Tăng huyết áp trong thai kỳ Tổng quan về bệnh

Cập nhật: 11 September 2025

Giới thiệu

Định nghĩa tăng huyết áp dựa trên đo huyết áp tại phòng khám hoặc trong bệnh viện. Theo dõi huyết áp lưu động (ABPM) được ưu tiên hơn so với đo huyết áp thường quy trong việc dự đoán kết cục thai kỳ.

Tăng huyết áp trong thai kỳ được định nghĩa là HATT ≥140 mmHg hoặc HATTr ≥90 mmHg, hoặc cả hai, dựa trên ít nhất hai lần đo cách nhau ≥4 giờ. Chẩn đoán tăng huyết áp nặng được đưa ra khi HATT ≥160 mmHg và/hoặc HATTr ≥110 mmHg, và nhẹ khi huyết áp 140-159/90-109 mmHg. Nên lặp lại đo sau 15 phút để xác nhận tăng huyết áp nặng.

Dịch tễ học

Tăng huyết áp là tình trạng y khoa xuất hiện thường gặp nhất trong thai kỳ. Tỷ lệ hiện mắc ước tính của tăng huyết áp ở phụ nữ mang thai vào khoảng 6-8%. Tăng huyết áp mạn xuất hiện trong khoảng 1,5% các trường hợp mang thai. Phụ nữ mang thai bị tăng huyết áp có nguy cơ phát triển tiền sản giật cao gấp 5 lần. Tiền sản giật là yếu tố chính góp phần dẫn đến bệnh tật và tử vong ở thời kỳ mang thai và chu sinh. Ở các nước phát triển, tỷ lệ hiện mắc cao hơn, dao động khoảng 6% đến 8%.

Sinh bệnh học

Nguyên nhân chính xác của tiền sản giật và sản giật vẫn chưa được xác định; tuy nhiên, sinh bệnh học có liên quan đến các bất thường miễn dịch và tạo mạch trong nhau thai. Sự xâm nhập bất thường của nguyên bào nuôi vào các động mạch xoắn của màng rụng và cơ tử cung dẫn đến giảm tưới máu tử cung–nhau thai, gây thiếu máu cục bộ nhau thai và stress oxy hóa. Quá trình này góp phần dẫn đến sự phát triển không đầy đủ hệ mạch máu nhau thai và giải phóng các yếu tố tạo mạch vào tuần hoàn người mẹ, cuối cùng gây tăng huyết áp và protein niệu.

Yếu tố nguy cơ

Yếu tố nguy cơ của tiền sản giật

Hypertension in Pregnancy_Disease Background 1Hypertension in Pregnancy_Disease Background 1


Xác định người bệnh có nguy cơ và có huyết áp bình thường ở đầu thai kỳ để theo dõi chặt chẽ nhằm phòng ngừa tiền sản giật.

Nguy cơ trung bình đối với tiền sản giật được xác định khi có ≥2 yếu tố sau: mang thai lần đầu; tuổi người mẹ nằm ở hai đầu phổ tuổi sinh sản (<20 tuổi hoặc ≥40 tuổi); béo phì (chỉ số khối cơ thể [BMI] ≥35 kg/m2) tại lần khám đầu hoặc tăng cân quá mức >1 kg/tuần; tiền sử gia đình có tiền sản giật hoặc sản giật; khoảng cách giữa hai lần mang thai >10 năm; đa thai; và tiền sử nhau bong non, thai chậm tăng trưởng trong tử cung hoặc thai chết lưu không rõ nguyên nhân.

Nguy cơ cao đối với tiền sản giật được xác định khi có bất kỳ một trong các yếu tố sau: Tiền sử tiền sản giật hoặc sản giật; tăng huyết áp mạn; tiền sử tăng huyết áp ở lần mang thai trước xuất hiện trước tuần 34; các bệnh lý sẵn có (ví dụ đái tháo đường [ĐTĐ] típ 1 hoặc típ 2, bệnh mô liên kết, bệnh thận mạn, bệnh mạch máu thận hoặc nhu mô thận); bệnh tự miễn (ví dụ lupus ban đỏ hệ thống [SLE] hoặc hội chứng kháng phospholipid); và có sử dụng kỹ thuật hỗ trợ sinh sản trong thai kỳ hiện tại.

Yếu tố nguy cơ của tiền sản giật trên bệnh nền

Các yếu tố nguy cơ của tiền sản giật trên bệnh nền bao gồm suy thận; tiền sử tăng huyết áp >4 năm; tăng huyết áp trong thai kỳ trước; và ALT và AST tăng đến mức bất thường.

