Tăng huyết áp trong thai kỳ Đánh giá ban đầu

Cập nhật: 11 September 2025

Tiền sử

Khai thác tiền sử tăng huyết áp và/hoặc tiền sản giật trong các lần mang thai trước. Ghi nhận mọi bệnh lý đi kèm có thể làm tăng nguy cơ tăng huyết áp, như ĐTĐ, bệnh thận hoặc rối loạn tự miễn. Đánh giá các triệu chứng liên quan bao gồm buồn nôn hoặc nôn, mệt mỏi khó chịu, đau đầu, rối loạn thị giác, phù xuất hiện đột ngột, đau ngực, khó thở và thay đổi lượng nước tiểu.

Khám thực thể

Khám thai

Đo huyết áp lâm sàng

Hypertension in Pregnancy_Initial Assesment 1Hypertension in Pregnancy_Initial Assesment 1


Bệnh nhân nên ngồi yên tĩnh ít nhất 5 phút trên ghế, chân đặt trên sàn và cánh tay được đặt ngang mức tim trước khi đo huyết áp (hoặc nằm nghiêng trái trong khi chuyển dạ). Băng quấn có kích thước phù hợp cần được đặt ngang mức tim của bệnh nhân và không đặt đè lên bất kỳ lớp quần áo nào. Sử dụng sự xuất hiện âm Korotkoff pha I cho huyết áp tâm thu và mất âm pha V cho huyết áp tâm trương để xác định huyết áp. Cần lưu ý sự khác biệt huyết áp giữa hai tay, và cánh tay luôn có số đo cao hơn sẽ được dùng cho tất cả các lần đo huyết áp về sau. Bảo đảm các thiết bị sử dụng đã được hiệu chuẩn chuyên nghiệp, đặc biệt là trong trường hợp mang thai và tiền sản giật.

Chẩn đoán & Tiêu chuẩn chẩn đoán

Tiền sản giật/Sản giật

Tiền sản giật hoặc sản giật luôn tiềm ẩn nguy hiểm cho mẹ và thai nhi; do đó, phòng ngừa phụ thuộc vào xác định nhóm phụ nữ có nguy cơ cao. Cân nhắc cho bệnh nhân nhập viện nếu có lo ngại về mặt lâm sàng và để theo dõi lâm sàng cũng như xét nghiệm, nhằm phát hiện sớm và khởi trị hoặc chấm dứt thai kỳ khi có chỉ định.

Phân nhóm tiền sản giật
  • Khởi phát sớm: Sinh ở tuổi thai <34 tuần + 0 ngày
  • Sinh non: Sinh ở tuổi thai <37 tuần + 0 ngày
  • Khởi phát muộn: Sinh ở tuổi thai ≥34 tuần + 0 ngày
  • Đủ tháng: Sinh ở tuổi thai ≥37 tuần + 0 ngày
Tiêu chuẩn chẩn đoán tiền sản giật

Hypertension in Pregnancy_Initial Assesment 2Hypertension in Pregnancy_Initial Assesment 2
  • Tăng huyết áp sau 20 tuần thai kèm protein niệu HOẶC
  • Tăng huyết áp mới khởi phát kèm khởi phát mới của bất kỳ biểu hiện nào sau đây, ngay cả khi không có protein niệu:
    • Giảm tiểu cầu
    • Tăng nồng độ transaminase gan gấp đôi giá trị bình thường
    • Đau đầu mới khởi phát không đáp ứng với thuốc và không giải thích được bởi nguyên nhân khác, hoặc có các triệu chứng thị giác
    • Suy thận
    • Phù phổi
Các phát hiện hỗ trợ chẩn đoán tiền sản giật nặng

