Giám sát
Theo dõi giãn phế quản có thể bao gồm cấy đàm, đo độ bão hòa O2 (SpO2), và đánh giá bằng thang điểm khó thở của Hội đồng Nghiên cứu Y khoa (MRC). Với bệnh nhẹ, tái khám hàng năm, trong khi bệnh trung bình-nặng, tái khám mỗi 6 tháng. Có thể thực hiện đo hô hấp ký và đo BMI hàng năm. Chụp CT được chỉ định cho bệnh nhân có diễn tiến lâm sàng xấu đi hoặc thực hiện mỗi 5 năm ở bệnh nhân suy giảm miễn dịch nguyên phát. Theo dõi cũng bao gồm giám sát định kỳ và xử trí biến chứng và bệnh đi kèm. Điều trị các biến chứng và/hoặc bệnh đi kèm có thể có như thiếu hụt dinh dưỡng, GERD/hít sặc, hen phế quản, COPD và ABPA cùng các tác nhân gây bệnh khác, rối loạn răng miệng và tai mũi họng, tiểu không tự chủ, lo âu và rối loạn sức khỏe tâm thần cũng quan trọng. Một số bệnh nhân cũng có thể cần đánh giá rối loạn hô hấp khi ngủ và biến chứng tim mạch. Cần xác định bệnh nhân có nguy cơ cao gặp biến chứng và xem xét theo dõi thường xuyên hơn, bao gồm bệnh nhân COPD, rối loạn vận động lông chuyển nguyên phát hoặc giãn phế quản liên quan đến viêm khớp dạng thấp, nhiễm P. aeruginosa hoặc các vi khuẩn Gram âm đường ruột khác, những người có ≥2 đợt cấp mỗi năm hoặc ≥1 đợt cấp nặng (định nghĩa là cần nhập viện hoặc dùng kháng sinh đường tĩnh mạch) trong 1 năm trước, triệu chứng nặng bao gồm lượng đàm hàng ngày nhiều và đàm có mủ, và những người nhiễm mycobacteria không phải lao hoặc ABPA.
