Tổng quan
Như đã đề cập trong phần Giới thiệu, giãn phế quản là một bệnh viêm phổi mạn tính gây giãn không hồi phục và phá hủy các phế quản, dẫn đến tắc nghẽn luồng khí và suy giảm khả năng làm sạch dịch tiết.
Phần Dịch tễ học trình bày chi tiết về tỷ lệ mắc mới và tỷ lệ hiện mắc của giãn phế quản.
Phần Sinh bệnh học nêu 4 yếu tố quan trọng trong sự phát triển của giãn phế quản, gồm: nhiễm trùng mạn tính, viêm đường thở, suy giảm thanh thải chất nhầy bằng lông chuyển và tổn thương cấu trúc phổi. Cách thức 4 yếu tố này tương tác với nhau được bàn luận thêm trong phần này.
Như đã đề cập trong phần Nguyên nhân, có nhiều căn nguyên có thể khởi phát hoặc góp phần vào sự phát triển của giãn phế quản như nhiễm trùng nguyên phát, tắc nghẽn phế quản và hít sặc tái diễn, xơ nang, rối loạn vận động lông chuyển nguyên phát, viêm phế quản–phổi dị ứng do Aspergillus (ABPA), hội chứng Young, v.v.
Bronchiectasis_Disease Summary
Phần Dịch tễ học trình bày chi tiết về tỷ lệ mắc mới và tỷ lệ hiện mắc của giãn phế quản.
Phần Sinh bệnh học nêu 4 yếu tố quan trọng trong sự phát triển của giãn phế quản, gồm: nhiễm trùng mạn tính, viêm đường thở, suy giảm thanh thải chất nhầy bằng lông chuyển và tổn thương cấu trúc phổi. Cách thức 4 yếu tố này tương tác với nhau được bàn luận thêm trong phần này.
Như đã đề cập trong phần Nguyên nhân, có nhiều căn nguyên có thể khởi phát hoặc góp phần vào sự phát triển của giãn phế quản như nhiễm trùng nguyên phát, tắc nghẽn phế quản và hít sặc tái diễn, xơ nang, rối loạn vận động lông chuyển nguyên phát, viêm phế quản–phổi dị ứng do Aspergillus (ABPA), hội chứng Young, v.v.
Bronchiectasis_Disease SummaryTiền sử và khám thực thể
Phần Biểu hiện lâm sàng mô tả biểu hiện kinh điển của giãn phế quản là ho khạc đờm hầu hết các ngày kèm đã xảy ra các đợt cấp. Phần này cũng phân chia dấu hiệu và triệu chứng thành mức độ nhẹ, trung bình và nặng.
Phần Tiền sử nhấn mạnh tầm quan trọng của đánh giá mức độ nặng của triệu chứng, tần suất đợt cấp, chức năng hô hấp và rà soát các bệnh đi kèm.
Các phát hiện chung ở bệnh nhân giãn phế quản được nêu trong phần Khám thực thể. Các dấu hiệu thực thể khác cũng được bàn luận trong phần này.
Phần Tiền sử nhấn mạnh tầm quan trọng của đánh giá mức độ nặng của triệu chứng, tần suất đợt cấp, chức năng hô hấp và rà soát các bệnh đi kèm.
Các phát hiện chung ở bệnh nhân giãn phế quản được nêu trong phần Khám thực thể. Các dấu hiệu thực thể khác cũng được bàn luận trong phần này.
Chẩn đoán
Như đã đề cập trong phần Chẩn đoán và Tiêu chuẩn chẩn đoán, chẩn đoán giãn phế quản dựa trên tiền sử lâm sàng ho mạn tính với đàm đặc quánh, có ≥1 đợt cấp mỗi năm và các đặc điểm điển hình trên kết quả chụp cắt lớp vi tính (CT) lồng ngực.
