Tăng huyết áp trong thai kỳ Công cụ chẩn đoán

Cập nhật: 11 September 2025

Xét nghiệm và hỗ trợ chẩn đoán

Khảo sát tăng huyết áp mạn

Đánh giá người bệnh có tăng huyết áp trước khi mang thai để xác định mức độ nặng và hỗ trợ lập kế hoạch thay đổi lối sống và điều trị bằng thuốc nếu cần. Nếu xác nhận người phụ nữ bị tăng huyết áp, đặc biệt khi nặng, cần đánh giá các nguyên nhân có thể hồi phục. Phụ nữ có tiền sử tăng huyết áp nhiều năm nên được đánh giá tổn thương cơ quan đích.

Hypertension in Pregnancy_Diagnostics 1Hypertension in Pregnancy_Diagnostics 1


Các xét nghiệm nên được thực hiện, nếu trước đó chưa được làm hoặc chưa làm gần đây, để loại trừ nguyên nhân thứ phát, yếu tố nguy cơ và tổn thương cơ quan đích. Cần xét nghiệm công thức máu toàn bộ (CBC), số lượng tiểu cầu, tổng phân tích nước tiểu, xét nghiệm chức năng thận, đường huyết lúc đói, hồ sơ lipid (sau nhịn ăn 9–12 giờ), natri huyết thanh, kali huyết thanh, acid uric và men gan.

Hiện diện nguyên nhân thứ phát hoặc bằng chứng tổn thương cơ quan đích

Bệnh nhân nên được chuyển chuyên khoa và điều trị phù hợp nếu phát hiện nguyên nhân thứ phát của tăng huyết áp. Cần làm thêm xét nghiệm nếu phát hiện tổn thương cơ quan đích để đánh giá mức độ nặng.

Đánh giá thêm

Điều quan trọng là loại trừ tiền sản giật ở phụ nữ mang thai có tăng huyết áp. Các xét nghiệm sau được dùng để phân biệt tiền sản giật với tăng huyết áp mạn: CBC, số lượng tiểu cầu, tổng phân tích nước tiểu, phết máu, xét nghiệm đông máu, creatinin huyết thanh, acid uric, men gan, albumin huyết thanh, lactate dehydrogenase và độ bão hòa oxy.

Tất cả phụ nữ mang thai nên được kiểm tra protein niệu ở đầu thai kỳ để nhận diện bệnh thận có sẵn và ở nửa sau thai kỳ để sàng lọc tiền sản giật. Khuyến cáo thu thập nước tiểu 24 giờ, tuy nhiên các phương pháp khác vẫn được chấp nhận bao gồm que thử nước tiểu hoặc tỷ lệ protein/creatinin nước tiểu. Nghi ngờ protein niệu ở bệnh nhân có ≥1+ protein trên que thử nước tiểu và theo dõi bằng tỷ lệ protein/creatinin nước tiểu ở mẫu nước tiểu ngẫu nhiên. Xác nhận protein niệu bao gồm: ≥300 mg trong mẫu nước tiểu 24 giờ, tỷ lệ protein/creatinin ≥30 mg/mmol ở mẫu nước tiểu ngẫu nhiên, và tỷ lệ albumin/creatinin ≥8 mg/mmol hoặc ≥2+ protein trên que thử nước tiểu.

Các thăm dò chẩn đoán khác có thể cân nhắc ở bệnh nhân có nguy cơ phát triển tiền sản giật bao gồm siêu âm thai để đánh giá tình trạng phát triển thai và lượng nước ối, siêu âm tuyến thượng thận, định lượng phân đoạn metanephrin trong huyết tương và nước tiểu, siêu âm Doppler động mạch tử cung sau 20 tuần thai, và định lượng soluble fms-like tyrosine kinase-1 (sFlt-1)/yếu tố tăng trưởng nhau thai (PlGF) (dấu ấn tạo mạch). Xét nghiệm dựa trên PlGF có thể thực hiện từ 20–36 tuần thai để loại trừ tiền sản giật ở phụ nữ tăng huyết áp mạn nghi ngờ tiến triển tiền sản giật. Mất cân bằng tạo mạch (ví dụ giảm PlGF [<bách phân vị thứ 5 theo tuổi thai] hoặc tăng tỷ lệ sFlt-1/PlGF [>38]) gợi ý rối loạn chức năng tử cung–nhau thai. Tỷ lệ sFlt-1/PlGF ≥85 hoặc PlGF <12 pg/mL xác nhận tiền sản giật.

Hình ảnh học

Khảo sát tăng huyết áp mạn

Hypertension in Pregnancy_Diagnostics 2Hypertension in Pregnancy_Diagnostics 2


Để đánh giá tăng huyết áp mạn tính, có thể thực hiện chụp X-quang ngực và điện tâm đồ 12 chuyển đạo (ECG).