Tránh dùng thuốc chẹn β khi có hở van động mạch chủ hoặc nghi ngờ chèn ép tim. Bắt đầu điều trị thuốc chẹn β trước khi điều trị thuốc giãn mạch (ví dụ nicardipine hoặc nitroprusside) để tránh nhịp nhanh phản xạ hoặc tác dụng tăng co bóp tim.
Hội chứng mạch vành cấp
Hypertensive Crisis_Management 2
Điều trị ưu tiên: clevidipine, esmolol với GTN, labetalol với GTN, nicardipine, nitroprusside
Thuốc nitrate làm giảm tiền tải thất trái và cung lượng tim, đồng thời cải thiện lưu lượng máu động mạch vành. Thuốc chẹn β làm giảm nhịp tim, giảm hậu tải và cải thiện tưới máu mạch vành thì tâm trương. Chống chỉ định với thuốc chẹn β bao gồm suy thất trái từ trung bình đến nặng kèm phù phổi, nhịp tim <60 lần/phút, SBP <100 mmHg, tưới máu ngoại vi kém, block nhĩ–thất độ II hoặc III, và bệnh đường thở tăng phản ứng. Có thể dùng urapidil như một thuốc thay thế. Điều trị khi SBP >160 mmHg và/hoặc DBP >100 mmHg; giảm SBP xuống <140 mmHg. Không nên dùng thuốc tiêu sợi huyết nếu huyết áp >185/100 mmHg.
Suy tim cấp
Điều trị ưu tiên: clevidipine, enalapril, glyceryl trinitrate
Enalapril có thể giảm hậu tải, do đó cải thiện cung lượng tim. Clevidipine làm giảm sức cản mạch ngoại biên; một nghiên cứu nhỏ cho thấy hiệu quả giảm huyết áp mà không gây ra phản ứng bất lợi. Giảm <25% huyết áp trong vòng 1 giờ, sau đó ≤160/100 mmHg trong 2-6 giờ. Dùng thuốc giãn mạch và thuốc lợi tiểu khi SBP ≥140 mmHg; GTN đường tĩnh mạch hoặc ngậm dưới lưỡi được ưu tiên sử dụng.
Phù phổi cấp
Điều trị ưu tiên: clevidipine, glyceryl trinitrate, nitroprusside
Có thể dùng urapidil (kèm thuốc lợi tiểu quai) như thuốc thay thế cho phù phổi cấp tính do tim. Giảm SBP xuống <140 mmHg. Tránh dùng thuốc chẹn β.
Suy thận cấp/Thiếu máu vi mạch
Hypertensive Crisis_Management 3
Điều trị ưu tiên: clevidipine, fenoldopam, labetalol, nicardipine
Fenoldopam là thuốc chủ vận chọn lọc thụ thể dopamine-1, làm tăng tưới máu thận. Trong trường hợp suy thận cấp, huyết áp động mạch trung bình (MAP) nên được giảm 20-25% trong vòng 3-24 giờ.
Xuất huyết não cấp
Điều trị ưu tiên: clevidipine, esmolol, fenoldopam, hydralazine, labetalol, nicardipine
Trong trường hợp có tăng áp lực nội sọ (ICP), duy trì MAP <130 mmHg hoặc SBP <180 mmHg trong 24 giờ đầu sau khi khởi phát; tránh hạ huyết áp xuống <110 mmHg. Trường hợp không có tăng ICP, duy trì MAP <110 mmHg hoặc SBP <160 mmHg trong 24 giờ đầu sau khi khởi phát.
Đột quỵ thiếu máu cục bộ cấp tính
Điều trị ưu tiên: clevidipine, esmolol, fenoldopam, hydralazine, labetalol, nicardipine
Huyết áp động mạch trung bình (MAP) nên được giảm tối đa 15-20% hoặc đến DBP không thấp hơn 100-110 mmHg trong 24 giờ đầu; tuy nhiên, nếu bệnh nhân đang được điều trị tiêu sợi huyết, mục tiêu huyết áp là <185/110 mmHg. Không dùng thuốc hạ huyết áp trừ khi SBP >220 mmHg hoặc DBP >120 mmHg. Nếu DBP >140 mmHg, có thể dùng nitroprusside để đạt được giảm 10-15% trong 24 giờ.
Bệnh não do tăng huyết áp
Hypertensive Crisis_Management 4
Điều trị ưu tiên: clevidipine, fenoldopam, labetalol, nicardipine, nitroprusside
Huyết áp động mạch trung bình (MAP) nên được giảm 20-25% hoặc đến DBP 100-110 mmHg trong 1 giờ đầu, sau đó giảm dần huyết áp về mức bình thường trong 48-72 giờ.
