Khó tiêu Đánh giá ban đầu

Cập nhật: 27 January 2026

Biểu hiện lâm sàng

Chỉ dựa vào triệu chứng thì không đủ tin cậy để phân biệt nguyên nhân của khó tiêu thực thể với khó tiêu chức năng; do đó, bệnh nhân cần được thăm dò để loại trừ bệnh thực thể, toàn thân hoặc chuyển hóa nhằm chẩn đoán khó tiêu chức năng. Khó tiêu ở bệnh nhân chưa được nội soi để xác định nguyên nhân cụ thể được gọi là khó tiêu chưa được thăm khám.

Dấu hiệu và triệu chứng

Dyspepsia_Initial Assesment 1Dyspepsia_Initial Assesment 1


Triệu chứng giống loét là tình trạng đau hoặc khó chịu mạn tính hoặc tái diễn ở vùng thượng vị trong ít nhất 2-4 tuần. Đau giảm khi ăn hoặc dùng thuốc giảm acid, xảy ra trước bữa ăn hoặc khi đói, có thể đánh thức bệnh nhân lúc ngủ và có xu hướng theo mô hình thuyên giảm rồi tái phát. Triệu chứng giống trào ngược được đặc trưng bởi trào ngược acid và ợ nóng. Triệu chứng giống rối loạn nhu động bao gồm đầy chướng ở vùng thượng vị không kèm chướng bụng rõ rệt, cảm giác no sớm, buồn nôn và nôn; cảm giác đầy tức sau ăn và khó chịu vùng thượng vị thường trầm trọng hơn khi ăn. Bệnh nhân phương Tây thường gặp triệu chứng giống loét và giống trào ngược, trong khi bệnh nhân phương Đông chủ yếu gặp kiểu rối loạn vận động hoặc hội chứng khó chịu sau ăn (PDS), bao gồm cảm giác no sớm, chướng bụng và ợ hơi.

Tiền sử

Dyspepsia_Initial Assesment 2Dyspepsia_Initial Assesment 2


Khai thác thời điểm khởi phát, mức độ nặng và thời gian kéo dài của triệu chứng và mọi triệu chứng tiến triển nên được xem xét trong các chẩn đoán phân biệt. Tiền sử bệnh, phẫu thuật, yếu tố xã hội (ví dụ hút thuốc và uống rượu, stress, sang chấn tâm lý), tiền sử gia đình và chế độ ăn chi tiết giúp thu hẹp các chẩn đoán phân biệt. Xem lại các thuốc để tìm các nguyên nhân có thể gây khó tiêu (ví dụ thuốc đối kháng canxi, nitrate, theophylline, bisphosphonate, steroid và thuốc chống viêm không steroid [NSAID], aspirin, acarbose, orlistat, thuốc bổ sung kali, opioid).

Khó tiêu chức năng đã được báo cáo có liên quan đáng kể với trầm cảm, lo âu và các yếu tố bệnh lý tâm thần khác. Sàng lọc lo âu và trầm cảm lần lượt bằng công cụ Generalized Anxiety Disorder-7 (Rối loạn lo âu lan tỏa-7) (GAD-7) và Patient Health Questionnaire-9 (Bảng câu hỏi sức khỏe bệnh nhân-9) (PHQ-9). Cân nhắc chuyển chuyên khoa sớm cho bệnh nhân được xác định có triệu chứng tâm lý nặng để có thể điều trị đồng thời các tình trạng bệnh tâm thần nền, thay vì trì hoãn chuyển tuyến cho đến khi thất bại với nhiều liệu pháp nội khoa.

Khám thực thể

Dyspepsia_Initial Assesment 3Dyspepsia_Initial Assesment 3


Khám thực thể nên bao gồm dấu hiệu sinh tồn của bệnh nhân, chỉ số khối cơ thể (BMI) và khám bụng, trực tràng và vùng chậu (đối với nữ). Kết quả thường bình thường ngoại trừ trường hợp ấn đau thượng vị. Các phát hiện thực thể khác có thể giúp chẩn đoán hoặc loại trừ bệnh lý khác bao gồm ấn đau hạ sườn phải gợi ý viêm túi mật, khối bụng sờ thấy trong ung thư gan, và nổi hạch trong ung thư dạ dày.

Chẩn đoán & Tiêu chuẩn chẩn đoán

Khó tiêu chức năng hoặc khó tiêu không loét

Khó tiêu chức năng hoặc khó tiêu không loét là khi không ghi nhận được bằng chứng trên đánh giá thường quy (bao gồm hình ảnh học hoặc nội soi đường tiêu hóa trên) về bệnh thực thể, toàn thân hoặc chuyển hóa để có thể giải thích các triệu chứng khó tiêu mạn tính, đủ nặng để làm suy giảm hoạt động hàng ngày.

