Giám sát
NGỪNG ĐIỀU TRỊ
Hypertension in Pregnancy_Follow Up
Nếu huyết áp trước khi mang thai bình thường hoặc không rõ, ngừng thuốc điều trị tăng huyết áp 3-4 tuần sau khi sinh. Với bệnh nhân có rối loạn tăng huyết áp trong thai kỳ, cần đo huyết áp trong vòng 3-10 ngày sau khi xuất viện, kết hợp theo dõi huyết áp tại nhà. Theo dõi huyết áp mỗi 1 đến 2 tuần, sau đó mỗi 3 đến 6 tháng trong 1 năm. Sản phụ có tiền sử tăng huyết áp thai kỳ mà huyết áp trở về bình thường và không còn cần điều trị với thuốc hạ huyết áp, nên đo huyết áp ít nhất mỗi năm một lần. Bắt đầu điều trị nếu tăng huyết áp tái phát sau sinh.
Hypertension in Pregnancy_Follow UpNếu huyết áp trước khi mang thai bình thường hoặc không rõ, ngừng thuốc điều trị tăng huyết áp 3-4 tuần sau khi sinh. Với bệnh nhân có rối loạn tăng huyết áp trong thai kỳ, cần đo huyết áp trong vòng 3-10 ngày sau khi xuất viện, kết hợp theo dõi huyết áp tại nhà. Theo dõi huyết áp mỗi 1 đến 2 tuần, sau đó mỗi 3 đến 6 tháng trong 1 năm. Sản phụ có tiền sử tăng huyết áp thai kỳ mà huyết áp trở về bình thường và không còn cần điều trị với thuốc hạ huyết áp, nên đo huyết áp ít nhất mỗi năm một lần. Bắt đầu điều trị nếu tăng huyết áp tái phát sau sinh.
Biến chứng
TĂNG HUYẾT ÁP HẬU SẢN
Cần lưu ý
Tăng huyết áp hậu sản thường gặp nhất ở phụ nữ có rối loạn tăng huyết áp trước khi sinh nhưng cũng có thể mới xuất hiện sau khi sinh. Theo dõi huyết áp sau sinh vì huyết áp đạt giá trị cao nhất vào khoảng ngày thứ 3-7 sau khi sinh; thực hiện thăm khám hậu sản sớm trong vòng 7-14 ngày sau khi sinh. Đo huyết áp trong vòng 6 giờ sau khi sinh; theo dõi và kiểm soát huyết áp nên tiếp tục đến 6 tuần sau sinh. Huyết áp cao thường lui nhanh hơn ở bệnh nhân tăng huyết áp thai kỳ. Có thể chậm lui ở bệnh nhân bị tiền sản giật, đặc biệt ở những người có thời gian tiền sản giật dài hơn và suy thận nặng hơn. Nguy cơ cao nhất xảy ra sản giật hậu sản là trong 48 giờ đầu.
Biến chứng có thể gặp
Phụ nữ vẫn còn tăng huyết áp sau khi sinh có thể gặp biến chứng (ví dụ bệnh não, suy tim, phù phổi và suy thận sau sinh).
Điều trị
Magiê sulfat có thể được tiếp tục điều trị 12–24 giờ sau khi sinh hoặc lâu hơn để phòng ngừa sản giật sau sinh. Tiếp tục điều trị bằng thuốc hạ huyết áp đường uống đã dùng trước khi sinh ở những trường hợp tăng huyết áp nặng sau sinh để duy trì huyết áp dưới 160/110 mmHg và ở những trường hợp tăng huyết áp sau sinh không nặng nhưng có bệnh đi kèm. Đối với tăng huyết áp sau sinh không biến chứng (6 tuần đầu sau sinh), sử dụng labetalol hoặc nifedipine; có thể dùng metoprolol nếu không có labetalol. Trong trường hợp tăng huyết áp nặng, cấp tính sau sinh, có thể dùng labetalol, nifedipine và hydralazine. Có thể giảm liều thuốc hạ huyết áp nếu huyết áp giảm <130/80 mmHg. Ở những phụ nữ chưa được điều trị bị tăng huyết áp thai kỳ hoặc tiền sản giật, có thể bắt đầu điều trị hạ huyết áp sau khi sinh nếu huyết áp ≥150/100 mmHg.
Điều trị tăng huyết áp trong giai đoạn cho con bú
Khuyến khích cho con bú, vì lượng thuốc hạ huyết áp đi vào cơ thể trẻ rất nhỏ và khó có khả năng gây tác dụng lâm sàng. Bệnh nhân nên theo dõi con của họ về các dấu hiệu bú kém, xanh xao, buồn ngủ, lừ đừ hoặc lạnh đầu chi.
Tăng huyết áp nhẹ
Đối với những bà mẹ muốn cho con bú trong vài tháng, có thể tạm ngừng thuốc và theo dõi huyết áp chặt chẽ, sau đó dùng lại điều trị khi ngừng cho con bú.