Xuất huyết dưới nhện
Điều trị ưu tiên: esmolol, labetalol, nicardipine
Huyết áp tâm thu (SBP) nên được duy trì ở mức <160 mmHg cho đến khi tình trạng phình động mạch được điều trị hoặc khi xảy ra co thắt mạch máu não.
Tăng huyết áp ác tính có hoặc không có suy thận cấp
Điều trị ưu tiên: labetalol, nicardipine
Có thể dùng nitroprusside hoặc urapidil như một thuốc thay thế. Huyết áp trung bình (MAP) nên được giảm 20-25%.
Cơn bão adrenergic
Tình trạng tăng adrenergic bao gồm sử dụng thuốc cường giao cảm (ví dụ cocaine, amphetamines, phenylpropanolamine, phối hợp MAOI với thực phẩm giàu tyramine), u tủy thượng thận hoặc sau khi ngừng đột ngột thuốc chẹn giao cảm tác dụng ngắn. Thuốc chẹn alpha là lựa chọn ưu tiên. Tránh dùng thuốc chẹn beta chọn lọc vì có thể làm nặng thêm tình trạng tăng huyết áp.
Điều trị ưu tiên cho u tủy thượng thận: clevidipine, labetalol phối hợp với nitroprusside, nicardipine, phentolamine, urapidil
SBP nên được giảm xuống <140 mmHg trong giờ điều trị đầu tiên.
Điều trị ưu tiên cho cơn tăng giao cảm liên quan đến sử dụng thuốc cường giao cảm: benzodiazepine, clonidine, diltiazem, labetalol phối hợp với nitroprusside, nicardipine phối hợp với benzodiazepine, phentolamine, verapamil
Hạ nhanh huyết áp cho đến khi triệu chứng chấm dứt.
Tiền sản giật hoặc sản giật nặng
Hypertensive Crisis_Management 5
Điều trị ưu tiên: hydralazine, labetalol, nicardipine, nifedipine
SBP nên được giảm xuống <140 mmHg trong vòng 1 giờ điều trị đầu tiên. SBP >160 mmHg có liên quan đến tai biến mạch máu não. Nên dùng magiê sulfat để phòng ngừa co giật. Tránh dùng nitroprusside, thuốc ức chế men chuyển, thuốc chẹn thụ thể angiotensin, thuốc ức chế renin, và esmolol.
Vui lòng xem sơ đồ quản lý Tăng huyết áp khi mang thai để biết thêm thông tin.
Tăng huyết áp cấp tính sau phẫu thuật
Điều trị ưu tiên: clevidipine, esmolol, labetalol, nicardipine, urapidil
Chỉ định điều trị ở bệnh nhân phẫu thuật tim với HA >140/90 mmHg hoặc MAP tối thiểu 105 mmHg.
Tăng huyết áp nặng cấp tính
Thuật ngữ “tăng huyết áp khẩn cấp” đã dẫn đến việc xử trí quá mức ở nhiều bệnh nhân.
Giảm HA xuống ≤160/100 mmHg trong vòng vài giờ đến vài ngày. MAP không nên giảm quá >25-30% trong vài giờ đầu. Có thể giảm HA ở những bệnh nhân này bằng thuốc uống tác dụng ngắn và không cần theo dõi tích cực. Cân nhắc bổ sung thêm thuốc lợi tiểu ở bệnh nhân ăn mặn dẫn đến tăng huyết áp nặng hơn. Bệnh nhân không triệu chứng nhưng bị tăng huyết áp nặng cấp tính có thể được điều trị bằng thuốc dùng thường quy và theo dõi sát, thường xuyên, đồng thời tránh dùng thuốc theo nhu cầu. Hiện chưa có sự đồng thuận nào cho rằng việc bắt đầu điều trị tại khoa Cấp cứu là hiệu quả về mặt chi phí và cải thiện chăm sóc lâu dài cho bệnh nhân.
Thuốc ưu tiên cho tăng huyết áp nặng cấp tính
Vui lòng xem sơ đồ quản lý Tăng huyết áp để biết đầy đủ hướng dẫn liều của các thuốc uống sau:
Captopril
Hypertensive Crisis_Management 6
Captopril được xem là thuốc điều trị hàng đầu. Thời gian khởi phát tác dụng trong vòng 30-60 phút. Dùng phối hợp với thuốc lợi tiểu quai¹ làm tăng hiệu quả của thuốc này. Tránh dùng ở bệnh nhân hẹp động mạch thận hai bên mức độ cao hoặc quá tải dịch.