Dyspepsia_Initial Assesment 4Dyspepsia_Initial Assesment 4


Khó tiêu chức năng bao gồm các phân nhóm có thể chồng lấp: Hội chứng khó tiêu sau ăn (PDS - Postprandial Distress Syndrome), tức các triệu chứng khó tiêu do bữa ăn gây ra; và hội chứng đau thượng vị (EPS - Epigastric Pain Syndrome), tức các triệu chứng khó tiêu không chỉ xảy ra sau ăn và có thể cải thiện khi ăn. Phân nhóm chồng lấp EPS-PDS có thể gặp ở tới 20% bệnh nhân theo tiêu chuẩn Rome IV. Các Bảng câu hỏi chẩn đoán Rome IV (Rome IV Diagnostic Questionnaires) được xây dựng như một công cụ chuẩn hóa để sàng lọc các rối loạn tương tác não-ruột (DGBI - Disorders of Gut-Brain Interaction), bao gồm khó tiêu chức năng, và đã được chứng minh là có giá trị trên toàn cầu, mặc dù tính phức tạp của chúng đã làm hạn chế việc sử dụng rộng rãi trong thực hành lâm sàng.

Tiêu chuẩn chẩn đoán Rome IV cho Khó tiêu chức năng và các phân nhóm

Khó tiêu chức năng được chẩn đoán ở bệnh nhân có các triệu chứng trong 3 tháng qua, với khởi phát triệu chứng ít nhất 6 tháng trước khi chẩn đoán, và có ≥1 triệu chứng gây khó chịu (ví dụ đau hoặc nóng rát thượng vị, no sớm hoặc đầy bụng sau ăn) khi không có bằng chứng về bệnh cấu trúc (bao gồm qua nội soi trên) có thể gây ra các triệu chứng này.

Hội chứng khó tiêu sau ăn (PDS) bao gồm một hoặc cả hai triệu chứng sau đây xuất hiện ít nhất 3 ngày/tuần: Cảm giác đầy bụng sau ăn gây khó chịu (đủ nghiêm trọng để gây ảnh hưởng đến hoạt động thường ngày) hoặc cảm giác no sớm gây khó chịu (đủ nghiêm trọng để cản trở việc hoàn thành một bữa ăn bình thường). Tiêu chí bổ sung bao gồm: Có thể kèm đau hoặc nóng rát thượng vị sau ăn, đầy hơi thượng vị, ợ hơi nhiều và buồn nôn; nôn ói có thể gợi ý rối loạn khác; ợ nóng không phải là triệu chứng khó tiêu nhưng có thể hiện diện đồng thời; các triệu chứng được giảm khi đại tiện hoặc xì hơi nói chung không được cân nhắc là một phần của khó tiêu; và các triệu chứng tiêu hóa khác (ví dụ GERD và IBS) có thể đồng mắc với PDS.

Hội chứng đau thượng vị (EPS) bao gồm một hoặc cả hai triệu chứng sau đây xuất hiện ít nhất 1 ngày/tuần và đủ nghiêm trọng để ảnh hưởng hoạt động thường ngày: Đau thượng vị gây khó chịu hoặc nóng rát thượng vị gây khó chịu. Tiêu chí bổ sung bao gồm: Đau có thể xuất hiện hoặc giảm khi ăn, hoặc có thể xảy ra khi đói; có thể kèm đầy hơi thượng vị sau ăn, ợ hơi và buồn nôn; nôn ói dai dẳng có thể gợi ý chẩn đoán khác; ợ nóng không phải là triệu chứng khó tiêu nhưng có thể hiện diện đồng thời; cơn đau không đáp ứng tiêu chí của đau đường mật; các triệu chứng được giảm khi đại tiện hoặc xì hơi nói chung không được cân nhắc là một phần của khó tiêu; và các triệu chứng tiêu hóa khác (ví dụ GERD và IBS) có thể đồng mắc với EPS.

Khó tiêu chức năng kháng trị

Khó tiêu chức năng kháng trị là tình trạng các triệu chứng tồn tại ≥8 tuần dù đã dùng ≥2 loại thuốc sau khi đã loại trừ các bệnh khác hoặc nguyên nhân thực thể. Bệnh nhân không đáp ứng với điều trị ức chế acid ban đầu, thuốc tăng nhu động, thuốc chống trầm cảm, và điều trị tiệt trừ Helicobacter pylori.

Khó tiêu chức năng hậu nhiễm trùng

Khó tiêu chức năng hậu nhiễm trùng là một tình trạng bệnh lý riêng biệt xuất hiện sau viêm dạ dày ruột cấp. Các tác nhân gây bệnh liên quan đến triệu chứng khó tiêu chức năng hậu nhiễm trùng bao gồm Salmonella spp., Escherichia coli, Campylobacter jejuni, Giardia lamblia và norovirus. Bằng chứng đang nổi lên cho thấy mối liên quan tiềm ẩn giữa bệnh coronavirus 2019 (COVID-19) và sự phát triển khó tiêu chức năng.

Sàng lọc

Triệu chứng báo động

Cần nhận biết các triệu chứng gợi ý bệnh có biến chứng và chuyển bệnh nhân đi ngay để làm xét nghiệm chẩn đoán thêm, bao gồm: Xuất huyết tiêu hóa; khối u thượng vị; thiếu máu thiếu sắt không giải thích được; nôn ói dai dẳng; nuốt khó tiến triển; hình ảnh chụp dạ dày có thuốc cản quang có nghi ngờ; sụt cân không chủ ý; cảm giác no sớm; triệu chứng vào ban đêm dai dẳng; tiền sử gia đình mắc ung thư đường tiêu hóa trên; hạch to; vàng da; nuốt đau (odynophagia); và mới sử dụng thuốc kháng tiểu cầu, thuốc chống đông hoặc NSAID.