Tăng huyết áp nặng
Cân nhắc giảm liều thuốc hạ huyết áp kèm theo dõi chặt chẽ mẹ và trẻ hoặc sử dụng các thuốc hạ huyết áp có liều dùng 1 lần/ngày. Nếu có chỉ định dùng thuốc chẹn β, ưu tiên labetalol; cũng có thể ưu tiên thuốc chẹn kênh canxi tác dụng kéo dài. Enalapril cũng có thể được cân nhắc sử dụng, đồng thời theo dõi chức năng thận của mẹ và kali huyết thanh. Nếu cần phối hợp thuốc, cân nhắc amlodipine phối hợp enalapril; cân nhắc thêm hoặc thay thế một trong các thuốc sang labetalol nếu phối hợp này không hiệu quả hoặc không dung nạp.
Nên tránh dùng các thuốc sau: ARB; acebutolol, atenolol, metoprolol, nadolol, propranolol và nifedipine có đi vào sữa mẹ; thuốc lợi tiểu làm giảm lượng sữa và ức chế tiết sữa; và mặc dù methyldopa có thể dùng khi cho con bú, khuyến cáo tránh dùng trong giai đoạn sau sinh (ngừng trong vòng 2 ngày sau sinh) do nguy cơ trầm cảm sau sinh.
Cần lưu ý
Tăng huyết áp hậu sản thường gặp nhất ở phụ nữ có rối loạn tăng huyết áp trước khi sinh nhưng cũng có thể mới xuất hiện sau khi sinh. Theo dõi huyết áp sau sinh vì huyết áp đạt giá trị cao nhất vào khoảng ngày thứ 3-7 sau khi sinh; thực hiện thăm khám hậu sản sớm trong vòng 7-14 ngày sau khi sinh. Đo huyết áp trong vòng 6 giờ sau khi sinh; theo dõi và kiểm soát huyết áp nên tiếp tục đến 6 tuần sau sinh. Huyết áp cao thường lui nhanh hơn ở bệnh nhân tăng huyết áp thai kỳ. Có thể chậm lui ở bệnh nhân bị tiền sản giật, đặc biệt ở những người có thời gian tiền sản giật dài hơn và suy thận nặng hơn. Nguy cơ cao nhất xảy ra sản giật hậu sản là trong 48 giờ đầu.
Biến chứng có thể gặp
Phụ nữ vẫn còn tăng huyết áp sau khi sinh có thể gặp biến chứng (ví dụ bệnh não, suy tim, phù phổi và suy thận sau sinh).
Điều trị
Magiê sulfat có thể được tiếp tục điều trị 12–24 giờ sau khi sinh hoặc lâu hơn để phòng ngừa sản giật sau sinh. Tiếp tục điều trị bằng thuốc hạ huyết áp đường uống đã dùng trước khi sinh ở những trường hợp tăng huyết áp nặng sau sinh để duy trì huyết áp dưới 160/110 mmHg và ở những trường hợp tăng huyết áp sau sinh không nặng nhưng có bệnh đi kèm. Đối với tăng huyết áp sau sinh không biến chứng (6 tuần đầu sau sinh), sử dụng labetalol hoặc nifedipine; có thể dùng metoprolol nếu không có labetalol. Trong trường hợp tăng huyết áp nặng, cấp tính sau sinh, có thể dùng labetalol, nifedipine và hydralazine. Có thể giảm liều thuốc hạ huyết áp nếu huyết áp giảm <130/80 mmHg. Ở những phụ nữ chưa được điều trị bị tăng huyết áp thai kỳ hoặc tiền sản giật, có thể bắt đầu điều trị hạ huyết áp sau khi sinh nếu huyết áp ≥150/100 mmHg.
Điều trị tăng huyết áp trong giai đoạn cho con bú
Khuyến khích cho con bú, vì lượng thuốc hạ huyết áp đi vào cơ thể trẻ rất nhỏ và khó có khả năng gây tác dụng lâm sàng. Bệnh nhân nên theo dõi con của họ về các dấu hiệu bú kém, xanh xao, buồn ngủ, lừ đừ hoặc lạnh đầu chi.
Tăng huyết áp nhẹ
Đối với những bà mẹ muốn cho con bú trong vài tháng, có thể tạm ngừng thuốc và theo dõi huyết áp chặt chẽ, sau đó dùng lại điều trị khi ngừng cho con bú.
Tăng huyết áp nặng
Cân nhắc giảm liều thuốc hạ huyết áp kèm theo dõi chặt chẽ mẹ và trẻ hoặc sử dụng các thuốc hạ huyết áp có liều dùng 1 lần/ngày. Nếu có chỉ định dùng thuốc chẹn β, ưu tiên labetalol; cũng có thể ưu tiên thuốc chẹn kênh canxi tác dụng kéo dài. Enalapril cũng có thể được cân nhắc sử dụng, đồng thời theo dõi chức năng thận của mẹ và kali huyết thanh. Nếu cần phối hợp thuốc, cân nhắc amlodipine phối hợp enalapril; cân nhắc thêm hoặc thay thế một trong các thuốc sang labetalol nếu phối hợp này không hiệu quả hoặc không dung nạp.
Nên tránh dùng các thuốc sau: ARB; acebutolol, atenolol, metoprolol, nadolol, propranolol và nifedipine có đi vào sữa mẹ; thuốc lợi tiểu làm giảm lượng sữa và ức chế tiết sữa; và mặc dù methyldopa có thể dùng khi cho con bú, khuyến cáo tránh dùng trong giai đoạn sau sinh (ngừng trong vòng 2 ngày sau sinh) do nguy cơ trầm cảm sau sinh.