¹Vui lòng xem sơ đồ quản lý Tăng huyết áp để biết hướng dẫn liều của thuốc lợi tiểu.
Amlodipine
Amlodipine có thời gian khởi phát tác dụng trong vòng 30-50 phút.
Clonidine
Clonidine có thời gian khởi phát tác dụng trong vòng 30-60 phút. Tránh dùng ở bệnh nhân cần theo dõi tình trạng tâm thần; thuốc này không dùng cho điều trị dài hạn.
Labetalol
Labetalol có thời gian khởi phát tác dụng trong vòng 20-120 phút. Tránh dùng ở bệnh nhân hen phế quản vì có thể làm nặng tình trạng co thắt phế quản. Thận trọng ở bệnh nhân nhịp tim chậm có triệu chứng, suy tim sung huyết, và block nhĩ-thất.
Nifedipine (phóng thích kéo dài)
Nifedipine có thời gian khởi phát tác dụng trong vòng 30 phút. Tránh dùng nifedipine đường uống tác dụng ngắn hoặc ngậm dưới lưỡi do nguy cơ đột quỵ, nhồi máu cơ tim cấp, và hạ huyết áp nặng.
Prazosin
Hypertensive Crisis_Management 7
Prazosin có thời gian khởi phát tác dụng trong vòng 2-4 giờ. Thuốc có thể gây hạ huyết áp tư thế và ngất với liều đầu tiên.
Hypertensive Crisis_Management 1Thuốc hạ huyết áp ưu tiên cho một số cơn tăng huyết áp cấp cứu1
Chưa có bằng chứng khuyến cáo một thuốc vượt trội hơn thuốc khác trong việc giảm tỷ lệ mắc bệnh hoặc tử vong. Lựa chọn thuốc phù hợp dựa trên biểu hiện lâm sàng của cá thể, bệnh đồng mắc, chống chỉ định, sự hiện diện và loại tổn thương cơ quan đích, dược lý của thuốc, cũng như tốc độ hạ huyết áp mong muốn.
1Khuyến cáo về thuốc hạ huyết áp ưu tiên có thể khác nhau giữa các quốc gia. Vui lòng tham khảo các hướng dẫn hiện có từ cơ quan y tế địa phương.
Bóc tách động mạch chủ cấp tính
Điều trị ưu tiên: esmolol, glyceryl trinitrate (GTN), nicardipine, nitroprusside (kèm thuốc chẹn β)
Có thể dùng labetalol hoặc metoprolol như các lựa chọn thay thế. Các thuốc này giúp giảm SBP xuống <120 mmHg và nhịp tim xuống <60 lần/phút trong 1 giờ đầu tiên. Điều trị hạ huyết áp đường tĩnh mạch nên được bắt đầu ngay khi nghi ngờ có bóc tách động mạch chủ cấp tính. Tránh dùng thuốc chẹn β khi có hở van động mạch chủ hoặc nghi ngờ chèn ép tim. Bắt đầu điều trị thuốc chẹn β trước khi điều trị thuốc giãn mạch (ví dụ nicardipine hoặc nitroprusside) để tránh nhịp nhanh phản xạ hoặc tác dụng tăng co bóp tim.
Hội chứng mạch vành cấp
Hypertensive Crisis_Management 2Điều trị ưu tiên: clevidipine, esmolol với GTN, labetalol với GTN, nicardipine, nitroprusside
Thuốc nitrate làm giảm tiền tải thất trái và cung lượng tim, đồng thời cải thiện lưu lượng máu động mạch vành. Thuốc chẹn β làm giảm nhịp tim, giảm hậu tải và cải thiện tưới máu mạch vành thì tâm trương. Chống chỉ định với thuốc chẹn β bao gồm suy thất trái từ trung bình đến nặng kèm phù phổi, nhịp tim <60 lần/phút, SBP <100 mmHg, tưới máu ngoại vi kém, block nhĩ–thất độ II hoặc III, và bệnh đường thở tăng phản ứng. Có thể dùng urapidil như một thuốc thay thế. Điều trị khi SBP >160 mmHg và/hoặc DBP >100 mmHg; giảm SBP xuống <140 mmHg. Không nên dùng thuốc tiêu sợi huyết nếu huyết áp >185/100 mmHg.