Các xét nghiệm chẩn đoán khác nhau như phân tích đàm và thăm dò chức năng hô hấp được bàn luận trong phần Xét nghiệm và hỗ trợ chẩn đoán. Các thăm dò chẩn đoán khác có thể thực hiện cũng được nêu trong phần này.
Phần Hình ảnh học liệt kê các phương thức chẩn đoán hình ảnh có thể thực hiện. Các đặc điểm điển hình cũng được mô tả tại đây.
Các tình trạng khác cần loại trừ khi chẩn đoán giãn phế quản được liệt kê trong phần Chẩn đoán phân biệt.
Các xét nghiệm chẩn đoán khác nhau như phân tích đàm và thăm dò chức năng hô hấp được bàn luận trong phần Xét nghiệm và hỗ trợ chẩn đoán. Các thăm dò chẩn đoán khác có thể thực hiện cũng được nêu trong phần này.
Phần Hình ảnh học liệt kê các phương thức chẩn đoán hình ảnh có thể thực hiện. Các đặc điểm điển hình cũng được mô tả tại đây.
Các tình trạng khác cần loại trừ khi chẩn đoán giãn phế quản được liệt kê trong phần Chẩn đoán phân biệt.
Quản lý
Phần Đánh giá liệt kê các yếu tố dự báo đợt cấp như tiền sử đợt cấp, nhiễm P. aeruginosa, các bệnh hô hấp đi kèm và cả nhiễm virus đường hô hấp. Định nghĩa của đợt cấp cấp tính cũng có trong phần này.
Các mục tiêu điều trị của giãn phế quản được bàn luận trong phần Nguyên tắc điều trị. Phần này cũng thảo luận về liệu pháp hoặc cách tiếp cận cụ thể theo từng nguyên nhân gây giãn phế quản.
Phần Điều trị bằng thuốc trình bày chi tiết về các thuốc khác nhau được sử dụng trong giãn phế quản.
Phần Điều trị không dùng thuốc thảo luận về các can thiệp khác như giáo dục bệnh nhân, vật lý trị liệu lồng ngực, phục hồi chức năng hô hấp, vệ sinh phế quản–phổi và liệu pháp oxy (O2).
Các can thiệp phẫu thuật khác nhau như cắt bỏ phổi và ghép phổi được thảo luận trong phần Phẫu thuật.
Như đã mô tả trong phần Theo dõi, theo dõi giãn phế quản có thể bao gồm cấy đờm, đo độ bão hòa oxy (SpO2) và đánh giá bằng thang điểm khó thở của Hội đồng Nghiên cứu Y khoa (MRC). Tùy mức độ nặng, có thể thực hiện đo phế dung hàng năm, đo chỉ số khối cơ thể (BMI) và chụp cắt lớp vi tính (CT).
Các mục tiêu điều trị của giãn phế quản được bàn luận trong phần Nguyên tắc điều trị. Phần này cũng thảo luận về liệu pháp hoặc cách tiếp cận cụ thể theo từng nguyên nhân gây giãn phế quản.
Phần Điều trị bằng thuốc trình bày chi tiết về các thuốc khác nhau được sử dụng trong giãn phế quản.
Phần Điều trị không dùng thuốc thảo luận về các can thiệp khác như giáo dục bệnh nhân, vật lý trị liệu lồng ngực, phục hồi chức năng hô hấp, vệ sinh phế quản–phổi và liệu pháp oxy (O2).
Các can thiệp phẫu thuật khác nhau như cắt bỏ phổi và ghép phổi được thảo luận trong phần Phẫu thuật.
Như đã mô tả trong phần Theo dõi, theo dõi giãn phế quản có thể bao gồm cấy đờm, đo độ bão hòa oxy (SpO2) và đánh giá bằng thang điểm khó thở của Hội đồng Nghiên cứu Y khoa (MRC). Tùy mức độ nặng, có thể thực hiện đo phế dung hàng năm, đo chỉ số khối cơ thể (BMI) và chụp cắt lớp vi tính (CT).