Một hoặc nhiều tiêu chí sau:
  • HATT ≥160 mmHg và/hoặc HATTr ≥110 mmHg ở hai lần đo cách nhau ít nhất 4 giờ trong lúc nghỉ tại giường
  • Đau thượng vị dữ dội hoặc đau hạ sườn phải kéo dài, không đáp ứng với thuốc
  • Đau đầu mới khởi phát hoặc kéo dài, hoặc rối loạn thần kinh trung ương hoặc có triệu chứng thị giác khác
  • Phù phổi và/hoặc suy tim sung huyết
  • Tiểu cầu <100.000 tế bào/mm3 hoặc thiếu máu tán huyết vi mạch (kèm tăng lactate dehydrogenase)
  • Tăng men gan (AST hoặc ALT) ≥2 lần giới hạn trên của mức bình thường
  • Hội chứng HELLP (tán huyết, tăng men gan, giảm tiểu cầu)
  • Protein niệu mức độ nặng và thiểu niệu <500 mL/ngày
  • Creatinin huyết thanh >1,1 mg/dL hoặc tăng gấp đôi nồng độ bình thường trong trường hợp không có bệnh thận khác
Tiền sản giật trên nền tăng huyết áp mạn

Tiền sản giật trên nền tăng huyết áp mạn còn gọi là tăng huyết áp có sẵn, kèm tăng huyết áp thai kỳ và protein niệu. Chẩn đoán dựa trên các xét nghiệm nêu trên và nên sử dụng để phân biệt giữa tiền sản giật trên bệnh lý nền và tăng huyết áp mạn tiến triển. Điều này đề cập đến bệnh nhân có tăng huyết áp có sẵn hoặc tăng huyết áp mạn kèm bất kỳ tiêu chí nào sau đây:
  • Protein niệu mới khởi phát (≥3 g/24 giờ) xuất hiện khi >20 tuần thai
  • Protein niệu khi <20 tuần thai và tiến triển nặng
  • Tăng đột ngột huyết áp trước đó kiểm soát tốt
  • Giảm tiểu cầu
  • Tăng men gan
  • Xuất hiện các đặc điểm của tiền sản giật/sản giật
Tiền sản giật không điển hình

Tiền sản giật không điển hình có các dấu hiệu và triệu chứng sớm của tiền sản giật–sản giật xảy ra ở <20 tuần thai. Đây cũng có thể là tiền sản giật–sản giật hậu sản khởi phát muộn, xuất hiện >48 giờ sau sinh.

Tăng huyết áp thai kỳ được chẩn đoán khi có ≥1 trong các tiêu chí sau: triệu chứng tiền sản giật; tán huyết; tăng men gan (AST hoặc ALT) gấp 2 lần giới hạn trên của mức bình thường; và giảm tiểu cầu <100.000/mm3.

Protein niệu thai kỳ được chẩn đoán khi có ≥1 trong các tiêu chí sau: triệu chứng tiền sản giật; tán huyết; tăng men gan; và giảm tiểu cầu.

Tiền sản giật sinh non

Sàng lọc tất cả phụ nữ mang thai trong tam cá nguyệt thứ nhất để phát hiện tiền sản giật sinh non dựa trên: đặc điểm người mẹ (ví dụ: tuổi người mẹ cao, béo phì, sắc tộc Nam Á, tiền sử hút thuốc, tiền sử gia đình có tiền sản giật), tiền sử sản khoa (con so, tiền sử tiền sản giật, khoảng cách giữa các lần mang thai ngắn và dài, tuổi thai lúc sinh và cân nặng thai của lần mang thai trước lúc >24 tuần, phương pháp tránh thai, hoặc sử dụng kỹ thuật hỗ trợ sinh sản) và tiền sử bệnh (ví dụ tăng huyết áp mạn, ĐTĐ, bệnh thận, SLE, hội chứng kháng phospholipid); huyết áp trung bình; chỉ số xung động mạch tử cung; và yếu tố tăng trưởng nhau thai (PlGF). Xét nghiệm ban đầu trong bối cảnh nguồn lực hạn chế hoặc tại cơ sở chăm sóc ban đầu nên bao gồm các yếu tố nguy cơ của mẹ và huyết áp trung bình.