Suy tim cấp
Điều trị ưu tiên: clevidipine, enalapril, glyceryl trinitrate
Enalapril có thể giảm hậu tải, do đó cải thiện cung lượng tim. Clevidipine làm giảm sức cản mạch ngoại biên; một nghiên cứu nhỏ cho thấy hiệu quả giảm huyết áp mà không gây ra phản ứng bất lợi. Giảm <25% huyết áp trong vòng 1 giờ, sau đó ≤160/100 mmHg trong 2-6 giờ. Dùng thuốc giãn mạch và thuốc lợi tiểu khi SBP ≥140 mmHg; GTN đường tĩnh mạch hoặc ngậm dưới lưỡi được ưu tiên sử dụng.
Phù phổi cấp
Điều trị ưu tiên: clevidipine, glyceryl trinitrate, nitroprusside
Có thể dùng urapidil (kèm thuốc lợi tiểu quai) như thuốc thay thế cho phù phổi cấp tính do tim. Giảm SBP xuống <140 mmHg. Tránh dùng thuốc chẹn β.
Suy thận cấp/Thiếu máu vi mạch
Hypertensive Crisis_Management 3Điều trị ưu tiên: clevidipine, fenoldopam, labetalol, nicardipine
Fenoldopam là thuốc chủ vận chọn lọc thụ thể dopamine-1, làm tăng tưới máu thận. Trong trường hợp suy thận cấp, huyết áp động mạch trung bình (MAP) nên được giảm 20-25% trong vòng 3-24 giờ.
Xuất huyết não cấp
Điều trị ưu tiên: clevidipine, esmolol, fenoldopam, hydralazine, labetalol, nicardipine
Trong trường hợp có tăng áp lực nội sọ (ICP), duy trì MAP <130 mmHg hoặc SBP <180 mmHg trong 24 giờ đầu sau khi khởi phát; tránh hạ huyết áp xuống <110 mmHg. Trường hợp không có tăng ICP, duy trì MAP <110 mmHg hoặc SBP <160 mmHg trong 24 giờ đầu sau khi khởi phát.
Đột quỵ thiếu máu cục bộ cấp tính
Điều trị ưu tiên: clevidipine, esmolol, fenoldopam, hydralazine, labetalol, nicardipine
Huyết áp động mạch trung bình (MAP) nên được giảm tối đa 15-20% hoặc đến DBP không thấp hơn 100-110 mmHg trong 24 giờ đầu; tuy nhiên, nếu bệnh nhân đang được điều trị tiêu sợi huyết, mục tiêu huyết áp là <185/110 mmHg. Không dùng thuốc hạ huyết áp trừ khi SBP >220 mmHg hoặc DBP >120 mmHg. Nếu DBP >140 mmHg, có thể dùng nitroprusside để đạt được giảm 10-15% trong 24 giờ.
Bệnh não do tăng huyết áp
Hypertensive Crisis_Management 4Điều trị ưu tiên: clevidipine, fenoldopam, labetalol, nicardipine, nitroprusside
Huyết áp động mạch trung bình (MAP) nên được giảm 20-25% hoặc đến DBP 100-110 mmHg trong 1 giờ đầu, sau đó giảm dần huyết áp về mức bình thường trong 48-72 giờ.
Xuất huyết dưới nhện
Điều trị ưu tiên: esmolol, labetalol, nicardipine
Huyết áp tâm thu (SBP) nên được duy trì ở mức <160 mmHg cho đến khi tình trạng phình động mạch được điều trị hoặc khi xảy ra co thắt mạch máu não.
Tăng huyết áp ác tính có hoặc không có suy thận cấp
Điều trị ưu tiên: labetalol, nicardipine
Có thể dùng nitroprusside hoặc urapidil như một thuốc thay thế. Huyết áp trung bình (MAP) nên được giảm 20-25%.
Cơn bão adrenergic
Tình trạng tăng adrenergic bao gồm sử dụng thuốc cường giao cảm (ví dụ cocaine, amphetamines, phenylpropanolamine, phối hợp MAOI với thực phẩm giàu tyramine), u tủy thượng thận hoặc sau khi ngừng đột ngột thuốc chẹn giao cảm tác dụng ngắn. Thuốc chẹn alpha là lựa chọn ưu tiên. Tránh dùng thuốc chẹn beta chọn lọc vì có thể làm nặng thêm tình trạng tăng huyết áp.
Điều trị ưu tiên cho u tủy thượng thận: clevidipine, labetalol phối hợp với nitroprusside, nicardipine, phentolamine, urapidil
SBP nên được giảm xuống <140 mmHg trong giờ điều trị đầu tiên.