Phân loại

Các phân nhóm tăng huyết áp trong thai kỳ

Tuổi thai là yếu tố then chốt của phân loại rối loạn tăng huyết áp thai kỳ vì những thay đổi về mạch máu và huyết động làm huyết áp giảm trong giai đoạn đầu thai kỳ, đạt mức thấp nhất ở tam cá nguyệt thứ hai và trở về mức bình thường vào cuối tam cá nguyệt thứ ba.

Tăng huyết áp mạn (có từ trước thai kỳ)

Tăng huyết áp mạn được định nghĩa là đo huyết áp ≥140/90 mmHg ở hai thời điểm trước khi mang thai hoặc trước 20 tuần tuổi thai; thường kéo dài quá 6 tuần sau sinh. Có thể có protein niệu. Tăng nguy cơ dẫn đến tiền sản giật.

Tăng huyết áp thai kỳ

Tăng huyết áp thai kỳ là tình trạng phụ nữ trước đó có mức huyết áp bình thường nhưng xuất hiện tăng huyết áp sau 20 tuần tuổi thai, không kèm protein niệu hoặc tổn thương cơ quan đích. Tình trạng này có thể tương ứng với giai đoạn tiền protein niệu của tiền sản giật hoặc là tái phát của tăng huyết áp mạn đã thuyên giảm vào giữa thai kỳ. Đây là chẩn đoán hồi cứu nếu tiền sản giật không hiện diện tại thời điểm sinh và huyết áp trở về bình thường trong vòng 6 tuần sau sinh. Tình trạng này có thể tiến triển thành tiền sản giật. Tăng huyết áp thai kỳ thoáng qua thường được phát hiện tại phòng khám nhưng ổn định khi đo huyết áp lặp lại trong vài giờ; tình trạng này có 40% nguy cơ tiến triển thành tăng huyết áp thai kỳ thực sự hoặc tiền sản giật, do đó cần theo dõi chặt chẽ.

Tiền sản giật

Hypertension in Pregnancy_Disease Background 2Hypertension in Pregnancy_Disease Background 2


Tiền sản giật là thuật ngữ dùng để mô tả tình trạng xuất hiện tăng huyết áp mới khởi phát sau 20 tuần tuổi thai (tăng huyết áp thai kỳ), kèm theo một hoặc nhiều tiêu chí sau:
  • Protein niệu: Lượng protein niệu 24 giờ ≥300 mg, tỷ lệ protein/creatinin ≥30 mg/mmol, tỷ lệ albumin/creatinin ≥8 mg/mmol hoặc ≥2+ protein trên que nhúng nước tiểu
  • Rối loạn huyết học: Tán huyết, giảm tiểu cầu (số lượng tiểu cầu <100 × 109/L) hoặc rối loạn đông máu
  • Tổn thương gan: men gan tăng kèm hoặc không kèm đau thượng vị nặng hoặc đau hạ sườn phải
  • Dấu hiệu thần kinh: Đau đầu dữ dội, thay đổi tri giác, rối loạn thị giác kéo dài (ám điểm), mù lòa, tăng phản xạ kèm rung giật cơ (sản giật), hoặc đột quỵ
  • Suy thận: Thiểu niệu hoặc creatinin huyết thanh >1-1,1 mg/dL hoặc tăng gấp đôi nồng độ bình thường mà không có bệnh thận khác
  • Phù phổi
  • Rối loạn chức năng tử cung–nhau thai: Thai chậm tăng trưởng, nhau bong non, thai chết lưu, hoặc bất thường phân tích dạng sóng Doppler động mạch rốn
Sản giật

Hypertension in Pregnancy_Disease Background 3Hypertension in Pregnancy_Disease Background 3


Sản giật là biểu hiện co giật nặng của các rối loạn tăng huyết áp thai kỳ không do sử dụng thuốc, động kinh, xuất huyết nội sọ, hoặc thiếu máu cục bộ và nhồi máu động mạch não gây ra. Bệnh nhân bị tiền sản giật đột ngột xuất hiện các cơn co giật hoặc hôn mê. Tình trạng này có thể xảy ra mà không có dấu hiệu hoặc triệu chứng báo trước, và cả tiền sản giật lẫn sản giật đều có thể xảy ra trước, trong, hoặc sau khi chuyển dạ.

Tăng huyết áp trước sinh chưa phân loại được

Tăng huyết áp trước sinh chưa phân loại được là tình trạng tăng huyết áp được ghi nhận lần đầu sau 20 tuần tuổi thai, cần được đánh giá lại vào hoặc sau 6 tuần sau sinh để phân biệt giữa tăng huyết áp mạn và tăng huyết áp thai kỳ. Nếu huyết áp trở về bình thường, chẩn đoán được xếp lại thành tăng huyết áp thai kỳ; nếu tình trạng tiếp tục tăng, sẽ được phân loại lại là tăng huyết áp mạn.