Điều trị ưu tiên cho cơn tăng giao cảm liên quan đến sử dụng thuốc cường giao cảm: benzodiazepine, clonidine, diltiazem, labetalol phối hợp với nitroprusside, nicardipine phối hợp với benzodiazepine, phentolamine, verapamil
Hạ nhanh huyết áp cho đến khi triệu chứng chấm dứt.
Tiền sản giật hoặc sản giật nặng
Hypertensive Crisis_Management 5Điều trị ưu tiên: hydralazine, labetalol, nicardipine, nifedipine
SBP nên được giảm xuống <140 mmHg trong vòng 1 giờ điều trị đầu tiên. SBP >160 mmHg có liên quan đến tai biến mạch máu não. Nên dùng magiê sulfat để phòng ngừa co giật. Tránh dùng nitroprusside, thuốc ức chế men chuyển, thuốc chẹn thụ thể angiotensin, thuốc ức chế renin, và esmolol.
Vui lòng xem sơ đồ quản lý Tăng huyết áp khi mang thai để biết thêm thông tin.
Tăng huyết áp cấp tính sau phẫu thuật
Điều trị ưu tiên: clevidipine, esmolol, labetalol, nicardipine, urapidil
Chỉ định điều trị ở bệnh nhân phẫu thuật tim với HA >140/90 mmHg hoặc MAP tối thiểu 105 mmHg.
Tăng huyết áp nặng cấp tính
Thuật ngữ “tăng huyết áp khẩn cấp” đã dẫn đến việc xử trí quá mức ở nhiều bệnh nhân.
Giảm HA xuống ≤160/100 mmHg trong vòng vài giờ đến vài ngày. MAP không nên giảm quá >25-30% trong vài giờ đầu. Có thể giảm HA ở những bệnh nhân này bằng thuốc uống tác dụng ngắn và không cần theo dõi tích cực. Cân nhắc bổ sung thêm thuốc lợi tiểu ở bệnh nhân ăn mặn dẫn đến tăng huyết áp nặng hơn. Bệnh nhân không triệu chứng nhưng bị tăng huyết áp nặng cấp tính có thể được điều trị bằng thuốc dùng thường quy và theo dõi sát, thường xuyên, đồng thời tránh dùng thuốc theo nhu cầu. Hiện chưa có sự đồng thuận nào cho rằng việc bắt đầu điều trị tại khoa Cấp cứu là hiệu quả về mặt chi phí và cải thiện chăm sóc lâu dài cho bệnh nhân.
Thuốc ưu tiên cho tăng huyết áp nặng cấp tính
Vui lòng xem sơ đồ quản lý Tăng huyết áp để biết đầy đủ hướng dẫn liều của các thuốc uống sau:
Captopril
Hypertensive Crisis_Management 6Captopril được xem là thuốc điều trị hàng đầu. Thời gian khởi phát tác dụng trong vòng 30-60 phút. Dùng phối hợp với thuốc lợi tiểu quai¹ làm tăng hiệu quả của thuốc này. Tránh dùng ở bệnh nhân hẹp động mạch thận hai bên mức độ cao hoặc quá tải dịch.
¹Vui lòng xem sơ đồ quản lý Tăng huyết áp để biết hướng dẫn liều của thuốc lợi tiểu.
Amlodipine
Amlodipine có thời gian khởi phát tác dụng trong vòng 30-50 phút.
Clonidine
Clonidine có thời gian khởi phát tác dụng trong vòng 30-60 phút. Tránh dùng ở bệnh nhân cần theo dõi tình trạng tâm thần; thuốc này không dùng cho điều trị dài hạn.
Labetalol
Labetalol có thời gian khởi phát tác dụng trong vòng 20-120 phút. Tránh dùng ở bệnh nhân hen phế quản vì có thể làm nặng tình trạng co thắt phế quản. Thận trọng ở bệnh nhân nhịp tim chậm có triệu chứng, suy tim sung huyết, và block nhĩ-thất.
Nifedipine (phóng thích kéo dài)
Nifedipine có thời gian khởi phát tác dụng trong vòng 30 phút. Tránh dùng nifedipine đường uống tác dụng ngắn hoặc ngậm dưới lưỡi do nguy cơ đột quỵ, nhồi máu cơ tim cấp, và hạ huyết áp nặng.
Prazosin
Hypertensive Crisis_Management 7Prazosin có thời gian khởi phát tác dụng trong vòng 2-4 giờ. Thuốc có thể gây hạ huyết áp tư thế và ngất với liều đầu tiên.
